Tín hiệu thẩm mĩ Trái tim trong thơ trữ tình - tình yêu Tagore qua tập thơ Tâm tình hiến dâng

  • Số trang: 31 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 76 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B A. PHẦN MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Gần đây, khái niệm THTM, một phương diện của vấn đề tín hiệu học trong ngôn ngữ học đang rất được quan tâm. Nhiều học giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu đến nú. Đó cú một số đề tài nghiên cứu sinh vận dụng khái niệm THTM vào nghiên cứu văn học. Song đây là bước đầu, việc vận dụng này mới chỉ trong ca dao và ngay cả ở ca dao, cũng chỉ có một số THTM được nghiên cứu. Do đó, vấn đề vận dụng lí thuyết về THTM vẫn còn rất mới mẻ, cần được triển khai mở rộng trong lĩnh vực của văn học hơn nữa. 2. Đề tài của tôi tiếp tục đi theo hướng đó nhưng có nột khác là: nghiên cứu THTM “Trái tim” trong thơ R.Tagore qua tập thơ “Tâm tình hiến dâng”(bản dịch của Đỗ Khánh Hoan, Nxb Văn học, 2004) - một trong những tập thơ tình được đánh giá là hay nhất của nhà thơ Ấn Độ này. THTM “ Trái tim” sẽ là chiếc chìa khoỏ giúp ta giải mã những quan niệm, những triết lý của Tagore về tình yêu. 3. Việc trang bị những tri thức và phương pháp nghiờn cứu về THTM đối với người giáo viên rất cần thiết, nhất là trong tình hình phải đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trường hiện nay. Vì những lẽ đó chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Tín hiệu thẩm mĩ “Trái tim” trong thơ trữ tình - tình yêu Tagore qua tập thơ “Tâm tình hiến dõng”. II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ. 1. Chúng tôi đặc biệt lưu ý đến những công trình nghiên cứu vận dụng khái niệm THTM vào phân tích văn học. Đó là những luận án, luận văn: “Khảo sát cỏc nột nghĩa biểu trưng của cá từ chỉ hiện tượng thiên nhiên - khí tượng Mưa - Nắng - Gió trong ca dao và thơ Nguyễn Trãi” của Đinh Văn Thiện, “Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các THTM – không gian trong ca dao” của Trương Thị Nhàn. Có thể nói đây là những công trình nghiên cứu có giá trị, đã mở ra mét hướng tiếp cận mới đối với các tác phẩm văn chương: tiếp cận từ phương diện THTM. 1 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B 2. Rabin dranath Tagore (1861-1941) là hiện tượng kiệt xuất của văn học Ên Độ thế kỉ XX, đã có biết bao danh hiệu cao quý của Ên Độ và thế giới trao tặng cho ông. Tên của R. Tagore đồng nghĩa với đỉnh cao của văn học Bengal quê hương ông: “Tagore hoà hợp ngôn ngữ và tâm hồn Bengal với tinh hoa của nhân loại như hoa sen nở thơm ngát trong ánh bình minh”. Tagore được coi là biểu tượng của văn hoá Ên Độ, là “Một tổng hợp thiên tài kì diệu của văn học  n Độ từ Upanishad, qua tài liệu Phật Giáo đến Kalidasa” (Cheliep - nhà Ân Độ học người Liên Xô cũ), là “ngôi sao sáng của  n Độ phục hưng” (J.Nehru). Thiên tài R.Tagore bao trùm hầu hết mọi lĩnh vực văn học nghệ thuật. Cây bút của ông tung hoành trong nhiều thể tài văn học và mặt nào cũng đạt đến đỉnh cao.Giải Nobel văn học dành cho “Thơ Dâng” (Gitanjali, 1913) đã khẳng định Tagore với tư cách là một nhà thơ lớn của Ên Độ và thế giới, là một trong mười nhà thơ lớn của thế kỉ, là “kì công thứ hai của tạo hoá” sau Kalidasa (Hoàng đế thơ Ân Độ, sống dưới triều đại Gupta 320-530). Sự nghiệp của R.Tagore đã thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của không Ýt độc giả và giới nghiên cứu khoa học nhân văn ở Ân Độ và nhiều nước trên thế giới. Qua những tài liệu hiện có, chúng tôi tạm phân việc nghiên cứu thơ Tagore thành hai mảng tư liệu: Ở Ân Độ và phương Tây: Năm 1873, khi mới 13 tuổi, R.Tagore có trường ca “Bông hoa rừng” dài 1600 dòng thơ viết bằng ngôn ngữ Bengali. Trường ca được in rải rác trên các tạp chí và được giới phê bình Ên Độ đánh giá là chịu sự ảnh hưởng của Shelley (1792 - 1822) - nhà thơ lãng mạn Anh. Năm 1913, tập “Thơ Dâng” (Gitanjali) gồm 103 bài thơ do Tagore tuyển chọn và tự dịch sang tiếng Anh đã được trao giải thưởng Nobel văn chương. Đây là sự khởi đầu vinh quang của nhà thơ trên toàn thế giới. Và cũng từ đây, sự nghiệp thơ ca của Tagore thu hút được sự chú ý mạnh mẽ của các nhà nghiên cứu ở Âu-Mĩ, trước hết là ở Anh, sau đó là Mĩ, Pháp, Nga (Liên Xô cũ)… 2 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B - Ở Anh: Lời giới thiệu nổi tiếng của W. B. Yeats về tập “Thơ Dâng” (1912), giới thiệu nó ứng cử giải Nobel 1913. - Ở Pháp: Bản dịch “Thơ Dâng” của Andre Gide (1860-1951) đã được tái bản 107 lần. - Ở Liên Xô cũ: Thơ Tagore được dịch và giới thiệu qua nhiều thứ tiếng. Những năm 80 của thế kỉ XX, “Thơ Dâng” được tái bản 40 lần. Cuốn giáo trình: “ Văn học phương Đông thời đại mới” của đại học Tổng hợp Matxcơva 1975 do Ev. Paepxki biên soạn ở chương III, phần viết về Tagore gồm 22 trang, đã dành cho Tagore những lời nhận xét khái quát theo hướng ngợi ca. Tuyển tập R.Tagore gồm 4 tập với hơn 2000 trang, trong đó tập I là phần tuyển thơ, NXB Văn học nghệ thuật Maxcơva, 1981 với lời giới thiệu dài 28 trang của E.Kômarôp: “Tagor-nhà nhân đạo vĩ đại Ên Độ”. E.Kômarôp đã chỉ ra đề tài cơ bản, tư tưởng đặc trưng của thơ Tagore (tiêu biểu là thơ trữ tình - tình yêu) và những thủ pháp nghệ thuật đặc trưng như: tượng trưng, biểu tượng, kết cấu trần thuật … Các bài báo, ý kiến nhận xét, đánh giá đáng chú ý trong những công trình nghiên cứu của các nhà thơ, các nhà nghiên cứu trên thế giới về Tagore: “Lịch sử văn minh  n Độ” - Will Durant, “Cảm tưởng  n Độ” - I.Ehrenburg, “Ảnh hưởng của R. Tagore đối với thơ ca hiện đại  n Độ”- V.K.Gokak, “Lời đánh giá Thơ Dâng”- W.B.Yeats… Những tìm hiểu, phát hiện, đánh giá này đã khái quát sự nghiệp thơ Tagore, trong đó tập trung nhiều nhất vào “Thơ Dâng” - Tập thơ trữ tình triết lý được giải thưởng Nobel năm 1913. Trong cuốn “Tự thuật” (M. Gandhi) có viết: “Tác phẩm của Tagore nhất là thi ca vẫn còn sống mãi trong tâm hồn nhân loại đang chiến đấu cho một thế giới đại đồng. Chúng ta phải lấy làm vinh dù khi nhắc tới Tagore không chỉ bây giờ mà còn về mai hậu nữa”. 3 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B Với tựa đề “Tagore với chúng tôi”, cuốn sách “Mười nhà thơ thế kỉ” của Nira Chandhuri đã khẳng định: “Thơ Tagore là thơ tôn giáo, nhưng là tôn giáo của con người”, là thơ nói về tình yêu Chúa. Ở Việt Nam: Việc nghiên cứu Tagore đang còn mới mẻ và chưa nhiều. R.Tagore được biết đến ở Việt Nam từ 1924, qua một số bài báo ngắn đăng trên “Nam Phong tạp chí” các số 84, 85, 86 như: “Nhà đại thi sĩ  n Độ - R. Tagore” của Trương Thúc Đình; “Ông Tagore đối với văn minh Thái - Tây” của Maurice Croiset (Hoa Đường dịch), … Đây là những bài báo xuất hiện sớm, nhưng là các bài báo có tính chất nhận xét chung về cuộc đời, sự nghiệp sáng tác văn học nghệ thuật của Tagore và đả kích tinh thần chống Đế quốc của ông. Năm 1924, trong chuyến đi vòng quanh thế giới Tagore đã ghé thăm Việt Nam trên chiếc tàu Angers ngày 21/06/1929 tại Sài Gòn. Các báo chí ở Sài Gòn đã đăng tải những bài giới thiệu về cuộc đời, tư tưởng và sự nghiệp văn học của Tagore và chọn dịch những bài thơ tiêu biểu trong “Thơ Dâng” , “Người làm vườn”, “Trăng non”… - Báo “Phụ nữ Tân văn” sè 9 (4/7/1929) trích dịch bài 27 và 31 là 2 bài thơ hay trong “Người làm vườn” từ tiếng Pháp, theo thể văn xuôi, cùng lời nhận xét: “Dệt vải chắc là thi sĩ không sành , chớ dệt lên những câu cẩm tú thì hay lắm, khéo cho đổi ông là người á Đông lần thứ nhất được phần thưởng Nobel. - Bách khoa sè 56, 57/1959, bài kí sự của Đông Hồ: “Thư kí viện hàn lâm  n Độ K.E. Kripalani tiếp xúc với thi sĩ Đông Hồ để hỏi về kỉ niệm thi hào R.Tagore”. Nhà thơ Đông Hồ đã ghi lại những cảm xúc chân thành, sự quý trọng và ngưỡng mộ của ông đối với Tagore, đồng thời nêu bật nét đặc trưng thơ Tagore là nhạc điệu: “Thơ Tagore là nhạc, mỗi bài thơ là một bản nhạc… Tagore muốn làm thơ bắt đầu thử ghi nhận âm điệu trước rồi mới tìm lời nh là nhạc sĩ phổ nhạc”. 4 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B Trước 1975, ở miền Nam, các tập thơ tiêu biểu của Tagore được dịch và giới thiệu khá rộng rãi. Các dịch giả: Phạm Hồng Dung, Phạm Bích Thuỷ (“Trăng non”), Đỗ Khánh Hoan (“Tâm tình hiến dâng”, “Lời Dâng”, “Tặng vật”). Cả 4 tập thơ này được tái bản tại Nxb Đà Nẵng. Trong lời giới thiệu tập “Trăng non”, dịch giả Phạm Hồng Dung, Phạm Bích Thuỷ đã khẳng định sự nghiệp thơ ca là đồ sộ, vĩ đại hơn cả trong gia tài văn học nghệ thuật của Tagore. “Thơ Tagore là tiếng hát Đông phương bất tuyệt, là linh hồn của châu Á bình dị, mênh mang, là nỗi khắc khoải, là niềm hoan lạc đời đời của cuộc sống”. Trong lời giới thiệu tập thơ “Tặng vật”, dịch giả Đỗ Khánh Hoan đưa ra nhận xét: “Thơ Tagore là sự kết hợp tài tình hai luồng tư tưởng Đông - Tây với những rung động tinh tế trẻ trung”. Những năm 60 của thế kỉ XX, đặc biệt từ 1961, điểm mốc quan trọng đánh dấu sự khởi đầu của quá trình nghiên cứu, giới thiệu về Tagore ở Việt Nam. Kỉ niệm 100 năm ngày sinh Tagore, ở miền Bắc, nhiều tác phẩm thơ, kịch, truyện ngắn của ông được giới thiệu qua bản dịch của nhà nghiên cứu Ên Độ: Cao Huy Đình, Xuân Diệu, La Côn, Yến Lan, Đào Xuân Quý… Bên cạnh hình thức thơ - văn xuôi, các dịch giả còn sử dụng thể thơ tự do để dịch thơ của Tagore và nhiều bài đã được đưa vào giảng dạy trong SGK phổ thông, giáo trình đại học, tài liệu tham khảo. Năm 1984, GS. Lưu Đức Trung cho xuất bản cuốn giáo trình “Văn học Ên Độ”-Nxb Giáo Dục. Năm 1989, lại xuất bản cuốn “Văn học Ên Độ - Lào Campuchia”. Năm 1997, cuốn “Văn học Ên Độ” được tái bản có bổ sung, chỉnh lý. Đây là cuốn giáo trình dành cho bậc Cao đẳng, Đại học S Ph¹m, Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã xem xét thơ Tagore như là một trọng tâm học tập, giảng dạy và nghiên cứu. Luận án Tiến sĩ “Chất trí tuệ trong thơ Tagore” (1983) của Trương Huệ Chi đã coi chất trí tuệ là một trong những nét nổi bật của hình tượng thơ Tagore. 5 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B Đồng thời khẳng định: “Thơ Tagore là thơ tình tư tưởng, chứ không phải là thơ tôn giáo, siêu hình , thần bí”. Luận án Thạc sĩ “Tìm hiểu thi pháp tượng trưng trong thơ Tagore”, 1984 của Lê Minh Thanh cho rằng: “Tượng trưng là thư pháp nghệ thuật hữu hiệu để Tagore miêu tả hiện thực”. Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết chuyển tải trên các tạp chí chuyên ngành, các báo diễn đàn, hội thảo, kỉ yếu khoa học như: “120 năm Tagore đã ra đời” (Xuân Diệu - báo Nhân dân, 08/05/1981) nhận xét về nhạc điệu thơ Tagore là nhạc điệu du dương, trầm bổng, triết lý. “Trong khi đọc Người làm vườn tình ái” (Xuân Diệu - Báo Văn nghệ số 21, ngày 14/05/1981) khẳng định: Tagore là thi sĩ của tình yêu, luôn khát khao hướng tới cái vô biên tuyệt đích, đã đi tìm chân lý tình yêu cuộc sống ngay trong thực tại. “Tagore-nhà thơ trí tuệ muôn màu” (Đào Xuân Quý-báo Văn nghệ số 21,1981) nhận định: Chất trí tuệ trong thơ Tagore là sự sáng tạo độc đáo các hình tượng thơ. “Tinh thần nhân đạo chủ nghĩa trong thơ Tagore” (Cao Xuân Đỉnh, 1985, Tạp chí Văn học số 8): Tagore đưa ra định nghĩa riêng về tình yêu, thể hiện truyền thống Ân Độ, vừa là sự cách tân của thơ lãng mạn phương Tây tình yêu lứa đôi là tình yêu cuộc đời Mỗi bài viết có cách phân tích, đánh giá khác nhau nhưng đều thống nhất ở chủ đề: Trái tim tình yêu là những ước mơ, khát khao muốn được hiến dâng và tìm hiểu. Như vậy, qua phần nghiên cứu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy: sự nghiệp thơ ca của Tagore, đặt trong tổng thể sự nghiệp văn học nói chung, được các nhà Ên Độ học, các học giả trên thế giới xem xét, đánh giá từ nhiều góc độ nhưng mới chỉ dừng lại ở những lời giới thiệu, những đánh giá chung hơn là chuyên sâu ở từng mảng nội dung. Vấn đề các nhà nghiên cứu quan tâm chủ yếu tập trung ở giá trị nội dung tư tưởng và cảm hứng Tôn giáo trong các tập thơ của Tagore chứ chưa có những công trính nghiên cứu riêng về loại thơ trữ tình - tình 6 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B yêu của Tagore dưới góc độ THTM. Vì vậy, thơ Tagore vẫn mãi là một niềm hấp dẫn đối với giới nghiên cứu và đông đảo bạn đọc khắp nơi trên thế giới. 7 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI KHỐI LIỆU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU. 1. Đối tượng nghiên cứu: THTM được sử dụng trong các tác phẩm văn học thuộc mọi thể loại, ở mọi thời kì. Chuyên đề này chỉ nghiờn cứu chúng trong thơ trữ tình - tình yêu Tagore. Bên cạnh đú, cỏc TH từ hiện thực có rất nhiều loại để trở thành THTM. Vì thế, chuyên đề của chúng tôi chỉ nghiên cứu THTM “Trái tim” trong tập “Tâm tình hiến dâng” của Tagore vì phạm vi của chuyên đề không cho phép đi sâu. 2. Phạm vi khối liệu nghiên cứu Trong chuyên đề này chúng tôi chỉ khảo sát thơ trữ tình - tình yêu của Tagore trong tập “Tâm tình hiến dâng”(gồm 85 bài). Ngoài ra, để đối chiếu và so sánh, chúng tụi còn khảo sát các tập thơ khác của Tagore như tập “Tặng vật” và thơ của các tác giả khác như: Puskin, H. Heine… 3. Nhiệm vụ nghiên cứu. 3.1 Hệ thống hóa, bổ xung thờm cỏc ý kiến về THTM có trong một số công trinh nghiên cứu. 3.2 Vận dụng cỏc lớ thuyết về THTM vào miêu tả các THTM bắt nguồn từ hiện thực cả về hình thức mà quan trọng nhất là về YNTM để từ đó tìm hiểu các THTM đã phục vụ như thế nào cho những đặc tính chung về tư tưởng nghệ thuật, về phong cách của cỏi Tụi trữ tình Tagore. 3.3 Dựa trên những kết quả đã nghiên cứu, chúng tôi muốn gợi ra một phương hướng vận dụng lí thuyết về THTM vào phân tích thơ trữ tình - tình yêu Tagore, nhất là THTM “Trái tim” trong tập “ Tâm tình hiến dâng”. 4. Phương pháp nghiên cứu: 4.1 Trên cơ sở tổng hợp những ý kiến của tác giả về những vấn đề lý thuyết mới của ngôn ngữ học hiện đại, những thành tựu của những liên ngành nghiên cứu về ngôn ngữ trong tác phẩm văn học, chúng tôi cố gắng phác họa một cách hiểu về THTM, cách tiếp cận một THTM trong văn học. 8 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B 4.2 Chúng tôi sử dụng một số phương pháp cụ thể của ngôn ngữ như những thao tác bắt buộc phải tiến hành trong nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ của tác phẩm: phương pháp thống kê, phân loại, phân tích, so sánh cỏc nột nghĩa. 4.3 Ngoài ra, chúng tôi phối hợp sư dụng phương pháp lịch sử - phương pháp đặc thù trong nghiên cứu văn học vào xem xét tiến trình vận động của các THTM trong lịch sử văn học để từ đó có thể hóa giải, đánh giá các giá trị văn học mà THTM “Trái tim” trong thơ Tagore mang tới một cách khách quan. IV. CÁI MỚI CỦA CHUYÊN ĐỀ Cái mới của chuyên đề không phải là ở việc đặt ra lí thuyết về THTM mà là ở việc bổ sung thêm vào lí thuyết đó. Vấn đề cần phân tích rõ là những ưu thế, những hạn chế của THTM “Trái tim” đặt trong hệ thống các ngành nghệ thuật. Ở đây là chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu của THTM - văn chương. Cái mới chủ yếu của chuyên đề là việc vận dụng những lí thuyết trên vào tìm hiểu THTM “Trái tim” trong thơ trữ tình – tinh yêu của Tagore, một lĩnh vực chưa được nghiên cứu. V. BỐ CỤC CỦA CHUYÊN ĐỀ Chuyên đề gồm 20 trang. Ngoài ra còn có bảng thuật ngữ viết tắt (1 trang) và thư mục tham khảo (2 trang) Bố cục nh sau: A.Phần mở đầu (gồm 6 trang). B. Phần nội dung (gồm 11 tr). - Chương I: Tín hiệu thẩm mĩ (gồm 5 trang). - Chương II: Tín hiệu thẩm mĩ “Trái tim” qua tập “Tâm tình hiến dâng” của R.Tagore. (gồm 6 trang). C. Phần kết luận (gồm 1 trang). 9 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: TÍN HIỆU THẨM MĨ I. Khái quát về THTM 1. Trước hết, THTM là một loại TH cho nên nó cũng mang những đặc trưng của TH nói chung. Đỗ Hữu Chõu đó tổng hợp ý kiến của Saussure và Ch.W.Morris, đã đưa ra việc xác định 4 nhân tố cần phải có đối với một TH: 1. Phải có một hệ thống cảm tính (cái biểu hiện ). 2. Phải có một nội dung ý nghĩa (cái được biểu hiện ). 3. Phải được nhận thức bởi một chủ thể nào đó (đối tượng thông tin) 4. Phải nằm trong một hệ thống nhất định. 2. Tiêu chí phân loại TH: (có nhiều tiêu chí nhưng ở đây xin trình bày hai tiêu chí phổ biến) Thứ nhất, là cách phân loại của Pierce, chia TH thành TH(icon), chỉ hiệu (index) và ước hiệu (sybol) dựa theo tiêu chuẩn quan hệ giữa CBH và CĐBH mà Saussure đã đưa ra. Theo đó đại đa số TH ngôn ngữ là thuộc loại ước hiệu, loại TH mà mối quan hệ CBH và CĐBH là hoàn toàn võ đoán. Loại TH này sẽ mất tư cách nếu không có cỏi lớ giải. Thư hai: tuỳ theo đặc điểm về thể chất cuả TH. Theo đú, cú TH màu sắc, TH âm thanh, TH cảnh báo giao thông, TH ngôn ngữ, TH âm nhạc,…Mặt thể chất của TH văn chương chính là TH ngôn ngữ, một thể loại TH đặc biệt. Nó thể hiện trờn cỏc phương diện: CBH và CĐBH có quan hệ võ đoàn với nhau, CBH của TH có tính hình tuyến dẫn đến các đơn vị ngôn ngữ có quan hệ ngữ đoạn với nhau, có quan hệ cấp đọ với nhau, có tính đa trị, tính độc lập… Tất cả các đặc tính này của TH ngôn ngữ sẽ chi phối tác động toàn diện đến TH văn chương. 10 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B Bước vào thế giới nghệ thuật, TH thông thường sẽ chuyến hoá thành THTM, mang những đặc thù của nghệ thuật, tiêu biểu một cách chung nhất, “THTM là yếu tố thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của nghệ thuật”. 3. THTM cần có các điều kiện: 1. CBH: nghệ thuật. 2. CĐBH: ý nghĩa thẩm mĩ (YNTM). 3. Chủ thể sáng tạo: thế giới phát ngôn, tạo ngôn - tác giả thế giới tiếp nhận, thụ ngôn - công chúng. 4. Thuộc về một hệ thống THTM nhất định. 4. Cần phân biệt TH và kí hiệu Kí hiệu: thiên về hình thức biểu hiện, nhẹ về lượng tin, giữa người phát và người nhận có sự thống nhất chặt chẽ về CĐBH, lượng tin của nó chỉ có tính đơn trị - cho ra một ý nghĩa duy nhất, ổn định, không được phát triển nữa. Thuật ngữ kí hiệu hay sử dụng trong lĩnh vực khoa học tự nhiên – kĩ thuật. TH nặng về tải tin, về giao tiếp, lượng tin – CĐBH chưa được định hình tuyệt đối mà có tính chất đa trị, còn tiếp tục mở rộng phát triển, sự thống nhất nhau về CĐBH của TH giữa người phát - người nhận chỉ có tính tương đối. Mức độ võ đoán trong quan hệ giữa CBH và CĐBH ở “TH” là cao hơn. Theo cách hiểu này, tôi thấy: “biểu trưng”, “biểu tượng” gần với TH hơn kí hiệu và thuật ngữ “TH” thường hay được sử dụng trong các ngành khoa học xã hội. Trên cơ sỏ các ý kiến, tôi xin đề xuất định nghĩa có tính tác nghiệp về THTM: THTM là TH thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của cá ngành nghệ thuật, bao gồm những yếu tố của hiện thực, của tâm trạng (những chi tiết, sự vật, hiện tượng, cảm xỳc,… thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng), những yếu tố của chất liệu (các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ văn chương; các yếu tố của chất liệu màu sắc hội hoạ, âm thanh,…) được lựa chọn và sáng tạo trong tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mĩ. 11 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B II. Những đặc tính của THTM 1. Đặc tính về nguồn gốc. THTM có nguồn gốc trước hết từ thế giới hiện thực, thế giới tâm trạng. Bao gồm toàn bộ những chi tiết, những sự vật, hiện tượng, trạng thái, cảm xỳc… cú trong đời sống thực tế khách quan, có trong đời sống tinh thần của con người được nghệ sĩ lựa chon và sáng tạo trong tác phẩm vì mục đích thẩm mĩ. Những yếu tố đó theo quan niệm thông thường có thể chứa đựng những thuộc tính thẩm mĩ: bông hoa, dòng sông, mặt trời nhớ nhung,…; cả những yếu tố mà theo quan niệm thông thường là xấu, không đẹp: tính xấu, tiếng chửi…. Tất cả những yếu tố đó đều có thể trở thành THTM khi được nghệ sĩ lấy làm chất liệu để xây dựng nờn cỏc hình tượng nghệ thuật. THTM cũn cú nguồn gốc từ các sự kiện ngôn ngữ, trong đó cú cỏc vấn đề như từ địa phương dung như một THTM, một lời kêu gọi khẩn cầu,…Ngoài ra còn thấy những yếu tố ngôn ngữ như tiếng, âm, vần, thanh, nhịp điệu câu văn; cấu trúc ngữ pháp câu (trật tự đảo, tỉnh lược…)… xuất hiện trong tác phẩm văn học cúng với tư cách như những THTM với điều kiện là tất cả các yếu tố đó đều phải phục vụ cho một tư tưởng thẩm mĩ nhất định. 2. Tính cấp độ. THTM có những cấp độ đơn vị khác nhau. Căn cứ vào sự tương ứng của THTM với các sự vật hiện tượng trong thế giới hiện thực, tác giả Đỗ Hữu Châu phân biệt THTM ở hai cấp độ cơ bản: 2.1 Cấp độ cơ sở: THTM ứng với một yếu tố, một chi tiết, một sự vật hiên tượng thuộc thế giới khách quan: mặt trời, gió, nỗi buồn,… Đó là các TH đơn (hay TH cơ sở) có chức năng tham gia cấu tạo nên THTM ở cấp độ cao hơn trong tác phẩm. Cái biểu hiện TH ở cấp độ cơ sở này có thể tương ứng với đơn vị từ trong TH ngôn ngữ. 2.2 Cấp độ xây dựng: 12 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B THTM ứng với nhiều sự vật, hiên tượng…Được xây dựng từ những TH đơn nhưng ý nghĩa không phải là kết quả của phép cộng đơn giản các TH đơn. CBH - TH ở cấp xây dựng này có thể tương ứng với các đơn vị câu, đoạn, văn bản trong hệ thống các TH ngôn ngữ. 3. Tính tác động. Đặc tính này thể hiện ngay ở bản chất của TH là một “kích thích vật chất” tác động lờn kớ ức chủ thể tiếp nhận làm hình thành lên những hình tượng nghệ thuật có sức mở rộng lan toả đến vô cùng. Bên cạnh đó, đặc tính này còn thể hiện chức năng giao tiếp nghệ thuật của THTM. Bao giờ THTM cũng nhằm hướng tới một (hoặc nhiều) chủ thể tiếp nhận nhất định. Sự tác động của xung đột TH đem lại hiệu quả cho giao tiếp, làm biến đổi trong chủ thể tiếp nhận tư tưởng, tình cảm, cảm xỳc,… Bởi vậy, lí giải , một THTM nào đó, ta vừa lí giải thế giới phát ngôn, vừa lí giải phương tiện phản ánh và một điều quan trọng là vừa lí giải thế giới tiếp nhận. Vì thế hiểu sự tác động của THTM chỉ có tính tương đối. 4. Tính biểu hiện (Tính thông tin – miêu tả). Là đặc tính quan trọng liên quan đến sự thực hiện chức năng nghệ thuật: chức năng phản ánh hiện thực. Tức là phải có thuộc tính thông tin - biểu hiện. THTM phải mang những nội dung hiện thực, gắn với hiện thực, thông qua phản ánh mà các hình thức vật chất cung cấp cho con người những thông tin nhất định. Nếu không có thuộc tính thông tin này thì Th se không có giá trị. M.B.Khrapchencụ cho rằng: THTM phải có chức năng thay thế (thay thế cho những sự vật hiện tượng trong thực tế. Còn theo Đỗ Hữu Châu, THTM phải có vật qui chiếu từ thế giới hiện thực. Sự biểu hiện hiệ thực của THTM nói chung đều dựa trên năng lực miêu tả, thay thế,“dẫn nhập” các sự vật, hiện tượng, các phạm vi khác nhau của đời sống vào trong tác phẩm, của những phương tiện vật 13 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B chất được sử dụng. Trong văn học, đó là những từ ngữ, những kết cấu mang nội dung biểu vật, biểu niệm gắn với hiện thực… phản ánh trình độ nhận thức, năng lực cảm xúc của con người. Trình độ nhận thức, lại là một quá trình vân động thay đổi không ngừng. Bởi vậy, kết quả biểu hiện ở THTM cũng không phải là đại lượng bất biến. 5. Tính biểu cảm (bộc lộ). THTM là sản phẩm của lao động nghệ thuật - lao động trong trạng thái cảm hứng cao độ. Bởi thế, ngoài những thông tin miêu tả thực hiện chức năng giao tiếp, nú cũn phải bao hàm những thông tin về cảm xúc, về thái độ, về sự đánh giá, về tư tưởng thẩm mĩ… của người nghệ sĩ - thực hiện chức năng thẩm mĩ (chức năng nghệ thuật - hình tượng). Trong THTM, cảm xúc vốn là cái chủ quan của chủ thể sáng tạo đã được khách quan hoá thành một thành phần quan trọng của cơ cấu ngữ nghĩa THTM. Nó có khả năng gợi sự đồng cảm của người tiếp nhận là vì thế. 6. Tính biểu trưng. Là đặc tính của THTM xét trong mối quan hệ hai mặt cái biểu hiên và cái được biểu hiện. Đó là mối quan hệ “cú lí do”, liên quan đến năng lực biểu trưng hoá của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật hiện tượng được đưa vào làm THTM trong tác phẩm. Đặc tính này có liên quan đến một khả năng của THTM là nó vừa có tính chất biểu thị (chỉ ra, nói lên một cái gì), vừa có tính chất hàm nghĩa (là sự gia tăng thêm nghĩa trên một nghĩa có sẵn). 7. Tính truyền thống và cách tân (vấn đề “cỏi mới” của THTM). Tính truyền thống của THTM được thực hiện ở những thông tin - ngữ nghĩa của nó đã được “kớ mà sẵn” trong kho tang nghệ thuật của một dân tộc. Tính cách tân hay là những “ cái mới” của TH thể hiện ở sự đổi mới, sáng tạo 14 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B trong việc sử dụng THTM ở mỗi tác giả, tác phẩm. Hai mặt này có quan hệ biện chứng hữu cơ với nhau trong một THTM. Bằng cách xác lập quan hệ gần gũi tương đồng giữa những phương tiện phương thức cảm nhận và biểu đạt thế giới của THTM với các truyền thống, các thủ pháp nghệ thuật quen thuộc lâu đời của nghệ thuật dân tộc, ta có thể tìm thấy những nhân tố làm nên cỏi nột riờng độc đáo của mỗi THTM, của mỗi tác phẩm văn học. Cái mới trong sử dụng THTM của các tác giả có thể là việc xây dựng một THTM hoàn toàn mới, nhưng chủ yếu vẫn là ở sự cách tân các THTM, ở việc đổi nới các THTM có sẵn trong truyền thống, đem lại cho chúng những ý nghĩa mới - những ý nghĩa chỉ có được thông qua sự sáng tạo của tác giả trong chính hệ thống riêng mà THTM tham gia. 8. Tính hệ thống. Khi phân tích các đặc tính trên kia của THTM, tụi đó ít nhiều đề cấp đến tính hệ thống của nó - đặc tính quan trọng nhất của TH, THTM. Là THTM có nghĩa là TH đó phải thuộc về một hệ thống nhất định, chịu sự chi phối của những yếu tố khác trong hệ thống thông qua những mối quan hệ nhất định. Hệ thống của THTM trước hết chính là tác phẩm – “môi trường” tồn tại của nú.Cỏc mối quan hệ hệ thống tạo ra giá trị của THTM bao gồm hai mặt: các quan hệ nội tại - giữa TH với những TH cũng xuất hiện trong tác phẩm thực hiện những chức năng hướng nội; và các quan hệ ngoại tại - giữa TH với những yếu tố thuộc “môi trường” của sự hoạt động giao tiếp nghệ thuật với hiện thực cuộc sống, với thế giới phát ngôn, thế giới tiếp cận… nhằm thực hiện các chức năng hường ngoại. Giá trị của THTM sẽ là kết quả tổng hoà của các mối quan hệ trong một đơn vị cấu trúc - chức năng cụ thể. Tính hệ thống của THTM còn thể hiện qua các mối quan hệ ngoại tại giữa hệ thống mà TH tồn tại vơi các hình thức khác có liên quan. Nói khác đi, tính hệ 15 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B thống không chỉ được biểu hiện qua mối quan hệ giữa tính hằng thể - biến thể của THTM mà còn biểu hiện qua tính đẳng cấu của THTM. 9. Về cái biểu hiện của các THTM văn chương. Tất cả những đặc tính được phân tích ở trên của THTM đều được thể hiện ra bằng cái biểu hiện - chất liệu của THTM. Với THTM văn chương, chất liệu chủ yếu là ngôn ngữ. Chất liệu này phải phù hợp với TH đồng thời phải phù hợp với ý nghĩa biểu cảm (YNTM) của THTM. Từ những vấn đề trên đi đến kết luận: Nghiên cứu các THTM - ngôn ngữ thực chất là sự nghiên cứu những yếu tố ngôn ngữ giúp biểu hiện nó. Quá trình phân tích một THTM - ngôn ngữ là quá trình phải luôn luôn bám sát vào tổ hợp ngôn ngữ biểu hiện nó để phân tích. Trên đây là những vấn đề chung về THTM. Việc vận dụng những hiểu biết chung đó vào tìm hiểu các THTM cụ thể trong một tác phẩm nghệ thuật còn cần thiết phải làm sáng tỏ những đặc điểm về cả chỗ mạnh lẫn chỗ yếu của nó từ góc độ chất liệu cấu thành. 16 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B CHƯƠNG II: THTM “TRÁI TIM” TRONG TẬP “TÂM TÌNH HIẾN DÂNG” CỦA R.TAGORE I. Khảo sát và phân loại. 1. Khảo sát. THTM “Trái tim” trong tập “Tâm tình hiến dâng” được phân chia ở nhiều cấp độ, từ cụ thể đến khái quát. Dựa vào những thống kê trên văn bản, chúng tôi thống kê được 24/85 bài có sử dụng THTM “Trái tim”: Bài thơ Bài sè 2 Bài sè 15,16,17,18 Bài sè 22 Bài sè 24 Bài sè 25 Bài sè 26 Bài sè 27, 28 Bài sè 29 Bài sè 30 Bài sè 31 Bài sè 33 Bài sè 37 Bài sè 47 Bài sè 48, 56 Bài sè 63 Bài sè 73 Bài sè 82, 83 Bài sè 85 Số lần xuất hiện 1 1 2 2 1 2 1 1 1 1 2 2 1 2 2 2 2 1 Hình thức Trái tim trẻ dại lạc loài Tim Trái tim đơn côi, Tim, Trái tim Tim Tim Tim Trái tim Tim Tim Tim tôi, cánh chim vùng hoang dại Tim, Trái tim trần trụi Tim Tim Tim, Trái tim Tim, Trái tim mỏi mệt Tim, Trái tim câm nín Tim Tim 2. Phân loại. Chúng tôi tạm chia THTM “Trái tim” trong trong tập “Tâm tình hiến dâng” của Tagorelàm 3 nhóm: Nhóm 1: Gồm các bài 15, 16, 17, 18, 22 , 24, , 26, 29, 30: Trái tim bộc lộ các trạng thái, cung bậc của tình yêu như: hạnh phúc - khổ đau, sung sướng buồn lo, hy vọng - thất vọng, yêu thương - giận hờn, chờ mong khắc khoải… 17 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B Nhóm 2: Gồm các bài 2, 25, 31, 31, 33, 63, 73: Nhà thơ đưa ra những nhận định bản chất, định tính trái tim tình yêu, thể hiện qua các định ngữ quen thuộc như: trái tim trẻ dại, trái tim nặng trĩu u buồn riêng tư, trái tim mỏi mệt, trái tim lang thang, trái tim cõm nớn, trái tim cánh chim hoang dại, trái tim rạo rực chứa đầy chất trời… Nhóm 3: Gồm các bài 27, 28, 37,47, 48, 56, 82, 83, 85: Triết lí, quan niệm tình yêu của Tagore được hoàn thiện và thăng hoa qua biểu tượng. Với ông, sự vĩ đại và hạnh phúc của con người và cuộc đời thể nghiệm chính trong tình yêu. Được sống, được yêu là một hành động để bất tử. II. í nghĩa của THTM “Trỏi tim”. 1 Từ những khái niệm mở đầu quan trọng của sinh học: Tim là tâm, là trung tâm của sự sống con người đến những nhận thức có hàm nghĩa rộng hơn: các chức năng trí tuệ (Hi Lạp), biểu tượng cho con người bên trong (Kinh Thỏnh)… ý nghĩa của THTM “Trái tim” có cả một chặng đường dài định hình và phát triển. Văn tự tượng hình cổ biểu thị Trái tim khá đa dạng. Ở Ai Cập cổ đại, Trái tim có hình dáng chiếc bình. Ở Ấn Độ, Trái tim là hình tam giác lộn ngược. Trong Kinh Coran của đạo Hồi, Trái tim là ánh sáng vĩnh hằng. Trải nghiệm theo thời gian từ cổ đại cho đến đời sống văn hoá của thế giới hiện đại, “Trái tim trở thành biểu tượng của tình yêu thế tục, của lòng nhân từ thay thế cho tình yêu thương của Chúa trời, của tình bạn là lẽ phải.” (Từ điển biểu tượng thế giới). 2. “Trái tim” vốn là một biểu tượng có một vị trí quan trọng đặc biệt ở Ấn Độ. Nó được coi là nơi trú ngụ của Thần Brahma (Thượng đế toàn năng), là Shakti (Nguyên tố nữ tính của sinh tồn), là nguồn nước nguyên thuỷ…Trong suy tưởng của người Ấn, trái tim con người là nơi chứa đựng, ẩn khuất biết bao điều bí mật, linh thiêng. 3. Tagore có cách giải mã ý nghĩa THTM “Trái tim” rất riêng. Ông không dừng lại ở những nét nghĩa ổn định trong truyền thống mà mở rộng, biến đổi 18 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B chúng với các khả năng biểu hiện mới. Bởi thế, những lí giải của Tagore không rơi vào sự sáo mòn, nhàm chán và cũng không bị trộn lẫn với bất kì sáng tác nào. Khai thác ý nghĩa ẩn kín và thiêng liêng của THTM “Trái tim”, Tagore gửi gắm trong thơ trữ tình biết bao điều mà trái tim đa tình, đa cảm muốn nói. Dường như, trong trái tim mình, nhà thơ không dành chỗ cho những ham muốn riêng tư. Ông diễn tả điều này bằng hình ảnh tượng trưng: “Hãy đập vào trái tim li bì của tôi bằng cái thanh xuân thần diệu của người” và “Tim ta ơi hãy bước ra và hãy đem tình yêu của người đến gặp cõi đời” (Thơ Tagore - Đào Xuân Quý, NXB Văn học nước ngoài, 1979). THTM “Trái tim” trong tập “Tâm tình hiến dâng” của Tagore đạt đến sự khái quát cao độ của các tầng nghĩa: Trái tim là vương quốc của tình yêu, là nơi tình yêu đem cho và nhận, là kho báu cất giấu, gìn giữ những điều vô cùng, vô tận của tâm hồn…con người luôn mong muốn tìm hiểu, khám phá và chiếm lĩnh kho báu ấy. Qua THTM “Trái tim”, Tagore bộc lộ, gửi gắm mong muốn tìm sự hoàn thiện ở bản ngã con người. Thi sĩ khéo léo nắm bắt những vận động thâm trầm, dai dẳng, những nghịch lí của con tim để từ đó hiểu sâu sa hơn diễn biến phức tạp của tâm trạng tình nhân. “Tôi thẳng tay bóp nghẹt đau thương vì sợ em cũng làm như vậy. Tôi khao khát em rồi đi thật xa, song còn ngần ngại, vì sợ em sẽ biết lũng tụi chỉ là hèn nhát mà thôi. Đó là lí do khiến tôi ngẩng cao đầu thẫn thờ bước tới trước em.” (Bài số 41), “Anh đã để cuộc đời anh trần trụi dưới mắt em. Anh không giấu em điều gì. Chính vì thế em không biết tất cả gì về anh.” (Bài số 28). Tagore thể hiện nỗi khao khát vươn tơi những điều tốt đẹp, cao quý. Nhà thơ vớ chỳng như một thứ ánh sáng khó nắm bắt để rồi chấp nhận nghịch lí từ chính trái tim mình: “Tụi tỡm cỏi mỡnh không thể có và tụi cú cỏi không thể tìm”. Theo Tagore, tình yêu có được không ở sự kiếm tìm ảo tưởng, nó ở quanh ta, ở trong chính trái tim ta. Vậy nên, trái tim nhà thơ và trái tim của những cặp tình nhân như cựng hỏt lờn, hỏt về một tình yêu chân thành, giản dị, không cầu 19 Bài tập chuyên đề Ngữ văn Phạm Thị Vân Huyền - K54B kì, không che giấu, cũng chẳng phô trương: “Tim anh rung lên từng nhịp như lời ngợi ca”, “Tỡnh yờu của chúng ta đơn sơ như một bài hát” (Bài số 16). Puskin cũng đó hỏt lờn những lời ca chứa đựng một hiện thực tình yêu trần thế như thế: “Vì trái tim sống dậy đủ điều Cả thiên thần, cả nguồn cảm xúc Cả đời, cả lệ, cả tỡnh yờu.” (A.X. Puskin, Thơ trữ tình, NXB Văn học, 1978) Ở nhóm 1: THTM “Trái tim” được nhân cách hoá để trở thành một thực thể sống động, giúp độc giả cảm nhận cụ thể hơn những trạng thái tõm lớ, những diến biến phức tạp của tình yêu. Diễn tả niềm vui của tình yêu đong đầy kí ức tuổi thơ, được sinh ra từ cuộc sống lao động bình dị, trái tim nhà thơ tràn đầy cảm xúc, chỉ cần một tiếng chim hót ở lùm cây “bên kia” cũng đủ làm cho “tim tôi ca múa rộn ràng” (Bài số 17). Trái tim nói để đem cho và nhạn những lời yêu thương thật dịu dàng, “Trái tim nàng thì thầm nhè nhẹ”. (Bài số 22). Bài số 18 lại là sự nhạy cảm của một trái tim yêu vơi nhưng rung động thầm kín của buổi đầu còn rụt rè, bối rối: “Lúc hai chị em đi gánh nước, hễ tới nơi này họ đều mỉm cười…Hẳn họ phải nhận ra tim ai đó đứng sau lùm cây đang đánh nhịp rộn ràng bất kì khi nào họ gánh nước nơi đõy.” Bài số 24, THTM “Trái tim” được kiến giải khá đặc biệt. Mặc dù nó được hình dung như một kho tàng cất giấu biết bao bí mật, bao nỗi niềm thầm kín nhưng tình yêu là để hiến dâng, bởi thế, nhà thơ khuyên tình nhân: “Bạn ơi, đừng chôn chặt trong tim những nỗi niềm thầm kín, hãy để tôi nghe, chỉ riêng tôi, chỉ kể trong bí mật…” Và như một bức hoạ bằng ngôn từ, ở bài số 30, nhân vật trữ tình bộc lộ nỗi khát khao cái tuyệt đích, cái sở hữu trong tình yêu: “Em là của riêng, của riêng tụi…tụi nắm, gói chặt em trong lưới nhạc tôi giăng”. Ước muốn từ trái 20
- Xem thêm -