Tìm hiểu về sự phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh trà vinh

  • Số trang: 59 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ  LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC TÌM HIỂU VỀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN Ở TỈNH TRÀ VINH GVHD: ThS. TRẦN THANH QUANG SVTH: SƠN THỊ VI NA MSSV: 6064666 Thành phố Cần Thơ – 2010 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nông thôn là nơi tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người. Tuy nhiên lại là vùng có nền kinh tế phát triển chậm, một bộ phận nông dân vẫn nghèo và thiếu ăn. Thấy được vấn đề đó Đảng và nhà nước ta đã đưa ra chính sách phát triển kinh tế nông thôn ngay từ khi đổi mới đất nước. Và qua quá trình thực hiện đã có nhiều thay đổi trong bộ mặt của nông thôn, làm cho đời sống của nông dân được nâng lên rõ rệt. Trà Vinh là một trong những tỉnh nghèo nhất nước, có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Để đưa tỉnh đi lên sánh ngang cùng các tỉnh khác trong cả nước thì cần phải có giải pháp hợp lý để phát triển nền kinh tế của tỉnh và giải pháp chỉ đạo xuyên suốt quá trình phát triển đó là phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đối với nông thôn cũng vậy cần phải phát triển kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo định hướng xã hội chủ nghĩa…mà Đảng và nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách trong nhiều nghị quyết và qua các kỳ đại hội của Đảng. Qua quá trình thực hiện theo chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước thì kinh tế nông thôn tỉnh Trà Vinh đã có bước phát triển vượt bậc, giá trị và sản lượng nông nghiệp tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng hơn, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng gia tăng sản phẩm đã qua chế biến, giãm cung cấp sản phẩm thô, an ninh lương thực của tỉnh được đảm bảo ngoài ra còn bán cho các tỉnh trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Ngoài lương thực còn có sản phẩm nông sản khác như thủy hải sản cũng là sản phẩm xuất khẩu chủ đạo của tỉnh đem lại thu nhập cao cho nông dân. Cùng với sản xuất nông nghiệp thì ngành nghề khác ở nông thôn cũng phát triển theo như công nghiệp và dịch vụ làm cho cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân ở nông thôn được cải thiện. Tuy nhiên kinh tế nông thôn Trà Vinh vẫn phát triển chậm nhiều so với kinh tế ở vùng thành thị do những nguyên nhân như sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính sản xuất nhỏ, manh mún, do trình độ dân trí thấp chưa áp dụng được rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nên sử dụng không hiểu quả các nguồn lực như đất đai, lao động, tài nguyên. Dẫn đến lãng phí các nguồn lực mà những nguồn lực đó rất quan trọng để kinh tế nông thôn Trà Vinh phát triển vượt bậc. Vì vậy cần phải luôn có giải pháp kịp thời để xây dựng một nông thôn Trà Vinh giàu đẹp. Quê hương mà tôi được sinh ra và lớn lên rồi yêu mến, nhớ thương những lúc đi xa đó là Trà Vinh nơi có những người nông dân thành thật, chất phác luôn gắn bó với đồng ruộng. Nên tôi đã chọn đề tài “ tìm hiểu về sự phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Trà Vinh” Nhằm biết thêm về sự phát triển kinh tế nông thôn của tỉnh mình, góp phần trang bị thêm kiến thức, cũng như có thêm những hiểu biết sâu sắc về chính sách của Đảng và nhà nước để phát triển kinh tế nông thôn cho cả nước nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích nghiên cứu: làm rõ thực trạng để tìm ra định hướng và giải pháp nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn ở Trà Vinh phát triển. - Nhiệm vụ nghiên cứu: + Tìm hiểu về kinh tế nông thôn và đặc điểm, vai trò kinh tế nông thôn ở tỉnh Trà Vinh. + Làm rõ thực trạng ( thành tựu, hạn chế ) phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Trà Vinh. + Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Trà Vinh. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: tìm hiểu về sự phát triển kinh tế nông thôn của tỉnh Trà Vinh. - Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu sự phát triển kinh tế nông thôn trên địa bàn tỉnh Trà Vinh từ sau đổi mới cho đến nay. 4. Phương pháp nghiên cứu Để nghiên cứu đề tài luận văn này, tôi đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp như: thu thập tài liệu, số liệu từ cơ quan chức năng của tỉnh Trà Vinh, tìm kiếm tài liệu từ sách báo, tạp chí, các tài liệu trên mạng internet, Nghị quyết của Đảng…sau đó phân tích, tổng hợp, xử lý số liệu các tài liệu có được để hoàn thành luận văn này. 5. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương, 6 tiết. Chương 1: Kinh tế nông thôn và đặc điểm, vai trò của kinh tế nông thôn. Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Trà Vinh. Chương 3: Định hướng và những giải pháp chủ yếu để tiếp tục phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh trà Vinh. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: KINH TẾ NÔNG THÔN VÀ ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ KINH TẾ NÔNG THÔN 1.1. Khái niệm về kinh tế nông thôn Theo giáo trình kinh tế chính trị Mác- lênin, Nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 1999, thì kinh tế nông thôn được định nghĩa như sau: “Kinh tế nông thôn là một phức hợp những nhân tố cấu thành của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông- lâmngư nghiệp, cùng với các ngành thủ công nghiệp truyền thống, các ngành tiểu- thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và phục vụ nông nghiệp, các ngành thương nghiệp và dịch vụ…tất cả có quan hệ hữu cơ với nhau trong kinh tế vùng, lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân”. Để biết rõ hơn kinh tế nông thôn thì ta so sánh kinh tế nông thôn với kinh tế nông nghiệp. Nội dung kinh tế nông thôn rộng hơn kinh tế nông nghiệp. Hiện nay, kinh tế nông thôn còn dựa chủ yếu trên cơ sở nông nghiệp để phát triển nhưng là sự phát triển tổng hợp, đa ngành nghề, với những biến đổi quan trọng trong phân công lao đông xã hội ngay tại khu vực nông thôn, do đó tạo ra những lực lượng sản xuất mới mà nền nông nghiệp trước đây chưa từng biết đến. Kinh tế nông thôn nó bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp bảo đảm nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa cho thị trường trong và ngoài nước. Kinh tế nông thôn nhất thiết phải có công nghiệp gắn với nông, lâm, ngư nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến. Cùng với sự phát triển kinh tế nông thôn, công nghiệp ở nông thôn không chỉ dừng lại ở khâu công nghiệp chế biến mà còn có thể phát triển các ngành công nghiệp phục vụ đầu vào của sản xuất nông nghiệp như công nghiệp cơ khí sửa chữa máy móc nông nghiệp, thủy lợi…Công nghiệp ở nông thôn còn bao gồm một bộ phận tiểu thủ công nghiệp với các trình độ công nghệ khác nhau, sản xuất các hàng hóa có nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Như vậy công nghiệp ở nông thôn làm cho công nghiệp và nông nghiệp kết hợp tại chỗ thành cơ cấu nghành nghề. Kinh tế nông thôn ngoài nông, lâm, ngư nghiệp và công nghiệp còn có các ngoại hình thương nghiệp, tín dụng, khoa học và công nghệ, tư vấn…các loại hình dịch vụ này cùng với các cơ sở hạ tầng ở nông thôn ( điện, đường, trường, trạm…) sẽ là những bộ phận hợp thành của kinh tế nông thôn và sự phát triển mạnh mẽ và hợp lý của chúng là biểu hiện trình độ phát triển của kinh tế nông thôn. Ngoài ra cơ cấu kinh tế nông thôn là một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Nền kinh tế quốc dân có bao nhiêu thành phần kinh tế, thì kinh tế nông thôn cũng có bấy nhiêu. Tuy nhiên các thành phần kinh tế đó trong kinh tế nông thôn có hình thức cụ thể biểu hiện những đặc điểm riêng biệt của kinh tế nông thôn. Kinh tế nông thôn nhất thiết phải có thành phần kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước nói chung và trong nông thôn nói riêng đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế nông thôn. Bộ phận tiêu biểu kinh tế nhà nước cho nông thôn là các nông trường quốc doanh, các trạm, trại kĩ thuật nông nghiệp, cơ sở hạ tầng. Với phạm trù kinh tế nông thôn, thành phần kinh tế nhà nước mở rộng ra toàn bộ các ngành nghề cơ bản: trong nông nghiệp, công nghiệp, tín dụng, ngân hàng, dịch vụ kinh tế và khoa học…Nhiều cơ sở của kinh tế nhà nước trong kinh tế nông thôn chỉ là một bộ phận đại diện của kinh tế nhà nước chung như chi nhánh ngân hàng, cửa hàng thương nghiệp, trạm kĩ thuật…nhưng lại gắn bó hữu cơ với kinh tế nông thôn từng vùng như là bộ phận cấu thành bên trong của nó. Kinh tế hộ gia đình không tham gia hợp tác xã là kinh tế cá thể hoặc tiểu chủ. Trong kinh tế nông nghiệp, hộ gia đình và hợp tác xã được tổ chức theo chính sách và luật mới là đơn vị cơ bản làm nông nghiệp. Với kinh tế nông thôn thành phần kinh tế cá thể có thể mở rộng ra các nghành kinh tế ngoài nông nghiệp như là tiểu chủ kinh doanh công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ… Kinh tế hợp tác sẽ trở nên đa dạng hơn không chỉ trong nông nghiệp mà cả trong công nghiệp, thương nghiệp, tín dụng…Các hình thức kinh tế hợp tác sẽ phát triển từ thấp đến cao, hoàn chỉnh nhất là các hợp tác xã kiểu mới, tiến lên liên hiệp các hợp tác xã kinh doanh nhiều ngành nghề. Kinh tế hợp tác là con đường để nông dân và cư dân nông thôn đi lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và cùng với kinh tế nhà nước trong nông thôn hợp thành nền tảng của kinh tế nông thôn theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nông thôn cũng tất yếu có thành phần kinh tế tư bản tư nhân và cũng có kinh tế tư bản nhà nước. Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế đòi hỏi kinh tế tư bản tư nhân ở nông thôn phải đi vào chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức đa dạng từ thấp đến cao. Cần nhận thức rõ rằng, trong đều kiện cạnh tranh của cơ chế thị trường nếu kinh tế nhà nước và vai trò quản lý của nhà nước suy yếu và buôn lỏng thì ít hay nhiều đều ảnh hưởng tới sự phân hóa ở nông thôn và xu hướng tự phát tư bản chủ nghĩa sẽ phát triển. Trong công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ, tín dụng…của kinh tế nông thôn, sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa sẽ có đều kiện phát triển mạnh mẽ hơn. Sự phát triển kinh tế nông thôn theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải tìm ra những hình thức kinh tế thích hợp để từng bước đưa thành phần kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa trong kinh tế nông thôn đi vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước. Về trình độ công nghiệp, kinh tế nông thôn là sự tổng hợp, kết hợp có căn cứ khoa học nhiều trình độ công nghiệp truyền thống còn lạc hậu cho đến công nghiệp nửa hiện đại và hiện đại và nền nông nghiệp Việt Nam phải nhanh chóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng một nền nông nghiệp sinh thái, một nền nông nghiệp sạch; trong khi coi trọng năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi vẫn không coi nhẹ tiêu chuẩn chất lượng, tôn trọng sự đa dạng sinh học, tạo ra những sản phẩm hàng hóa quý, hiếm có giá trị trao đổi cao. Sự phát triển công nghiệp ở nông thôn tất nhiên phải gắn bó với nông nghiệp với quy mô nhỏ và vừa là thích hợp và phải tận dụng công nghệ truyền thống. Thế nhưng, nền công nghiệp đó cũng phải nhanh chóng ứng dụng các thành tựu công nghệ hiện đại để các sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh trên thị trường ngày càng mở rộng, cố gắn hướng về xuất khẩu. Sự phát triển của công nghiệp nông thôn cũng phải chú ý ngay từ đầu việc bảo vệ môi trường, thực hiện công nghệ sạch bằng các giải pháp thích hợp vơi tình trạng nghèo vốn và công nghệ, làm cho nông nghiệp và công nghiệp đều sạch. Công nghiệp chế biến trong kinh tế nông thôn tất nhiên cần những vùng nông nghiệp tập trung sản xuất chuyên canh nguyên liệu. Nhưng vùng tập trung chuyên canh vẫn phải có cơ cấu hợp lý phù hợp với đều kiện sinh thái, thổ nhưỡng…không loại bỏ mà dung nạp được VAC trong nông nghiệp, hệ thống này vốn là từ nông nghiệp truyền thống Việt Nam và ngày nay đang trở thành xu hướng hiện đại trong nông nghiệp thế giới. Với kinh tế nông thôn, cơ cấu xã hôi- giai cấp nông thôn cũng biến đổi. Quá trình phát triển kinh tế nông thôn là quá trình phát triển của phân công lao động xã hội ở nông thôn, chuyển đổi và đa dạng hóa nghành nghề sản xuất và dịch vụ. Đó cũng là quá trình đô thị hóa quy mô nhỏ diễn ra tại nông thôn, làm cho sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn dần dần thu hẹp lại theo một phương thức rất thực tế và phù hợp với su hướng hiện đại trong việc tổ chức đời sống của các cộng đồng dân cư ở các nước hiện nay. Trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn, sự phân hóa và biến đổi của cơ cấu giai cấp - xã hội trong nông thôn là tất yếu. Nông thôn không còn chỉ là nơi sinh sống của nông dân chuyên làm nông nghiệp mà trở thành địa bàn sinh sống của những cư dân làm nhiều ngành, nghề; lúc đầu tỷ trọng lớn nhất của dân cư nông thôn vẫn là cư dân làm nông nghiệp nhưng càng về sau tỷ trọng này lại càng thu hẹp lại một cách tương đối. Sự biến đổi đó diễn ra trong từng vùng, từng làng, từng gia đình, thậm chí từng con người. Và đều đó dẫn đến sự thay đổi quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội vùng nông thôn. 1.2. Đặc điểm, vai trò kinh tế nông thôn 1.2.1. Đặc điểm của kinh tế nông thôn ở tỉnh Trà Vinh Những mặt thuận lợi: Đối với ngành nông – lâm – ngư nghiệp Trà Vinh là vùng ven biển nên có nguồn tài nguyên đất đai rất đa dạng, đặc biệt là diện tích đất phù sa toàn tỉnh hiện có 129.740 ha, đất giồng cát 14.800 ha. Đây là những loại đất được coi là lợi thế so sánh của tỉnh có khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp đa dạng, cần khai thác một cách hợp lý, trên đất giồng cát ưu tiên phát triển cây màu và chăn nuôi bò; đất phù sa, chú trọng thâm canh lúa chất lượng cao, cây ăn trái, kết hợp nuôi cá, nuôi heo; vùng đất nhiễm mặn thích nghi lúa mùa đặc sản kết hợp nuôi thủy sản… Cơ sở hạ tầng nông thôn từng bước hoàn thiện, tạo đều kiện thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển. Công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật những năm qua đã góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật của người dân, tạo đều kiện để triển khai ứng dụng kỹ thuật trong giai đoạn kế tiếp Nguồn lao động rất dồi dào với hơn 60% dân số trong độ tuổi lao động. Đối với ngành công nghiệp và dịch vụ. Nước ta đã và đang tham gia hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, các cam kết về hội nhập vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN, tham gia vào hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS), và tổ chức thương mại thế giới WTO… nền kinh tế của đất nước nói chung, kinh tế tỉnh Trà Vinh nói riêng nhất là công nghiệp và dịch vụ đang đứng trước cơ hội để phát triển. Được sự quan tâm của lãnh đạo và chỉ đạo của trung ương; sự hỗ trợ của bộ, ban ngành và các tỉnh thành bạn. Có nghị quyết 09/NQ-TU của tỉnh ủy Trà Vinh về tập trung phát triển công nghiệp đã hình thành được cụm công nghiệp ở xã Long Đức với quy hoạch 120,6 ha. Và các điểm công nghiệp địa phương được phê duyệt làm cơ sở cho việc hoạch định các kế hoạch và chương trình phát triển công nghiệp ở nông thôn. Hệ thống lưới điện quốc gia đã phủ 100% xã, hiểu quả của các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng như nâng cấp quốc lộ 53, 54, 60, cảng biển, nhà máy điện …sẽ tác động tốt cho phát triển kinh tế của tỉnh nói chung và của khu vực nông thôn nói riêng. Tiềm năng du lịch- dịch vụ tương đối phong phú, đa dạng. Tỉnh Trà Vinh có nét đặc trưng là nơi có đồng bào dân tộc khmer sinh sống là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa cả về vật thể và phi vật thể, có cả du lịch biển như biển Ba Động, biển Mỹ Long hàng năm thu hút hàng ngàn khách trong và ngoài tỉnh. Những cơ hội Dự án thủy lợi nam Măng Thít, cùng các dự án phát triển cơ sở hạ tầng khi hoàn chỉnh sẽ phát huy tác dụng phục vụ chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn của tỉnh. Khoa học công nghệ mới trong đó tập trung vào cải tiến các giống cây trồng, vật nuôi, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, bảo quản, chế biến nông sản, cơ giới hóa trong sản xuất, công nghệ sau thu hoạch… cùng tăng cường năng lực khuyến nông, sẽ tạo cơ hội cho nông nghiệp tỉnh Trà Vinh có nhiều sản phẩm đa dạng, chất lượng cao, giãm chi phí, tăng tính cạnh tranh trên thị trường Các chính sách nông nghiệp ngày càng được quan tâm hơn, nhất là chính sách phát triển nguồn nhân lực hướng vào nâng cao năng lực cộng đồng, phát triển kỹ năng cho nông dân; các chính sách hỗ trợ các xã nghèo đặc biệt khó khăn, chính sách khuyến nông, các chinh sách cụ thể cho từng loại cây trồng, vật nuôi chủ lực trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, nhất là đối với khu vực trang trại. Các doanh nghiệp trong nước, trang trại tư nhân đang có xu hướng đầu tư mở rộng sản xuất, đây là yếu tố mang tính quyết định cho sự phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, bên cạnh đó nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ… Đang quan tâm hỗ trợ, cũng là yếu tố quan trọng, cùng với yếu tố bên trong sẽ trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy nông nghiệp và kinh tế nông thôn phát triển, góp phần tích cực trong mục tiêu xóa đói giãm nghèo của tỉnh. Những thách thức Trà Vinh là tỉnh nghèo, khả năng đầu tư xây dựng và phát triển kinh tế xã hội còn hạn chế, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, đại bộ phận nông dân thiếu vốn, thiếu tư liệu sản xuất…làm cho kinh tế nông nghiệp châm phát triển. Sản xuất phụ thuộc vào đều kiện tự nhiên, những yếu tố về thời tiết sẽ còn gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp. Sâu hại, dịch bệnh trên cây trồng vẫn còn nguy cơ gây hại; dịch cúm gia cầm cùng các bệnh nguy hiểm trên gia súc vẫn còn nguy cơ tiềm ẩn bọc phát gây thiệt hại cho người chăn nuôi. Thị trường nông sản luôn biến động, nhất là quá trình hội nhập kinh tế thế giới và khu vực sẽ gây bất lợi cho nông sản trong tỉnh nhất là các ngành hàng nhảy cảm như gạo, trái cây, đường… 1.2.2. Vai trò của kinh tế nông thôn Phát triển kinh tế nông thôn có vai trò rất quan trọng. Và những vai trò đó là: Góp phần tạo ra những tiền đề quan trọng không thể thiếu bảo đảm thắng lợi cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển kinh tế nông thôn trước hết là phát triển kinh tế nông nghiệp một cách mạnh mẽ và ổn định, tạo ra cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân nhất là về công nghiệp một cơ sở vững chắc về nhiều phương diện, trước hết là về lương thực thực phẩm. Dù cho nền kinh tế nước nước ta rồi đây phát triển đến đâu và tỉ lệ lao động làm nông nghiệp giãm xuống do năng xuất lao động trong nông nghiệp tăng lên thế nào thì nông nghiệp bao giờ cũng đóng một vai trò quan trọng vì nó thỏa mãn nhu cầu hàng đầu của con người là nhu cầu ăn, tạo ra sự ổn định về chính trị, kinh tế và quốc phòng. Với việc phát triển đồng bộ các ngành nghề ở nông thôn, kinh tế nông thôn sẽ tạo ra một khối lượng sản phẩm với giá trị ngày càng tăng và đều đó góp phần giải quyết vấn đề vốn để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển kinh tế nông thôn sẽ thực hiện được quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa tại chỗ, gắn bó tại chỗ công nghiệp với nông nghiệp, vấn đề đô thị hóa sẽ được giải quyết theo phương thức đô thị hóa tại chỗ, giãm sức ép của sự chênh lệch kinh tế và đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng phát triển và vùng kém phát triển. Kinh tế nông thôn , không chỉ phát trển mạnh mẽ trong nông nghiệp mà cả công nghiệp, thương nghiệp và các ngành nghề khác, sẽ làm cho toàn bộ các ngành đó chuyển mạnh sang một nền kinh tế hàng hóa phát triển. Sự phát triển kinh tế ở nông thôn sẽ tạo ra cơ sở vật chất sự phát triển văn hóa ở nông thôn. Nông thôn vốn là vùng kinh tế, văn hóa lạc hậu, sản xuất và sinh hoạt phân tán, nhiều hủ tục, ít theo luật pháp thống nhất. Mặt khác nông thôn là nơi truyền thống cộng đồng (cả tốt lẫn xấu) còn sâu đậm…Phát triển kinh tế nông thôn sẽ tạo đều kiện để vừa giữ gìn, phát huy truyền thống văn hóa, xã hội tốt đẹp, bài trừ văn hóa lạc hậu cũ, vừa tổ chức tốt đời sống văn hóa, tinh thần. Sự phát triển kinh tế nông thôn gắn liền với sự phát triển xã hội, văn hóa, chính trị và kiến trúc thượng tầng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sẽ dẫn đến thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Đó cũng là thắng lợi của việc giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền và lợi ích quốc gia. Một nông thôn có kinh tế và văn hóa phát triển, đời sống ấm no, đầy đủ về vật chất, yên ổn và vui tươi về tinh thần sẽ là một nhân tố quyết định cũng cố vững chắc trận địa lòng dân, thắt chặt mối quan hệ liên minh công - nông, bảo đảm cho nhân dân ta có thể đánh bại mọi âm mưu diễn biến hòa bình của thế lực thù địch, cũng như tăng cường tiềm lực và sức mạnh quốc phòng – an ninh đủ sức đánh bại mọi âm mưu xâm lược vũ trang của mọi kẻ thù, bất cứ hình thức nào. Đó là vai trò chung của kinh tế nông thôn trong cả nước. Còn đối với từng ngành nghề của riêng tỉnh Trà Vinh thì vai trò đó có thể làm rõ như sau: Đối với ngành nông, lâm, ngư nghiệp: thì có vai trò là nền tảng trong kinh tế nông thôn hiện tại cũng như tương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong kinh tế xã hội chung và kinh tế nông thôn của tỉnh, vì giá trị chiếm gần một nữa tổng sản phẩm quốc nội (GDP), sử dụng gần 70% lao động trong tỉnh. Thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an toàn lương thực cho cả nước, bảo đảm an ninh trật tự trong nông thôn. Tạo nguồn lương thục chính của từng gia đình và trong xã hội, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác, là nguồn xuất khẩu quan trọng, hoặc thay thế hàng nhập khẩu. Nông nghiệp phát triển sẽ kéo theo các ngành công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn phát triển, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Đối với ngành công nghiệp thì tỉnh ủy Trà Vinh đưa ra vai trò “ phát triển công nghiệp có ý nghĩa vai trò quan trọng trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà, đảm bảo cho kinh tế tăng trưởng ổn định và bền vững. Tăng giá trị gia tăng hàng hóa, tăng GDP nền kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập bình quân đầu người, góp phần xóa đói giãm nghèo”. Về thương mại và dịch vụ sẽ khuyến khích nhiều thành phần kinh tế và nhân dân tham gia theo phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm” để phát huy mọi tiềm lực về vốn, về lao động để đầu tư vào thương mại - dịch vụ - du lịch tạo thêm nhiều ngành nghề và giải quyết việc làm, xóa đói giãm nghèo cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Phát triển hợp tác xã trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ nhằm mở rộng thị trường nông hải sản, cung ứng kịp thời vật tư, tư liệu sản xuất nông nghiệp theo hình thức “cung ứng tại chỗ, thu mua tận gốc” để giãm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho nông dân. Phát triển du lịch nhằm xóa đói giãm nghèo cho người dân trong vùng dự án và các vùng phụ cận, thúc đẩy ngành nghề dịch vụ phát triển, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập cho toàn xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất của địa phương. 1.3. Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế nông thôn Có thể nói phát triển kinh tế nông thôn là lĩnh vực đầu tiên được thực hiện và thụ hưởng đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước trong nền kinh tế. Sau một thời gian tìm tòi, Đảng và nhà nước ta đã tổng kết thực tiễn đúc rút được kinh nghiệm. Từ đó đưa ra những quan điểm để chỉ đạo đúng đắn trong phát triển kinh tế ở vùng nông thôn. Như nghị quyết 10 của bộ chính trị (5/4/1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp được coi là mốc quan trọng của thời kỳ đổi mới toàn diện. Nội dung cơ bản của nghị quyết là giải phóng sức sản xuất, giải quyết thỏa đáng các mối quan hệ về lợi ích, mở rộng dân chủ, đề cao pháp chế xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa, đổi mới về tổ chức và cán bộ phù hợp với cơ cấu kinh tế và cơ chế quản lý mới. Cũng dựa trên thực trạng phát triển kinh tế nông thôn, hội nghị lần thứ 5 ban chấp hành trung ương Đảng khóa VII đã ban hành nghị định về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nông thôn trong đó nêu lên 4 quan điểm lớn: một là đặt sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, hiện đại hóa đất nước, coi đó là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu. Hai là thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng xã hội chủ nghĩa. Ba là, gắn sản xuất với thị trường, mở rộng sản xuất đi đôi với mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản. Bốn là, gắn phát triển kinh tế với văn hóa xã hội, nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Cũng đã đưa ra những quan điểm sau: thứ nhất là, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước. Thứ hai là, các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt. Thứ ba là, phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân. Thứ tư là, giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân. Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân. Và quan điểm rất quan trọng chỉ đạo xuyên suốt cho phát triển kinh tế nông thôn là phát triển kinh tế nông thôn theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nông nghiệp nông thôn, chuyển dich cơ cấu ngành nghề kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nông thôn là quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau phát triển trong đều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội trong một thời gian nhất định ở nông thôn. Cơ cấu kinh tế đó được thể hiện cả về mặt chất lẫn về mặt lượng. kinh tế nông thôn có vai trò to lớn, ảnh hưởng chi phối tới đời sống vật chất và tinh thần ở nông thôn. Cơ cấu kinh tế nông thôn hợp lý sẽ quyết định việc khai thác và sử dụng có hiểu quả tối ưu tài nguyên đất đai, vốn, sức lao động và cả cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có; quyết định tốc độ phát triển kinh tế hàng hóa ở nông thôn, chuyển mạnh kinh tế nông thôn sang kinh tế hàng hóa; quyết định khả năng xã hội hóa sản xuất và lao động. Chuyển người nông dân thuần nông sang người nông dân của cơ cấu kinh tế mới. Vì vậy để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn định hướng xã hội chủ nghĩa thì Đảng và nhà nước ta đã đưa ra những quan điểm sau: Quan điểm phát triển toàn diện và tăng trưởng bền vững Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải dựa trên quan điểm phát triển toàn diện và tăng trưởng bền vững vì chỉ có như vậy mới khắc phục được những bất cập về tính thuần nông trong cơ cấu kinh tế nông thôn, tính độc canh trong sản xuất nông nghiệp. Nội dung quan điểm này chú trọng phát triển ngành nghề dịch vụ phi nông nghiệp, thực hiện đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi gắn với chuyên môn hóa và thâm canh cao. Tăng trưởng bền vững gắn phát triển sản xuất toàn diện với tốc độ cao nhưng bảo đảm cân bằng môi trường sinh thái, khắc phục tình trạng chạy theo tốc độ phát triển nhanh trên cơ sở khai thác tài nguyên môi trường, nhất là môi trường đất, nước, rừng, biển; gắn tăng trưởng kinh tế với ổn định xã hội nông thôn. Quan điểm kinh tế hàng hóa gắn với thị trường Phát triển kinh tế nông thôn gắn liền với nông nghiệp, công nghiêp, dịch vụ với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững nhất thiết phải dựa trên cơ sở kinh tế hàng hóa gắn với thị trường. Chỉ có như vậy mới khắc phục được xu hướng tự phát, tự cung, tự cấp, phân tán nhỏ lẻ trong sản xuất nông nghiệp và nông thôn hiện nay. Quan điểm sản xuất hàng hóa đặt ra yêu cầu sản xuất sản phẩm nào, số lượng bao nhiêu, chất lượng và chủng loại bao nhiêu phải do thị trường quyết định, không phải do khả năng đất đai, lao động, khí hậu, kinh nghiệm người sản xuất quyết định. Trồng cây gì, nuôi con gì, sản phẩm công nghiệp và dịch vụ nông thôn như thế nào, su hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất và cơ cấu lao động ra sao, phải xuất phát từ yêu cầu thị trường. Quan điểm này sẽ khắc phục xu hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tự phát một trong những bất cập lớn nhất của nước ta hiện nay. Quan điểm hiệu quả kinh tế và xã hội Một cơ cấu kinh tế hợp lý tất yếu phải đạt hiểu quả kinh tế và xã hội cao trong nông thôn và nông nghiệp cũng vậy. Sản xuất hàng hóa trong cơ chế thị trường chỉ tồn tại khi được sản phẩm có tính cạnh tranh cao và khi đó tất yếu sẽ đạt hiểu quả kinh tế và xã hội cao. Tuy nhiên hiểu quả cao được đo lường bằng các chỉ tiêu giá trị tổng hợp, cả kinh tế và xã hội. Quan điểm này sẽ là định hướng cho các giải pháp khắc phục những bất cập trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hiện nay, nhất là mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với lao động dư thừa ở nông thôn khi thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa nông nghiệp, tự động hóa trong sản xuất ngành nghề thủ công nghiệp. Quan điểm kinh tế mở và hội nhập với kinh tế quốc tế Nội dung của quan điểm này là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta. Hiện nay phải phù hợp với xu hướng hội nhập và mở cửa với thế giới và khu vực. Nội dung này cũng nhằm khắc phục xu hướng khép kín, cát cứ, cục bộ, địa phương, tự cung tự cấp lương thực, thực phẩm bằng mọi giá đã và đang diễn ra ở một số ngành và địa phương. Quan điểm trên còn là cơ sở để hình thành các giải pháp xây dựng cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hợp lý, có tính khả thi để hội nhập với kinh tế khu vực (khu vực châu ÁThái Bình Dương, ASEAN, EU…) và quốc tế (WTO) trong nhưỡng năm tới. sự chuyển dịch cơ cấu sản phẩm và lao động nông nghiệp, nông thôn nước ta phải hòa nhập với su thế của thị trường nông sản thế giới và khu vực trong bối cảnh toàn cầu hóa và phân công lao động quốc tế. Quan điểm công bằng xã hội Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thế kỷ XXI ở nước ta không chỉ đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh vững chắc và toàn diện mà còn đảm bảo ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân nói chung, khu vực nông thôn nói riêng. Vì vậy, cùng với phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, phát triển nông nghiệp hàng hóa, phải gắn với mục tiêu xóa đói giãm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo ở nông thôn, giữa nông thôn và thành thị. Đó là nội dung cơ bản của công bằng xã hội, là tiền đề các giải pháp có liên quan. Phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa. Quan điểm kết hợp truyền thống và hiện đại Nội dung quan điểm này là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp nước ta hiện nay, một mặt phải kế thừa những kinh nghiệm truyền thống, bao gồm cả ngành nghề truyền thống ở nông thôn, nông nghiệp lúa nước, kinh nghiệm thâm canh cây trồng vật nuôi, giống cây đặc sản…Mặt khác phải tiếp cận với xu thế hiện đại của thế giới và khu vực, thực hiện phương châm “đi tắt đón đầu”, nhanh chóng ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và quy trình công nghệ tiên tiến vào phát triển nông nghiệp, nông thôn. Giải pháp khoa học công nghệ để khắc phục những bất cập trong cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta hiện nay nhất thiết phải dựa trên quan điểm này. Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, giống lúa đặc sản, giống chè thơm ngon… ở các vùng bằng công nghệ hiện đại, máy móc, thiết bị tiên tiến là một thiết bị cụ thể. Một cơ cấu ngành nghề và cây trồng vật nuôi hợp lý, tiến bộ trong nông nghiệp và nông thôn nước ta hiện nay phải là sản phẩm của sự kết hợp hài hòa giữ truyền thống và hiện đại. Quan điểm cơ cấu kinh tế gắn với lao động nông thôn Bất cập lớn nhất và cũng là trở ngại của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay, là lao động nông thôn dư thừa quá nhiều, nhưng lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn phát triển chậm chưa có khả năng thu hút nhiều lao động dư thừa từ nông nghiệp. Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp nước ta hiện nay phải gắn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phân công lao đông nông thôn theo hướng giãm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp ở lĩnh vực này. Đó cũng là quan điểm kết hợp kinh tế và xã hội, đảm bảo sự phát triển kinh tế nông thôn bền vững, ổn định trong đó cơ cấu lao động nông thôn được đều chỉnh hợp lý. Cơ cấu kinh tế gắn với cơ cấu lao động nông thôn là phương hướng lâu dài của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp gắn với quy hoạch, chiến lược và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân cả nước Nội dung của quan điểm này là sự gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn với cơ cấu kinh tế quốc dân, cả về mục tiêu , phương hướng và giải pháp. Kinh tế nông thôn là một bộ phận của kinh tế quốc dân nói chung và do đó sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn phải gắn kết với chiến lược và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và phân công lao động xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Yêu cầu của quan điểm này là các giải pháp về quy hoạch, kế hoạch và đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn phải xuất phát từ quy hoạch tổng thể và chiến lược phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng cho cả nước. Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, gắn với công nghiệp hóa, đô thị hóa và xây dựng cơ cấu hạ tầng nông thôn. Nội dung của quan điểm này là sự gắn kết giữa cơ cấu kinh tế nông thôn với công nghiệp hóa, đô thị hóa và cơ cấu hạ tầng nông thôn. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phải phù hợp với xu hướng và tốc độ công nghiệp hóa đô thị hóa và kết cấu hạ tầng nông thôn trong từng giai đoạn. Mối tương quan này xuất phát từ thực tế nước ta và công nghiệp các nước công nghiệp hóa, đô thị hóa và xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn vừa tạo ra đều kện vật chất, kỹ thuật để phát triển kinh tế xã hội nông thôn, vùa thu hút lao động dư thừa khu vực này trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ mối quan hệ đó, giải pháp cho vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phải gắn chặt chẽ với các chính sách kinh tế - tài chính, nhất là đầu tư, cho vai, thuế, phí và lệ phí trong nông thôn và nông nghiệp. Quan điểm phát triển một nền nông nghiệp sinh thái, một nền nông- lâmngư nghiệp hàng hóa có năng suất và chất lượng cao. Phát triển có hiểu quả sản xuất lương thực bằng thâm canh tăng năng suất lao động, áp dụng thành tửu khoa học và công nghệ, thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa, cơ giới hóa, sinh học hóa,…xây dựng một nền nông nghiệp lớn hiện đại, kết hợp một cách hợp lý yêu cầu về những vùng chuyên canh tập trung bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến với yêu cầu một nền nông nghiệp hữu cơ sạch , trên cơ sở phát triển mô hình VAC truyền thống. Phát truyển các vùng chuyên canh, đa dạng hóa sự kết hợp giữa nông - lâm - ngư nghiệp, tận dụng hiểu quả đất đai, khí hậu, sức lao động và vốn của nông dân, ngư dân và lâm dân; làm cho đất đai, sông nước, rừng núi đều có chủ và được khai thác hợp lý nhất, đem lại hiểu quả cao về về sản xuất và đời sống. Phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa có sức cạnh tranh cao, sản xuất cho thị trường, vươn ra thị trường nước ngoài. Sản xuất hàng hóa sẽ làm tăng thêm chất lượng sản phẩm, ứng dụng được công nghệ sinh học, và do đó tận thu được giá trị nông sản, tăng thu nhập cho nông dân chuyển dich cơ cấu kinh tế nông thôn đòi hỏi phải gắn liền với sự phát triển toàn diện về kinh tế- văn hóa- xã hội. Quan điểm tăng dần tỉ trọng ngành nghề và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Thu nhập của nông dân nước ta chủ yếu vẫn từ nông nghiệp. Như vậy tính chất thuần nông đang con rất nặng nề. Phát triển được ngành nghề và dịch vụ chẳng những khai thác hết sức lao động dư thừa mà quan trọng hơn là nông dân sẽ làm quen dần với môi trường sản xuất hàng hóa. Thực tế nhiều vùng nông thôn cho thấy rằng, ở đâu phát triển được ngành nghề và dịch vụ thì ở đó thường tiến tới giàu có nhanh hơn. Vấn đề đặt ra hiện nay là, nhà nước phải đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng và thị trường nông thôn, hỗ trợ cho việc phát triển ngành nghề và dịch vụ. Để phát triển kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn cần phải đẩy mạnh sự phân công lao động xã hội trong nông thôn, phát triển mạnh mẽ các ngành nghề truyền thống, xây dựng những cơ sở công nghiệp nông thôn. Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công nghiệp nói chung với nhiều trình độ công nghệ khác nhau, gắn chặt với sự phát triển của nông nghiệp và việc phân công lao động xã hội mới ở nông thôn, chuyển tại chỗ một bộ phận lao đông nông nghiệp sang lao đông công nghiệp. Công nghiệp nông thôn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng: Thứ nhất là giải quyết lao động và việc làm, đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, hạn chế được dòng người đi tìm việc làm ở thành phố, trở thành gánh nặng trên tất cả các mặt kinh tế - trật tự, an toàn xã hội ở đô thị. Thứ hai là thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, tạo ra năng xuất và giá trị mới ngày càng dồi dào, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh ngay tại nông thôn. Thứ ba là nâng cao nhanh chóng và vững chắc đời sống nhân dân do tăng them nuồn thu nhập. Trong những năm qua công nghiệp nông thôn bước đầu phát triển tốt, cơ cấu thay đổi nhanh đáp ứng được nhu cầu thị trường, kết hợp các ngành nghề thủ công, phát triển và đổi mới công nghệ trên cơ sở khôi phục công nghệ truyền thống, sản phẩm làm ra lưu thông rộng rãi trên thị trường. Nhiều mặt hàng đã được xuất khẩu và có uy tín trên thị trường. Các ngành nghề chế biến nông, lâm, hải sản cũng phát triển. Kết kợp các tổ chức kinh tế như xí nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình…Thay đổi nhanh các phương thức hoạt động để có kết quả tốt. Tổ chức sản xuất kinh doanh linh hoạt, năng động, nhất là hộ gia đình. Tuy nhiên, công nghiệp nông thôn vẫn đang ở trạng thái manh nha, trình độ thấp, quy mô nhỏ không đồng đều giữa các địa phương và các vùng, đồng thời công nghiệp nông thôn chưa tác động mạnh mẽ vào kinh tế nông thôn để trở thành nền kinh tế hàng hóa. Để xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện và hiện đại cần phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Phát triển mạnh mẽ ngành nghề thứ ba trong nông thôn là ngành dịch vụ để đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế hàng hóa. Sự phát triển của dịch vụ chính là quá trình hoàn thiện sự phân công lao động xã hội, là quá trình phát triển của kinh tế hàng hóa. Phát triển dich vụ còn đáp ứng nhu cầu nâng cao mức sống của nhân dân và yêu cầu mở cửa với bên ngoài, đồng thời còn là biện pháp tạo ra nhiều việc làm trong nông thôn. Để phát triển dịch vụ trước hết cần phải coi nó là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế hàng hóa phải có chính sách thỏa đáng để khuyến khích các ngành nghề phát triển hợp lý. Quan điểm phát triển kinh tế nông thôn là phát triển kinh tế nhiều thành phần gồm: kinh tế nhà nước, tư bản nhà nước, hợp tác, tiểu chủ, cá thể, tư bản tư nhân. Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, định hướng các kinh tế. Quan điểm ngăn chặn sự xung đột trong nội bộ nông thôn, giữa nông thôn và thành thị. Để đạt yêu cầu này một mặt phải thừa nhận sự chênh lệch về lợi ích là một tất yếu kinh tế, khuyến khích mọi người làm giàu, người đã giàu càng giàu thêm, tiến tới mọi người cùng giàu có; mặt khác không cho sự chênh lệch đó dẫn tới sự đối kháng về lợi ích bằng chính sách kinh tế, bằng luật pháp, đặc biệt là chính sách phân phối sao cho mọi người đều được hưởng những thành tựu phát triển, dù rằng không thể bình quân. Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN CỦA TỈNH TRÀ VINH 2.1. Tìm hiểu khái quát về tỉnh Trà Vinh 2.1.1. Địa giới hành chính Là tỉnh đồng bằng ven biển thuộc khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, Phía bắc Trà Vinh giáp với Bến Tre, phía nam giáp Sóc Trăng, phía tây giáp Vĩnh Long, phía đông giáp biển với chiều dài bờ biển 65 km. Các đường giao thông quan trọng như đường quốc lộ 53, quốc lộ 54, quốc lộ 60, đường biển dài 65 km. Trên địa bàn Trà Vinh có hệ thống sông chính với tổng chiều dài 578 km, trong đó có các sông lớn là Sông Hậu, sông Cổ Chiên và Sông Măng Thít. Các sông ngòi, kênh rạch trên địa bàn Trà Vinh hợp lưu đổ ra biển chủ yếu qua hai cửa sông chính là cửa Cổ Chiên hay còn gọi là cửa Cung Hầu và cửa Định An. Hiện nay Trà Vinh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm thị xã Trà Vinh và 7 huyện với 94 xã phường và thị trấn. Bảy huyện là: Càng Long, Cầu Kè. Tiểu Cần, Trà Cú, Châu Thành, Cầu Ngang, Duyên Hải. 2.1.2. Địa lý: Tỉnh Trà Vinh nằm ở toạ độ địa lý 105 vĩ độ Bắc, độ cao trên dưới 1m so với mặt biển. ở vùng đồng bằng ven biển nên có các giồng cát, chạy liên tục theo bình vòng cung và song song với bờ biển. Càng về phía biển, các giồng này càng cao và rộng lớn. Do sự chia cắt bởi các giồng và hệ thống trục lộ, kinh rạch chằn chịt, địa hình toàn vùng khá phức tạp. Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao, xu thế
- Xem thêm -