Tìm hiểu về dịch vụ kho vận tại cảng chân mây huế

  • Số trang: 53 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Huế PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lí do chọn đề tài Đã từ lâu, ngành dịch vụ kho vận luôn chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các ngành dịch vụ cảng biển. Trên thế giới hiện nay, dịch vụ kho vận luôn đi kèm với sự phát triển cảng biển, một cảng biển phát triển là một cảng biển có đầy đủ hệ thống các dịch vụ cảng biển đi kèm một cách hiện đại và hiệu quả. Tại Việt Nam, xác định được ưu thế về địa hình và điều kiện thiên nhiên, Đảng và Chính Phủ đã đưa ra nhiều chủ trương, định hướng phát triển cảng biển và các dịch vụ đi kèm một cách hợp lý nhằm đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên cho tới nay, hệ thống cảng biển Việt Nam vẫn đang ở trong tầm thấp của thế giới, các dịch vụ cảng biển vẫn chưa ổn định và thiếu dây chuyền công nghệ hiện đại. Ngày nay, dịch vụ được nhắc đến như một ngành công nghiệp tiềm năng trong tương lai, dịch vụ luôn chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống các ngành trong nền kinh tế. Dịch vụ vận tải là một loại hình dịch vụ đặc thù, là một khâu trong quá trình đưa hàng hóa từ tay người bán đến tay người tiêu dùng. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước. Bên cạnh dịch vụ vận tải, dịch vụ giao nhận, lưu kho, bến bãi là một trong những loại hình dịch vụ được các hệ thống cảng biển và công ty logistics cung cấp cho khách hàng của mình. Các loại hình dịch vụ trên luôn chiếm tỷ trọng lớn về mặt doanh thu hằng năm cho các doanh nghiệp. Những dịch vụ này đóng vai trò thực hiện các hoạt động đảm bảo quá trình đưa hàng hóa đến các phương tiện trung gian rồi cung cấp cho người tiêu dùng mà vẫn đảm bảo về mặt số lượng lẫn chất lượng. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động của những dịch vụ này để đảm bảo hoạt động dịch vụ được cung cấp tốt nhất cho khách hàng của mình, trong một thị trường năng động và đầy tính cạnh tranh như hiện nay, doanh nghiệp nào đảm bảo được uy tín chất lượng dịch vụ doanh nghiệp cam kết thực hiện, doanh nghiệp đó sẽ dễ dàng nắm giữ được khối lượng thị phần lớn trong hệ thống ngành dịch vụ này. Tại Việt Nam, với ưu thế hơn 3300km bờ biển, hệ thống các cảng biển được xây dựng xuyên suốt trải dài theo dọc bờ biển ở mỗi tỉnh thành. Ở mỗi tỉnh thành đều có chiến lược xây dựng và phát triển hệ thống cảng biển riêng nhằm phục vụ cho hoạt Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 1 Chuyên Đề Tốt Nghiệp động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp tỉnh nhà. Với ưu thế, nằm ở trung tâm của cả nước, tỉnh Thừa Thiên Huế nhận định được ưu thế của mình để chú trọng phát triển hệ thống cảng biển gồm Cảng Thuận An và Cảng Chân Mây. Với vị trí nằm trên trục hành lang kinh tế Đông – Tây trải dài ở 4 quốc gia: Mianma, Thái Lan, Lào và Việt Nam, đồng thời là cửa ngõ quan trọng tiếp nối các khu kinh tế trọng điểm miền Trung, Cảng Chân Mây có vị thế để trở thành cảng trung chuyển hàng hóa lớn của miền Trung và cả nước, do vậy, các dịch vụ đi kèm tại cảng Chân Mây cần được chú trọng và phát triển để bắt kịp theo sự đi lên của kinh tế quốc gia và tỉnh Thừa Thiên Huế. Xuất phát từ những lý do trên, nhận định được tầm quan trọng và sự phức tạp của hoạt động dịch vụ kho vận, qua thời gian thực tập tại phòng giao nhận – kho hàng công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây, chúng tôi xin chọn đề tài: “Nghiên cứu hoạt động kinh doanh dịch vụ kho vận tại công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây” làm chuyên đề tốt nghiệp môn học Nghiệp vụ thương mại Quốc tế. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu Đề tài được thực hiện hướng vào những mục tiêu như sau: - Hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn về hoạt động kinh doanh dịch vụ kho vận. - Nghiên cứu và phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ giao nhận, lưu kho, vận chuyển hàng hóa tại công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây. - Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ kho vận tại công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây. 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hệ thống dịch vụ giao nhận, lưu kho và vận tải tại công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây. 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu: - Không gian: Tại Xí nghiệp cung ứng dịch vụ và Phòng giao nhận kho hàng của công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây. Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 2 Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Huế - Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành với những hoạt động dịch vụ kho vận tại công ty trong thời gian từ năm 2008- 2010. 1.4 Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Số liệu về hoạt động kho vận tại công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây từ năm 2008-2010, số liệu về tình hình hoạt động kinh doanh, nguồn nhân lực của công ty trong 3 năm. - Phân tích và xử lí thông tin thu thập: Thông tin được thu thập thông qua các số liệu kho vận tại công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây. - Phương pháp thống kê các số liệu thu thập được, từ đó phân tích và xử lý số liệu thành các nhóm theo yêu cầu của đề tài. - Phương pháp so sánh số liệu qua các năm: Đây là phương pháp được ứng dụng nhiều trong phân tích hệ thống các chỉ tiêu. Về nguyên tắc cần phải đảm bảo các điều kiện có thể thể so sánh được của các chỉ tiêu (thống nhất về không gian, thời gian, nội dung, tính chất và đơn vị tính toán). Gốc so sánh được lựa chọn là gốc về mặt thời gian hoặc không gian. Kỳ phân tích là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch. Trong đề tài này, phương pháp này được sử dụng nhằm so sánh các số liệu để từ đó nhận định và xem xét sự thay đổi của các số liệu qua 3 năm, từ đó đưa ra các đánh giá phù hợp. Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 3 Chuyên Đề Tốt Nghiệp PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Cơ sở lí luận về hoạt động dịch vụ kho vận. 1.1.1 Hoạt động dịch vụ kho vận là gì? 1.1.1.1 Dịch vụ và dịch vụ kho vận. a. Dịch vụ: Dịch vụ là một khái niệm kinh tế hiện nay đang được các nhà nghiên cứu kinh tế và quản lí quan tâm để đưa ra thống nhất về định nghĩa của nó. Tuy nhiên, thật khó để đưa ra chính xác định nghĩa mà đúng với thực tế của loại hình kinh tế này. Đã có rất nhiều khái niệm về dịch vụ được xem xét. Có tác giả lại cho rằng: Dịch vụ là ngành kinh tế lớn thứ 3 trong nền kinh tế quốc dân. Dịch vụ nằm trong cấu trúc nền sản xuất xã hội, ngoài hai lĩnh sản xuất vật chất lớn là ngành công nghiệp và nông nghiệp ra, các ngành còn lại đều là ngành dịch vụ. Có tác giả lại cho rằng: dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dưới dạng hình thái vật phẩm. Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực với trình độ cao, chi phối rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế- xã hội; môi trường của từng quốc gia, khu vực nói riêng và toàn thế giới nói chung. Có tác giả lại định nghĩa: Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi , chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. Các định nghĩa trên về dịch vụ đều đúng, sự khác nhau của các định nghĩa là do các tác giả khái quát dưới các góc độ khác nhau. Việc hiểu dịch vụ theo nghĩa rộng hay theo nghĩa hẹp tùy theo đối tượng vào tính chất và phạm vi của dịch vụ, tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và mối quan hệ trong doanh nghiệp hay toàn nền kinh tế quốc dân. Tóm lại, thể định nghĩa dịch vụ một các nói chung nhất là: Dịch vụ là những hoạt động có ích của con người tạo ra những “sản phẩm” dịch vụ, không tồn tại dưới hình thái sản phẩm, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thõa mãn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và văn minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người. b. Dịch vụ kho vận Dịch vụ kho vận là một hoạt động bao gồm nhiều hoạt động dịch vụ xen kẽ nhau trong tổng thể hoạt động dịch vụ Logistics. Nó bao gồm các hoạt động dịch vụ giao nhận, vận tải, kho bãi và đại lí vận tải, cũng như các hoạt động liên quan đến các dịch Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 4 Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Huế vụ trên, kể cả các vấn đề về hải quan, tài chính, bảo hiểm hàng hóa, thanh toán hàng hóa, thu thập các chứng từ liên quan. 1.1.1.2 Tổng quan về giao nhận a. Khái quát chung về giao nhận (Freight forwarding): Theo “Quy tắc mẫu của liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao nhận (FIATA) về dịch vụ giao nhận”: Dịch vụ giao nhận được định nghĩa như là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá. Theo luật thương mại Việt Nam thì giao nhận hàng hoá là hành vi thương mại, theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hoá nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc của người giao nhận khác. Nói một cách ngắn gọn, giao nhận là tập hợp những nghiệp vụ, thủ tục có liên quan đến quá trình vận tải nhằm thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ nơi gửi hàng (người gửi hàng) đến nơi nhận hàng (người nhận hàng). Người giao nhận có thể làm các dịch vụ một cách trực tiếp hoặc thông qua đại lý và thuê dịch vụ của người thứ ba khác. b. Giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu tại cảng biển. b.1 Cơ sở pháp lý, nguyên tắc giao nhận hàng hoá XNK tại cảng. b.1.1 Cơ sở pháp lý: Việc giao nhận hàng hoá XNK phải dựa trên cơ sở pháp lý như các quy phạm pháp luật quốc tế, Việt Nam.... - Các Công ước về vận đơn, vận tải; Công ước quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hoá .... Ví dụ: Công ước Vienne 1980 về buôn bán quốc tế - Các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam về giao nhận vận tải; Các loại hợp đồng và L/C mới đảm bảo quyền lợi của chủ hàng XNK Ví dụ: Luật, bộ luật, nghị định, thông tư. Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 5 Chuyên Đề Tốt Nghiệp -Bộ luật hàng hải 1990 -Luật thương mại 1997 -Nghị định 25CP, 200CP,330CP -Quyết dịnh của bộ trưởng bộ giao thông vận tải: quyết định số 2106 (23/8/1997) liên quan đến việc xếp dỡ, giao nhận và vận chuyển hàng hoá tại cảng biển Việt Nam. b.1.2 Nguyên tắc giao nhận hàng hoá XNK tại cảng: Các văn bản hiện hành đã quy định những nguyên tắc giao nhận hàng hoá XNK tại các cảng biển Việt Nam như sau: - Việc giao nhận hàng hoá XNK tại các cảng biển là do cảng tiến hành trên cơ sở hợp đồng giữa chủ hàng và người được chủ hàng uỷ thác với cảng. - Ðối với những hàng hoá không qua cảng (không lưu kho tại cảng) thì có thể do các chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác giao nhận trực tiếp với người vận tải (tàu) (quy định mới từ 1991). Trong trường hợp đó, chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác phải kết toán trực tiếp với người vận tải và chỉ thoả thuận với cảng về địa điểm xếp dỡ, thanh toán các chi phí có liên quan. - Việc xếp dỡ hàng hóa trong phạm vi cảng là do cảng tổ chức thực hiện. Trường hợp chủ hàng muốn đưa phương tiện vào xếp dỡ thì phải thoả thuận với cảng và phải trả các lệ phí, chi phí liên quan cho cảng. - Khi được uỷ thác giao nhận hàng hoá xuất nhập khẩu với tàu, cảng nhận hàng bằng phương thức nào thì phải giao hàng bằng phương thức đó. - Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hoá khi hàng đã ra khỏi kho bãi, cảng. - Khi nhận hàng tại cảng thì chủ hàng hoặc người được uỷ thác phải xuất trình những chứng từ hợp lệ xác định quyền được nhận hàng và phải nhận được một cách liên tục trong một thời gian nhất định những hàng hoá ghi trên chứng từ. Ví dụ: vận đơn gốc, giấy giới thiệu của cơ quan.... - Việc giao nhận có thể do cảng làm theo uỷ thác hoặc chủ hàng trực tiếp làm. b.2 Nhiệm vụ của các cơ quan tham gia giao nhận hàng hoá XNK b.2.1 Nhiệm vụ của cảng: - Ký kết hợp đồng xếp dỡ, giao nhận, bảo quản, lưu kho hàng hoá với chủ hàng Hợp đồng có hai loại: Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 6 Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Huế + Hợp đồng uỷ thác giao nhận. + Hợp đồng thuê mướn: chủ hàng thuê cảng xếp dỡ vận chuyển, lưu kho, bảo quản hàng hoá. - Giao hàng xuất khẩu cho tàu và nhận hàng nhập khẩu từ tàu nếu được uỷ thác. - Kết toán với tàu về việc giao nhận hàng hoá và lập các chứng từ cần thiết khác để bảo vệ quyền lợi của các chủ hàng. - Giao hàng nhập khẩu cho các chủ hàng trong nước theo sự uỷ thác của chủ hàng xuất nhập khẩu. - Tiến hành việc xếp dỡ, vận chuyển, bảo quản, lưu kho trong khu vực cảng. - Chịu trách nhiệm về những tổn thất của hàng hoá do mình gây nên trong quá trình giao nhận vận chuyển xếp dỡ. - Hàng hoá lưu kho bãi của cảng bị hư hỏng, tổn thất thì cảng phải bồi thường nếu có biên bản hợp lệ và nếu cảng không chứng minh được là cảng không có lỗi. - Cảng không chịu trách nhiệm về hàng hoá trong các trường hợp sau: + Không chịu trách nhiệm về hàng hoá khi hàng đã ra khỏi kho bãi của cảng. + Không chịu trách nhiệm về hàng hoá ở bên trong nếu bao kiện, dấu xi vẫn nguyên vẹn + Không chịu trách nhiệm về hư hỏng do kỹ mã hiệu hàng hoá sai hoặc không rõ (dẫn đến nhầm lẫn mất mát). b.2.2 Nhiệm vụ của các chủ hàng xuất nhập khẩu: - Ký kết hợp đồng uỷ thác giao nhận với cảng trong trường hợp hàng qua cảng - Tiến hành giao nhận hàng hoá trong trường hợp hàng hoá không qua cảng hoặc tiến hành giao nhận hàng hoá XNK với cảng trong trường hợp hàng qua cảng. - Ký kết hợp đồng bốc dỡ, vận chuyển, bảo quản, lưu kho hàng hoá với cảng - Cung cấp cho cảng những thông tin về hàng hoá và tàu - Cung cấp các chứng từ cần thiết cho cảng để cảng giao nhận hàng hoá: * Ðối với hàng xuất khẩu: gồm các chứng từ: + Lược khai hàng hoá (cargo manifest): lập sau vận đơn cho toàn tàu, do đại lý tàu biển làm được cung cấp 24h trước khi tàu đến vị trí hoa tiêu. Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 7 Chuyên Đề Tốt Nghiệp + Sơ đồ xếp hàng (cargo plan) do thuyền phó phụ trách hàng hóa lập, được cung cấp 8h trước khi bốc hàng xuống tàu. * Ðối với hàng nhập khẩu: + Lược khai hàng hoá + Sơ đồ xếp hàng + Chi tiết hầm tàu ( hatch list) + Vận đơn đường biển trong trường hợp uỷ thác cho cảng nhận hàng. Các chứng từ này đều phải cung cấp 24h trước khi tàu đến vị trí hoa tiêu. - Theo dõi quá trình giao nhận để giải quyết các vấn đề phát sinh. - Lập các chứng từ cần thiết trong quá trình giao nhận để có cơ sở khiếu nại các bên có liên quan. - Thanh toán các chi phí cho cảng. b.2.3 Nhiệm vụ của hải quan - Tiến hành thủ tục hải quan, thực hiện việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đối với tàu biển và hàng hoá xuất nhập khẩu. - Ðảm bảo thực hiện các quy định của Nhà nước về xuất nhập khẩu, về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. - Tiến hành các biện pháp phát hiện, ngăn chặn, điều tra và xử lý hành vi buôn lậu, gian lận thương mại hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, ngoại hối, tiền Việt Nam qua cảng biển. b.3 Trình tự giao nhận hàng hoá XNK tại các cảng biển. b.3.1 Ðối với hàng xuất khẩu. b.3.1.1. Ðối với hàng hoá không phải lưu kho bãi tại cảng. Ðây là hàng hoá XK do chủ hàng ngoại thương vận chuyển từ các nơi trong nước để xuất khẩu, có thể để tại các kho riêng của mình chứ không qua các kho của cảng. Từ kho riêng, các chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác có thể giao trực tiếp cho tàu. Các bước giao nhận cũng diễn ra như đối với hàng qua cảng. Ðưa hàng đến cảng: do các chủ hàng tiến hành - Làm các thủ tục xuất khẩu, giao hàng cho tàu + Chủ hàng ngoại thương phải đăng ký với cảng về máng, địa điểm, cầu tàu xếp dỡ Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 8 Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Huế + Làm các thủ tục liên quan đến xuất khẩu như hải quan, kiểm dịch... + Tổ chức vận chuyển, xếp hàng lên tàu + Liên hệ với thuyền trưởng để lấy sơ đồ xếp hàng + Tiến hành xếp hàng lên tàu do công nhân của cảng làm, nhân viên giao nhận phải theo dõi quá trình để giải quyết các vấn đề xảy ra, trong đó phải xếp hàng lên tàu và ghi vào tally sheet (phiếu kiểm kiện). + Lập biên lai thuyền phó ghi số lượng, tình trạng hàng hoá xếp lên tàu (là cơ sở để cấp vận đơn). Biên lai phải sạch. + Người chuyên chở cấp vận đơn, do chủ hàng lập và đưa thuyền trưởng ký, đóng dâú. + Lập bộ chứng từ thanh toán tiền hàng được hợp đồng hoặc L/C quy định + Thông báo cho người mua biết việc giao hàng và phải mua bảo hiểm cho hàng hoá (nếu cần). + Tính toán thưởng phạt xếp dỡ hàng nhanh chậm (nếu có). b.3.1.2. Ðối với hàng phải lưu kho bãi của cảng Ðối với loại hàng này, việc giao hàng gồm hai bước lớn: chủ hàng ngoại thương (hoặc người cung cấp trong nước) giao hàng XK cho cảng, sau đó cảng tiến hành giao hàng cho tàu. * Giao hàng XK cho cảng bao gồm các công việc: - Chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác ký kết hợp đồng lưu kho bảo quản hàng hoá với cảng - Trước khi giao hàng cho cảng, phải giao chi cảng các giấy tờ: + Danh mục hàng hoá XK (cargo list) + Thông báo xếp hàng của hãng tàu cấp ( shipping order) nếu cần. + Chỉ dẫn xếp hàng (shipping note) - Giao hàng vào kho, bãi cảng. * Cảng giao hàng cho tàu: - Trước khi giao hàng cho tàu, chủ hàng phải: + Làm các thủ tục liên quan đến XK: hải quan, kiểm dịch, kiểm nghiệm (nếu có.... + Báo cho cảng ngày giờ dự kiến tàu đến (ETA), chấp nhận NOR (notice of ready). Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 9 Chuyên Đề Tốt Nghiệp + Giao cho cảng sơ đồ xếp hàng. - Tổ chức xếp và giao hàng cho tàu: + Trước khi xếp, phải tổ chức vận chuyên hàng từ kho ra cảng, lấy lệnh xếp hàng, ấn định số máng xếp hàng, bố trí xe và công nhân và người áp tải nếu cần + Tiến hành bốc và giao hàng cho tàu. Việc xếp hàng lên tàu do công nhân cảng làm. Hàng sẽ được giao cho tàu dưới sự giám sát của đại diện hải quan. Trong quá trình giao hàng, nhân viên kiểm đếm của cảng phải ghi số lượng hàng giao vào bản tổng kết hàng (Tally Report), cuối ngày phải ghi vào bản tường thuật hằng ngày (Daily Report) và khi xếp xong một tàu, ghi vào bản kết thúc xếp dỡ (Final Report). Phía tàu cũng có nhân viên kiểm đếm và ghi kết quả vào Tally Sheet. Việc kiểm đếm cũng có thể thuê nhân viên của công ty kiểm kiện. + Khi giao nhận xong một lô hoặc toàn tàu, cảng phải lấy biên lai thuyền phó (Mate’e Receipt) để trên cơ sở đó lập vận đơn (B/L). - Lập bộ chứng từ thanh toán: Căn cứ vào hợp đồng mua bán và L/C, nhân viên giao nhận phải lập hoặc lấy các chứng từ cần thiết tập hợp thành bộ chứng từ, xuất trình cho ngân hàng để thanh toán tiền hàng. Nếu thanh toán bằng L/C thì bộ chứng từ thanh toán phải phù hợp một cách máy móc với L/C và phải phù hợp với nhau và phải xuất trình trong thời hạn hiệu lực của L/C. - Thông báo cho người mua về việc giao hàng và mua bảo hiểm cho hàng hoá (nếu cần). - Thanh toán các chi phí cần thiết cho cảng như chi phí bốc hàng, vận chuyển, bảo quản, lưu kho.... - Tính toán thưởng phạt xếp dỡ, nếu có. b.3.2 Ðối với hàng nhập khẩu: b.3.2.1.Ðối với hàng không phải lưu kho, bãi tại cảng. Trong trường hợp này, chủ hàng hoặc người được chủ hàng uỷ thác đứng ra giao nhận trực tiếp với tàu. - Ðể có thể tiến hành dỡ hàng, 24 giờ trước khi tàu đến vị trí hoa tiêu, chủ hàng phải trao cho cảng một số chứng từ: + Bản lược khai hàng hoá (2 bản) Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 10 Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Huế + Sơ đồ xếp hàng (2 bản) + Chi tiết hầm hàng (2 bản) + Hàng quá khổ, quá nặng (nếu có) - Chủ hàng xuất trình vận đơn gốc cho đại diện của hãng tàu. - Trực tiếp nhận hàng từ tàu và lập các chứng từ cần thiết trong quá trình nhận hàng như: + Biên bản giám định hầm tàu (lập trước khi dỡ hàng) nhằm quy trách nhiệm cho tàu về những tổn thất xảy sau này. + Biên bản dỡ hàng (COR) đối với tổn thất rõ rệt. + Thư dự kháng (LOR) đối với tổn thất không rõ rệt. + Bản kết toán nhận hàng với tàu (ROROC). + Biên bản giám định. + Giấy chứng nhận hàng thiếu (do đại lý hàng hải lập) - Khi dỡ hàng ra khỏi tàu, chủ hàng có thể đưa về kho riêng để mời hải quan kiểm hoá. Nếu hàng không có niêm phong cặp chì phải mời hải quan áp tải về kho. - Làm thủ tục hải quan. - Chuyên chở về kho hoặc phân phối hàng hoá. b.3.2.2. Ðối với hàng phải lưu kho, lưu bãi tại cảng: * Cảng nhận hàng từ tàu: - Dỡ hàng và nhận hàng từ tàu (do cảng làm) - Lập các giấy tờ cần thiết trong quá trình giao nhận (nhân viên giao nhận phải cùng lập). - Ðưa hàng về kho bãi cảng * Cảng giao hàng cho các chủ hàng: - Khi nhận được thông báo hàng đến, chủ hàng phải mang vận đơn gốc, giấy giới thiệu của cơ quan đến hãng tàu để nhận lệnh giao hàng (D/O - delivery order). Hãng tàu hoặc đại lý giữ lại vận đơn gốc và trao 3 bản D/O cho người nhận hàng. - Chủ hàng đóng phí lưu kho, phí xếp dỡ và lấy biên lai. Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 11 Chuyên Đề Tốt Nghiệp - Chủ hàng mang biên lai nộp phí, 3 bản D/O cùng hoá đơn và phiếu đóng gói đến văn phòng quản lý tàu tại cảng để ký xác nhận D/O và tìm vị trí hàng, tại đây lưu 1 bản D/O. - Chủ hàng mang 2 bản D/O còn lại đến bộ phận kho vận để làm phiếu xuất kho. Bộ phận này giữ 1 D/O và làm 2 phiếu xuất kho cho chủ hàng. - Làm thủ tục hải quan qua các bước sau: + Xuất trình và nộp các giấy tờ: . Tờ khai hàng NK . Giấy phép nhập khẩu . Bản kê chi tiết . Lệnh giao hàng của người vận tải . Hợp đồng mua bán ngoại thương . Một bản chính và một bản sao vận đơn .Giấy chứng nhận xuất xứ . Giấy chứng nhận phẩm chất hoặc kiểm dịch nếu có . Hoá đơn thương mại + Hải quan kiểm tra chứng từ + Kiểm tra hàng hoá + Tính và thông báo thuế. + Chủ hàng ký nhận vào giấythông báo thuế (có thể nộp thuế trong vòng 30 ngày) và xin chứng nhận hoàn thành thủ tục hải quan. - Sau khi hải quan xác nhận “hoàn thành thủ tục hải quan” chủ hàng có thể mang ra khỏi cảng và chở về kho riêng của chủ hàng. 1.1.1.3 Vận tải a. Khái quát chung về vận tải Trong các nhu cầu của xã hội, nhu cầu được di chuyển bản thân, sản phẩm lao động và công cụ sản xuất về mặt không gian và thời gian là một nhu cầu tất yếu không thể thiếu. Theo nghĩa rộng, vận tải là một quy trình kĩ thuật của bất kì sự di chuyển vị trí nào của vật phẩm và con người. Tuy nhiên, theo nghĩa hẹp, vận tải chỉ bao gồm những sự di chuyển của vật phẩm và con người khi thõa mãn đồng thời hai tính chất: là một Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 12 Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Huế hoạt động sản xuất vật chất đặc biệt và là một hoạt động kinh tế độc lập. Để giải thích tại sao vận tải lại là một hoạt động sản xuất vật chất đặc biệt, chúng ta có những lí do sau: - Vận tải là một ngành có công cụ lao động, đối tượng lao động và sức lao động. - Sản xuất trong ngành vận tải là một quá trình tác động làm thay đổi về mặt không gian của đối tượng chuyên chở. - Sản phẩm của vận tải là vô hình, và sản xuất trong ngành vận tải là không tạo ra sản phẩm mới - Sản phẩm vận tải không tồn tại độc lập ngoài quá trình sản xuất ra nó - Sản phẩm trong ngành vận tải không có thể dự trữ (đây là một hoạt động dịch vụ). b. Vai trò của vận tải đối với nền kinh tế quốc dân Ngành giao thông vận tải (GTVT) là một trong những ngành kinh tế kĩ thuật quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Một măt, ngành GTVT có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu chuyên chở của toàn bộ nền kinh tế- xã hội và ngành GTVT cũng sáng tạo ra một phần đáng kể trong tổng sản phẩm trong nước và thu nhập quốc dân. Mặt khác, ngành GTVT lại là một thị trường tiêu thụ rất lớn các sản phẩm của các ngành kinh tế kĩ thuật khác. - GTVT là yếu tố quan trọng đảm bảo cho quá trình sản xuất và tái sản xuất của xã hội được liên tục thông qua việc vận chuyển cung ứng nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm và lao động phục vụ sản xuất. - GTVT giúp cho quá trình lưu thông hàng hóa được thực hiện và được phân phối đến nơi tiêu thụ và người tiêu dùng. Bên cạnh đó, GTVT giúp cho quá trình giao lưu văn hóa được mở rộng, trao đổi hàng hóa được phát triển giữa các quốc gia. - GTVT đáp ứng nhu cầu đi lại ngày càng tăng của người dân. Nó góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi tầng lớp nhân dân. Bên cạnh đó, GTVT góp phần khắc phục tình trạng phát triển không đồng đều giữa nông thôn và thành thị, giữa vùng đồng bằng và miền núi, hải đảo. - GTVT góp phần tăng cường khả năng quốc phòng, giữ gìn an ninh xã hội và bảo vệ đất nước. 1.1.1.4 Kho bãi, Bốc xếp và Lưu kho. Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 13 Chuyên Đề Tốt Nghiệp a. Khái quát chung về kho bãi: a.1 Khái niệm: Kho bãi là một phần của hệ thống Logistics, nơi cất giữ những sản phẩm như nguyên vật liệu thô, bán thành phẩm, thành phẩm,… trong suốt quá trình chu chuyển từ điểm đầu đến điểm cuối của dây chuyền cung ứng, và cung cấp thông tin về tình trạng, điều kiện và cách sắp xếp của hàng hóa được cất giữ. a.2 Chức năng của kho bãi: Kho bãi có thể sử dụng để hỗ trợ sản xuất, để ghép đồng bộ các sản phẩm từ các nhà máy khác nhau để giao cho khách hàng; tách các lô hàng lớn hoặc chia một khối lượng lớn thành các lô hàng nhỏ để thõa mãn nhu cầu của một số khách hàng; và kết hợp hoặc gom nhiều lô hàng nhỏ thành lô hàng với khối lượng lớn hơn. Nhà kho được sử dụng như một nơi trung chuyển hơn là một nơi giữ hàng như trước đây. Do vậy kho bãi có các chức năng chính sau: - Trong các hoạt động hỗ trợ sản xuất, nhà kho có vai trò như đầu vào hợp nhất của các biên nhận vật tư từ các nhà cung cấp. Hàng hóa sẽ được cất giữ trong kho và giao cho nhà máy sản xuất khi có nhu cầu. Kho nguyên vật liệu thường nằm ngay trong nhà máy, nên việc cung cấp hàng rất nhanh chóng, thuận lợi. Nhờ có kho đảm bảo được vật tư, hỗ trợ cho sản xuất được tiến hành liên tục nhịp nhàng, cho ra những sản phẩm đúng chất lượng, đủ số lượng , đáp ứng kịp thời cho thị trường, đúng thời gian. - Từ một khối lượng đầu ra lớn, nhà kho được sử dụng để tổng hợp hàng hóa, hoặc chia tách hàng hóa. Mỗi nhà máy chỉ sản xuất một phần của tổng sản phẩm cung cấp cho công ty. Vận chuyển thường là với khối lượng lớn (TL hoặc CL) đến kho trung tâm, nơi mà khách hàng đặt hàng cho nhiều sản phẩm được kết hợp hoặc ghép đồng bộ tại đó rồi vận chuyển. - Quản lý vận chuyển có thể là cả hệ thống cung cấp vật chất và hệ thống phân phối vật chất. Trong trường hợp của cung cấp vật chất, những đơn đặt hàng nhỏ từ một số nhà cung cấp có thể được vận chuyển đến kho gom hàng gần nguồn cung ứng; bằng cách này người sản xuất có thể đạt được nguyên toa xe hoặc toa tàu để vận chuyển về nhà máy, đây là cách thông thường cho khoảng cách lớn từ nhà kho. Kho hàng được đặt ở vị trí gần nguồn cung ứng, vì vậy phương thức giao không nguyên xe chỉ áp dụng cho một đoạn đường ngắn, và khối lượng được sử dụng cho đoạn đường dài từ nhà kho Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 14 Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Huế đến nhà máy. Tại kho của công ty, hàng được tập trung từ nhiều nhà cung cấp thành một lô hàng lớn để cung cấp cho khách hàng. - Kho tách hàng là nơi nhận khối lượng hàng chuyên chở lớn của sản phẩm từ một nhà máy sản xuất. Một số đơn đặt hàng được kết hợp thành một khối vận chuyển đơn lẻ từ nhà máy đến kho tách hàng. Khi kho hàng đã nhận hàng, tại đây sẽ tiến hành tách lô hàng lớn đó thành những lô hàng nhỏ hơn phù hợp với yêu cầu của khách hàng. Sau đó vận chuyển đến khách hàng bằng phương thức giao không nguyên xe(LTL). b. Bốc xếp và lưu kho: Bốc xếp là một chuỗi hoạt động với sự hỗ trợ bởi nhiều phương tiện nhằm đưa hàng hóa vào kho bãi bằng nhiều hình thức khác nhau. Có nhiều hình thức bốc xếp khác nhau trong đó một nội dung quan trọng đó là sự bảo đảm chất lượng và số lượng hàng hóa trong quá trình bốc xếp. Bên cạnh đó, kĩ thuật bốc xếp hàng hóa cần sự kinh nghiệm và chuyên môn của đội ngũ kĩ thuật công nhân bốc xếp. Sự thận trọng bao giờ cũng là cách để doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này đảm bảo uy tín và trách nhiệm trên thị trường. Lưu kho là một hoạt động nhằm mục đích bảo quản hay dự trữ hàng hóa. Nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất hay tái sản xuất có đủ nguyên nhiên liệu, thành phẩm, bán thành phẩm cần thiết phục vụ quá trình lưu thông hàng hóa. Có nhiều hình thức và phương pháp lưu kho khác nhau mà mỗi doanh nghiệp lựa chọn phục vụ cho khách hàng của mình. Đồng thời, mỗi chủng loại hàng hóa lại được lưu kho theo những tiêu chuẩn khác nhau. Nhằm đảm bảo tốt nhất cho hàng hóa được đúng chất lượng và đủ số lượng. 1.1.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ kho vận. 1.1.2.1 Chỉ tiêu về doanh thu: Chỉ tiêu về doanh thu là một chỉ tiêu nhằm đánh giá hiệu quả công việc kinh doanh của một công ty dựa trên số liệu về toàn bộ số tiền thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Đối với công ty chuyên về lĩnh vực giao nhận, doanh thu chủ yếu thu được từ các công việc dịch vụ: dịch vụ cho thuê kho bãi, dịch vụ vận tải, dịch vụ lưu kho, vv..vv.., bên cạnh đó, dịch vụ tư vấn cũng đóng góp đáng kể vào doanh thu cho doanh nghiệp kho vận. Do vậy, có thể nói doanh thu của một doanh nghiệp có Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 15 Chuyên Đề Tốt Nghiệp được từ nhiều hình thức khác nhau nhưng chung quy lại, điều đó đều được xuất phát từ các chính sách hợp lí của doanh nghiệp. 1.1.2.2 Chỉ tiêu về chi phí. Chỉ tiêu chi phí là một chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. chỉ tiêu này dựa vào số tiền doanh nghiệp phải bỏ ra cho các hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu về một khoản doanh thu lớn hơn số tiền doanh nghiệp bỏ ra. Đối với doanh nghiệp vận tải và giao nhận, chỉ tiêu chi phí bao gồm các hoạt động doanh nghiệp bỏ ra hỗ trợ chi phí như chi phí xăng dầu cho vận tải, chi phí cho công nhân bốc xếp, công nhân vận tải, chi phí thuê xe ngoài (trong trường hợp doanh nghiệp không có đủ số phương tiện làm hàng)…..do đó, chỉ tiêu này luôn được các doanh nghiệp xem xét cẩn trọng nhằm có các chính sách tiết kiệm phù hợp chi phí nhằm nâng cao hoạt động cho doanh nghiệp. 1.1.3 Tầm quan trọng của hoạt động kho vận trong nền kinh tế thị trường Giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu là ngành nghề dịch vụ thương mại gắn liền và liên quan mật thiết tới hoạt động ngoại thương và vận tải đối ngoại. Đây là một loại hình dịch vụ thương mại không cần đầu tư nhiều vốn nhưng mang lại một nguồn lợi tương đối chắc chắn và ổn định nếu biết khéo léo tổ chức và điều hành trên cơ sở tận dụng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có. Trong xu thế quốc tế hoá đời sống như hiện nay thì hoạt động giao nhận kho vận càng có vai trò quan trọng. Điều này thể hiện ở: - Đặc điểm nổi bật của thương mại quốc tế là người mua và người bán ở những nước khác nhau. Sau khi hợp đồng mua bán được ký kết, người bán thực hiện việc giao hàng tức là hàng được vận chuyển từ người bán sang người mua. Để cho quá trình vận chuyển đó được bắt đầu, tiếp tục và kết thúc tức là hàng hoá tới tay người mua, cần phải thực hiện một loạt các công việc khác nhau liên quan tới chuyên chở như: đưa hàng ra cảng, làm thủ tục gửi hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng ở dọc đường, dỡ hàng ra khỏi tàu và giao cho người nhận. . . tất cả những công việc đó là nghiệp vụ của người giao nhận. Như vậy, trước tiên nghiệp vụ giao nhận là điều kiện không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của thương mại quốc tế. - Hoạt động giao nhận tạo điều kiện cho hàng hoá lưu thông nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm mà không cần có sự tham gia hiện diện của người gửi cũng như người nhận hàng. Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 16 Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Huế - Giúp người chuyên chở đẩy nhanh tốc độ vòng quay của các phương tiện vận tải; tận dụng một cách tối đa và có hiệu quả dung tích, trọng tải của các phương tiện vận tải, các công cụ vận tải cũng như các phương tiện hỗ trợ khác. - Tạo điều kiện cho các nhà xuất nhập khẩu có thể tập trung vào hoạt động kinh doanh của họ. - Góp phần giảm giá thành hàng hoá xuất nhập khẩu. - Bên cạnh đó, giao nhận cũng giúp các nhà xuất nhập khẩu giảm bớt các chi phí không cần thiết khác như: chi phí xây dựng kho hàng, bến bãi nhờ vào việc sử dụng kho hàng, bến bãi của người giao nhận, chi phí đào tạo nhân công. 1.2. Cơ sở thực tiễn hoạt động kho vận trên thế giới và tại Việt Nam Trên thế giới hiện nay, nhất là ở các nước phát triển, hệ thống cảng biển đã phát triển vượt bậc, những ứng dụng công nghệ thông tin vào phát triển cảng biển và hệ thống giao thông đường biển càng làm cho ngành kinh tế biển ngày càng được các quốc gia xem như là ngành phát triển kinh tế chính của đất nước. Một số ví dụ điển hình là các quốc gia như Vương Quốc Đan Mạch, Hà Lan, Hoa Kì, Nhật Bản…..ở các quốc gia đó, các cảng luôn có lượng hàng hóa giao nhận luân phiên với số lượng lớn như cảng Rotterdam (Hà Lan) là 300 triệu tấn/năm hay ở cảng Kobe (Nhật Bản) là 136 triệu tấn/năm (số liệu năm 1998, theo giáo trình Vận tải trong ngoại thương- NXB GTVT Hà Nội, năm 2003)… Tuy nhiên, để đạt được các con số về lượng hàng hóa xếp dỡ hay giao nhận, cần phải kể đến sự hoạt động tích cực và định hướng phát triển cảng biển của ban lãnh đạo các cảng biển trong hoạt động giao nhận, kho vận. Các hoạt động dịch vụ này đem lại lợi nhuận lớn cho các cảng giúp các cảng biển luôn đủ tiềm lực để phát triển trong tương lai. Tại Việt Nam trong những năm gần đây, Đảng và Chính phủ đang có những định hướng phát triển cụ thể các cảng biển tại Việt Nam với mục tiêu đưa ngành kinh tế biển ngang tầm khu vực, số lượng hàng hóa giao nhận hằng năm đạt được con số 2300 triệu tấn/ năm vào năm 2030. Tuy nhiên nhiều bài học của các quốc gia đi trước luôn là những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trên con đường phát triển thành một đất nước công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ cảng biển. CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ GIAO NHẬN KHO HÀNG TẠI CÔNG TY TNHH MTV CẢNG CHÂN MÂY Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 17 Chuyên Đề Tốt Nghiệp 2.1. Giới thiệu chung về công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển: Thực hiện chủ trương của Văn phòng Chính phủ về việc quản lý và xây dựng Cảng nước sâu Chân Mây tại Quyết định số 2832/VPCP– ĐP1 ngày 10/07/2000. UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế đã giao cho Ban quản lý Dự án Chân Mây làm chủ đầu tư xây dựng công trình bến số 1 Cảng Chân Mây và khánh thành vào ngày 19/05/2003. Sau đó giao nhiệm vụ cho Ban quản lý dự án Chân Mây tiếp tục vận hành và khai thác Cảng dưới hình thức là đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngày 07/12/2006 UBND Tỉnh có Quyết định số 2798/QĐ- UBND về việc chuyển đổi Ban Quản lý Dự án Chân Mây thành Cảng Chân Mây là đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động, chịu sự quản lý và chỉ đạo trực tiếp của Ban quản lý khu kinh tế Chân Mây Lăng Cô, có tư cách pháp nhân có con dấu và tài khoản để hoạt động. Căn cứ công văn số 2677/UBND – NCCS ngày 27/06/2007 của UBND Tỉnh về việc chuyển giao Cảng Chân Mây thuộc Ban quản lý Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô cho Tập đoàn Công nghiệp Tàu Thủy Việt Nam (Vinashin). Căn cứ thông báo số 10/TP-VPCP ngày 12/01/2007 Của văn phòng Chính phủ đồng ý chuyển giao Cảng Chân Mây cho Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin), biên bản thống nhất bàn giao-Tiếp nhận Cảng Chân Mây ngày 25/02/2007 giữa tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam và Ban quản Lý Khu kinh tế Chân Mây Lăng Cô, có sự chứng kiến của Chủ tich UBND tỉnh Thừa Thiên Huế và Chủ Tịch HĐQT Tập đoàn Công nghiệp Tàu Thuỷ Việt Nam. Ngày 28/09/2007 hội đồng quản trị tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) có Quyết định số 3128/ QĐ–CNT–TCCB–LĐ về việc thành lập Công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây trên cơ sở Cảng Chân Mây - thuộc Ban quản lý Khu kinh tế Chân Mây Lăng Cô tỉnh Thừa Thiên Huế. Thực hiện chiến lược phát triển ngành công nghiệp tàu thủy Việt Nam, việc đầu tư mở rộng, nâng cao năng lực sản xuất, đầu tư phát triển cảng và các nhà máy đóng tàu có dây chuyền công nghệ hiện đại, đồng bộ có một ý nghĩa quyết định đến chất lượng Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 18 Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Huế sản phẩm, khả năng cạnh tranh trên thị trường đóng tàu với các nước trong khu vực và trên thế giới. Việc thành lập công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây để phát triển du lịch dịch vụ và phát triển các ngành công nghiệp đóng tàu. Trên cơ sở đó thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước phát triển cơ sở sản xuất ...Tăng nguồn thu ngân sách, tạo nhiều việc làm cho người lao động địa phương. 2.1.2 Cơ cấu tổ chức Công ty áp dụng mô hình chủ tịch công ty. Cơ cấu tổ chức quản lý điều hành công ty bao gồm: Chủ tịch công ty, Giám đốc, các Phó Giám đốc, Kế toán trưởng công ty và các phòng ban chuyên môn, nghiệp vụ. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận: - Chủ tịch công ty: Chủ tịch công ty do Hội đồng quản trị Tập đoàn quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật, mức lương, thưởng và các lợi ích khác theo đề nghị của công ty mẹ. Chủ tịch công ty nhân danh đại diện chủ sở hữu tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu công ty, chịu trách nhiệm trước pháp luật, công ty mẹ và trước tập đoàn về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo quy định. - Giám đốc: là người đại diện theo pháp luật của công ty do Hội đồng quản trị Tập đoàn quyết định bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng, miễn nhiệm hoặc chấm dứt hợp đồng, khen thưởng, kỷ luật, quyết định mức lương, thưởng và các lợi ích khác theo đề nghị của công ty mẹ. Giám đốc của công ty thực hiện chức trách điều hành hoạt động của công ty theo quy định của pháp luật và theo nhiệm vụ, quyền hạn quy định, chịu trách nhiệm trước pháp luật và hội đồng quản trị tập đoàn, công ty mẹ và chủ tịch công ty về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ của mình theo quy định. - Phó Giám đốc: Do Hội đồng quản trị Tập đoàn quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng theo đề nghị của chủ tịch công ty. Các Phó Giám đốc công ty điều hành công ty theo sự phân công của Giám đốc, chịu trách nhiệm trước pháp luật, Chủ tịch và Giám đốc công ty về nhiệm vụ được phân công. Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 19 Chuyên Đề Tốt Nghiệp Chủ Tịch Giám Đốc Phó Giám Đốc Khai Thác Phòng thương vụ - tiếp thị Xí nghiệp xếp dỡ Phó Giám Đốc Kỹ Thuật XN cung ứng dịch vụ Thủy đội Phòng kế toán tài vụ Phòng hành chính tổng hợp Phòng giao nhận kho hàng Đội bảo vệ Tổ vệ sinh công nghiệp Phòng khai thác Phòng kỹ thuật Đội cơ giới Đội bảo trì Nhà ăn ca Sơ đồ 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây (Nguồn: http://chanmayport.com.vn) - Kế toán trưởng: Do Hội đồng quản trị Tập đoàn quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc ký hợp đồng, chấm dứt hợp đồng theo đề nghị của chủ tịch công ty. Kế toán trưởng có nhiệm vụ thực hiện công tác liên quan đến tài chính, kế toán của công ty. Giúp chủ tịch, Giám đốc công ty giám sát tài chính của công ty theo quy định của pháp luật tài chính, kế toán chịu trách nhiệm trước pháp luật, Chủ tịch và Giám đốc công ty về niệm vụ được giao. Sinh viên nhóm 3 - Lớp K42 QTKD Thương Mại Trang 20
- Xem thêm -