Tìm hiểu về chuỗi cung ứng của nokia

  • Số trang: 15 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 23 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 Chủ đề: tìm hiểu về chuỗi cung ứng của NOKIA Biểu trưng của nokia với khẩu hiệu “connecting people”: kết nối con người Danh sách nhóm 10: LỚP 54CKD3 1. TRẦN THỊ KIM HỒNG 2. TRƯƠNG THUẦN TUẤN ANH 3. TRƯƠNG THUẦN TUẤN ĐẠI 4. NGUYỄN ĐÌNH DUY 5. NGUYỄN HOÀI VŨ 6. NGYỄN TRƯỜNG MINH HẢI 7. VÕ HOÀNG VY 2 MỤC LỤC Trang I.Sơ lược về NOKIA……………………………………………………..3-5 1. Giới thiệu chung…………………………………………………....3 2. Các bộ phận kinh doanh của nokia………………………………4-5 II. Mô hình chuỗi cung ứng của nokia về điện thoại di động……………6-9 1. Nhà cung cấp……………………………………………………....8 2. Nhà xưởng………………………………………………………....9 3. Nhà phân phối……………………………………………………..9 4. Nhà bán lẻ………………………………………………………....9 5. Khách hàng………………………………………………………..9 III. Cách thức hoạt động của chuỗi cung ứng…………………………..9-11 1. Chiến lược Just in time…………………………………………9-10 2. Chuỗi cung ứng “xanh”…………………………………….... 10-11 IV. Nguyên nhân thành công và nguyên nhân thất bại của nokia…… 1. Nguyên nhân thành công………………………………………..11-13 2. Nguyên nhân thất bại………………………………………....13-14 V. Bài học…………………………………………………………………15 3 I.Sơ lược về nokia 1.Giới thiệu chung Nokia là tập đoàn quốc gia được thành lập bởi 3 công ty: Nokia Corporation(Nhà máy sản xuất bột giấy – 1865), Finish Rubber Works(sx ủng cao su, lốp ,các sp cao công nghiệp và tiêu dung-1898), Finish Cable Works(Nhà cung cấp cáp điện, tín hiệu, điện thoại-1912) Thành lập: 1966 Trụ sở: Espoo, Phần Lan trung tâm nghiên cứu và phát triển của Nokia đặt tại Phần lan, Đức,TQ,My với hơn 100.000 nhân viên tại 120 quốc gia Thành viên chủ chốt: Fredrik Idestam: Người sáng lập; Jorma Ollila: Chủ tịch HĐQT & Tổng Giám đốc, Olli-Pekka Kallasvuo: Chủ tịch Nokia & COO Ngành nghề : Viễn thông Sản phẩm: BlueRun Ventures Hệ thống vệ tinh cho gia đình Thiết bị chơi di động Điện thoại di động Set-top box Thiết bị dữ liệu không dây Thiết bị chuyển mạch không dây Thiết bị không dây Thiết bị giọng nói không dây Doanh thu : 41 tỉ EUR (2008),Thị phần 40% (2008) Tính năm 2013 doanh thu giảm còn 12,7 EUR, Nokia đã công bố một thỏa thuận với Microsoft, theo đó sẽ bán đáng kể tất cả các thiết bị và dịch vụ kinh doanh của mình cho Microsoft. Giao dịch được hoàn tất vào ngày 25 tháng 4 năm 2014. 2.Các bộ phận kinh doanh của NOKIA Từ tháng 1 năm 2014, nokia đã sắp xếp lại cấu trúc tổ chức toàn cầu nhằm tập trung vào tính hội tụ, các thị trường di động mới và đang tăng trưởng. Để phục vụ các lãnh vực kinh doanh mới trong thời đại di động trong khi vẫn củng cố được vị trí hàng đầu trong lĩnh vực truyền thông thoại di động, Nokia đã có 4 bộ phận kinh doanh để đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của 4 mỗi lĩnh vực: -Mobile Phone cung cấp nhiều sản phẩm điện thoại di động có tính cạnh tranh cao trên toàn cầu cho các phân khúc khách hàng lớn và phát triển điện thoại di động cho tất cả các chuẩn chính và các phân khúc khách hàng tại hơn 130 quốc gia, Bộ phận này chịu trách nhiệm kinh doanh điện thoại di động chính, chủ yếu dựa trên các công nghệ WCDMA, GSM, CDMA và TDMA. Mobile phone tập trung cung cấp những sản phẩm điện thoại giàu tính năng cho tất cả các phân khúc trên thị trường toàn cầu. -Multimedia cung cấp đa truyền thông di động cho khách hàng qua các thiết bị di động và ứng dụng tiên tiến. Các sản phẩm có tính năng và chức năng như hình ảnh, trò chơi, âm nhạc, truyền thông và một loạt các nội dung hấp dẫn khác cũng như các phụ kiện di động và giải pháp sáng tạo. -Networks tiếp tục cung cấp hạ tầng mạng, công nghệ hàng đầu và các dịch vụ lien quan dựa trên các chuẩn không dây chính cho các nhà điều 5 hành di động và các nhà cung cấp dịch vụ. Tập trung vào các công nghệ GSM, bộ phận Networks hướng đến vị trí hàng đầu trong lĩnh vực GSM, EDGE và WCDMA. Các mạng của chúng tôi được lắp đặt ở tất cả các thị trường chính trên toàn cầu theo những tiêu chuẩn này, Networks cũng là bộ phận cung cấp hàng đầu việc truy cập băng thông rộng và các mạng TETRA cho những người sử dụng chuyên nghiện trong lĩnh vực an toàn và bảo mật. -Enterprise Solutions cung cấp hàng loạt các thiết bị đầu cuối và giải pháp kết nối di động không dây dựa trên cấu trúc di động cuối-cuối chuyên dành cho doanh nghiệp và các tổ chức trên toàn cầu giúp cải tiếng hoạt động thông qua tính di động mở rộng. Các giải pháp cuối-cuối bao gồm từ các thiết bị di động tối ưu hòa cho doanh nghiệp trên Front end đến một danh sach nhiều cổng gateway tối ưu hóa doanh nghiệp di động bao gồm: internet và email không dây, di động ứng dụng, bảo vệ tin nhắn, các mạng cá nhân ảo, bức tường lửa và bảo vệ chống xâm nhập. 6 II.Mô hình chuỗi cung ứng của nokia về điện thoại di động Nhà cung cấp Nhà xưởng Nhà phân phối Nhà bán lẻ Sơ đồ chuỗi cung ứng ĐTDĐ của NOKIA Khách hàng đặt hàng trực tuyến đến Nokia, sau đó có 2 cách để Nokia đưa sản phẩm đến với khách hàng là giao hàng trực tiếp và thông qua hệ thống kênh bán sỉ và bán lẻ: -Sau khi nhận được thông tin từ khách hàng, các nhà bán lẻ sẽ liên hệ với nhà phân phối và nhà phân phối sẽ đặt hàng với nhà xưởng/nhà sản xuất. Nhà xưởng liên hệ với các nhà cung cấp linh kiện và tiến hành sản xuất theo yêu cầu của khách hàng. Khi có nhu cầu đột biến thì các nhà phân phối và nhà bán lẻ là người trữ hàng và tồn kho. -Hoặc khách hàng đặt hàng với nhà sản xuất, sau đó nhà sản xuất liên hệ với các nhà cung cấp linh kiện, tiến hành sản xuất sản phẩm và giao trực tiếp cho khách hàng Ngoài ra, họ đã thuê ngoài hầu hết các hoạt động sản xuất của họ bằng cách ký hợp đồng với các nhà sản xuất gia công cơ bản và các nhà hậu cần bên ngoài để cung ứng dịch vụ vận chuyển, kho bãi và các dịch vụ gia tăng giá trị khác, như bao gói cuối cùng, kiểm tra cấu trúc sản phẩm. Ngoài ra, Nokia còn hợp tác với các hãng sản xuất phần mềm như Microsoft…nhằm kết hợp phần mềm Office của nó vào dòng điện thoại thông minh Smartphone có tên là Symbian nhằm cạnh tranh với các dòng Blackberry của Research in Motion. Những nhà cung cấp thông qua hệ thống iHubs & LSPs(Logistics Service Provider :LSP) đưa nguyên liệu đến các nhà máy. Các nhà máy lại sản xuất sản phẩm theo các hợp đồng sản xuất do bộ phận truyền thông cung cấp. Còn bộ phận truyền thông thì liên kết với các kênh đối tác thông qua Khách hàng 7 kho lưu giữ thông tin. Những kênh đối tác này thông qua các nhà bán sĩ và bán lẻ đưa sản phẩm đến khách hàng. Tóm lại dòng thông tin từ khách hàng sẽ được chuyển đến các nhà cung ứng qua các hệ thống thông tin. Sau khi nhận được thông tin của khách hàng từ các phương tiện truyền thông và các kênh đối tác, các nhà máy sản xuất liên hệ với các nhà cung ứng nguyên vật liệu tiến hành sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng. Đây là một chuỗi cung ứng khép kín. Thông tin được truyền từ khách hàng đến nhà cung ứng, sản phẩm đi từ nhà cung ứng đến tay khách hàng. Nokia bắt đầu chuyển đổi chuỗi cung ứng từ năm 1995 với chiến lược thay thế hàng tồn kho bằng thông tin, áp dụng hệ thống tồn kho đúng thời hạn (JIT- Just In Time ) và thiết lập mô hình chuỗi cung ứng kéo thống nhất kết nối các nhà cung ứng, nhà máy, các trung tâm viễn thông, các kênh đối tác, các nhà sản xuất, ngân hàng, doanh số, iHubs và các dịch vụ logistics tới khách hàng. Sự thay đổi này đã giúp Nokia tạo ra mạng lưới nhà cung ứng hiệu quả nhất với những giải pháp tối ưu để đạt được kỳ vọng của khách hàng. *Mô hình iHub là trung tâm dữ liệu và kĩ thuật được dùng để kết nối cơ sở hạ tầng ứng dụng sản xuất của công ty đạt được một mức độ cạnh tranh, phát triển sản xuất, cải thiện khả năng ứng dụng thông tin một cách hiệu quả phục vụ sản xuất, từ đó giảm chi phí thông tin liên lạc giữa các bộ phận. với hub, một khung dữ liệu được truyền đi hoặc được phát tới tất cả các cổng của thiết bị mà không phân biệt các cổng với nhau. Việc chuyển khung dữ liệu tới tất cả các cổng của hub để chắc rằng dữ liệu sẽ được chuyển tới đích cần đến. Tuy nhiên, khả năng này lại tiêu tốn rất nhiều lưu lượng mạng và có thể khiến cho mạng bị chậm đi (đối với các mạng công suất kém).Ngoài ra, một hub 10/100Mbps phải chia sẻ băng thông với tất cả các cổng của nó. Do vậy khi chỉ có một PC phát đi dữ liệu (broadcast) thì hub vẫn sử dụng băng thông tối đa của mình. Tuy nhiên, nếu nhiều PC cùng phát đi dữ liệu, thì vẫn một lượng băng thông này được sử dụng, và sẽ phải chia nhỏ ra khiến hiệu suất giảm đi. - Khi có đơn đặt hàng, nhà máy yêu cầu nhà cung ứng cung cấp nguyên vật liệu cho mình tiến hành sản xuất để đáp ứng một cách tốt nhất trong thời hạn sớm nhất đơn đặt hàng đó. Trong quá trình giao nhận nguyên vật liệu, giữa nhà máy và nhà cung ứng cũng thường xuyên trao đổi thông tin 8 tình trạng hàng đang trong quá trình luân chuyển hay vị trí hàng (GIT) và ngày cung ứng (DOS).. - Dựa vào nguồn thông tin, nguyên vật liệu sẽ được chuyển qua lấp đầy theo yêu cầu của trung gian iHub, sau đó đến nhà máy để lắp đặt. Tuy nhiên, giữa nhà máy và iHub luôn trao đổi thông tin cho nhau để phòng khi có những điều chỉnh hay thay đổi, nhà máy sẽ kịp thời cập nhật thông báo cho iHub và cả hệ thống nhằm kịp thời phản ứng và xử lí . - Sau khi nhận được hàng, nhà máy cũng tiến hành thanh toán hay kí chấp nhận thanh toán cho nhà cung ứng thông qua dòng tiền. - Ưu điểm của mô hình iHUB: Nén thời gian của chu kì ở mọi nơi, mọi điểm. Sản xuất theo đơn đặt hàng từ khách hàng. Lạc quan về những cấp bậc đa dạng, phức tạp của chuỗi cung ứng. Lựa chọn những đối tác thuê làm bên ngoài đúng đắn và tốt nhất. Thiết kế sản phẩm cho sự hữu hiệu trong sản xuất và thành phần nguồn linh động. Chất lượng cao cấp của tiến trình. Hợp nhất hệ thống thông tin trong nội bộ và bên ngoài tổ chức để cung cấp khả năng nhìn thấy được nâng cao khả năng ra quyết định thong qua cuỗi cung ứng mở rộng. Đo lường việc thực hiện chuỗi cung ứng từ việc triển vọng tương lai của khách hàng. Thiết lập thước đo tốt nhất để thu hút được việc thực hiện chuỗi cung ứng. Nokia nhấn mạnh rằng thị phần của nó đạt khoảng 35% có nghĩa là nó vẫn có thể cạnh tranh trong mọi phân khúc, từ việc thiết kế chip điện tử đến thương hiệu. Công ty ít dựa vào việc thuê làm bên ngoài hơn so với đối thủ và sử dụng nó để phản ứng lại sự đa dạng trong nhu cầu và để đánh giá năng lực sản xuất của nó. => Mô hình iHub phản ánh đúng đắn triết lý vận hành của Nokia đó là: sự hiện diện tại từng địa phương với một mạng lưới hoạt động được quản lí toàn cầu; những sản phẩm đa dạng đáp ứng với từng đơn đặt hàng; sự linh động trong việc hoạch định sản xuất từng đơn đặt hàng. 1. Các nhà cung cấp : Qualcomm : bộ vi xử lý, bộ nguồn và bộ phận thu phát tần số vô tuyến. Samsung Mobile Display: Màn hình hiển thị và màn hình cảm ứng Micron Technology :bộ nhớ flash NAND Microsoft: Windows Phone. ETrade Supply: màn hình LCD và bộ số hóa cảm ứng …… 9 2. Nhà sản xuất: Các nhà máy sản xuất chính : ở Phần Lan, Đức, Trung Quốc, Indonesia, Đài Loan, Brazil, Việt Nam . Xưởng sản xuất điện thoại nokia ở Việt Nam đặt tại bắc ninh. Sau khi nhận được đơn đặt hàng từ các khách hàng hoặc từ các nhà bán lẻ và phân phối thì nokia mới tiến hành sản xuất dựạ trên yêu cầu của khách hàng. Nokia không để hàng tồn kho. 3. Các nhà phân phối : Hầu hết các nước trên thế giới đều có nhà phân phối của nokia , Ở Việt Nam thì -FPT phụ trách khu vực miền Bắc FPT đã vận hành khá tốt chiến lược phân phối mới và FPT là một trong những đối tác quan trọng nhất của Nokia tại Việt Nam. -PetroSetco (PSD) phụ trách khu vực miền Trung và Đông Nam Bộ, -Công ty Lucky phụ trách vùng Đồng bằng sông Cửu Long 4. Nhà bán lẻ: Nokia có hơn 500 cửa hàng bán lẻ Các nhà bán lẻ sẽ đặt hang lấy hàng từ các nhà phân phối và bán cho khách hàng tiêu dùng cuối cùng. 5.Khách hàng: - Cả khách hàng cao cấp và bình dân - Những khách hàng ưa chuộng chức năng siêu bền của nokia III. Cách thức hoạt động của chuỗi cung ứng 1. Chiến lược Just in time Chiến lược Just in time (JIT) được gói gọn trong một câu: “đúng sản phẩm với đúng số lượng tại đúng nơi và đúng thời điểm. Đối với 1 công ty mà hàng năm phải tung ra đến 50 sản phẩm khác nhau và vòng đời trung bình của mỗi sản phẩm là từ 12 đến 24 tháng như Nokia, việc tiết kiệm chi phí tồn kho và tránh lãng phí là mối quan tâm hàng đầu của công ty. Điều này đòi hỏi trong sản xuất và dịch vụ, mỗi công đoạn của quy trình sản xuất phải sản xuất ra 1 số lượng đúng bằng số lượng mà công đoạn sản xuất tiếp theo cần tới và mỗi quy trình phải cố gắng không tạo ra 10 giá trị gia trăng phải bỏ. Qua đó, không có hạng mục nào rơi vào tình trạng để không, chờ xử lí, không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi để có đầu vào vận hành. Thường xuyên đối mặt với sự lên xuống thất thường của sản phẩm. Nokia buộc phải đầu tư mạnh cho quản lý chuỗi cung ứng và hỗ trợ khi cần thiết để có tầm nhìn đúng về thời hạn và vòng đời của sản phẩm. Nokia đã đưa ra 3 mục tiêu để thực hiện hạn chế tồn kho hiệu quả nhất.  Kiểm soát chất lượng : Kiểm soát chất lượn giúp cho hệ thống tích ứng hàng ngày với sự thay đổi của thị trường về số lượng, sở thích và nhu cầu.  Bảo đảm chất lượng: đảm bảo mỗi truy trình chỉ tạo ra các đơn vị sản phẩm tốt để tạo sự dễ dàng cho quy trình tiếp theo.  Tôn trọng con người: Nguồn nhân lực là sản phẩm vô giá của bất kì một công ty nào và Nokia cũng vậy, để tạo ra lượng hàng tồn khi thấp nhất, một trong những tiêu chí của công ty là phải phổ biến chính sách giảm thiểu hàng tồn khi thấp nhất cho công nhân, có những chính sách ưu đãi phù hợp giúp họ làm việc tốt hơn. 2. Chuỗi cung ứng “xanh” -hướng đến mục tiêu xa hơn là phát triển bền vững, nghĩa là cần xem xét trên phương diện môi trường và sức khỏe cộng đồng. - việc xây dựng những chuỗi cung ứng thân thiện với môi trường – Chuỗi cung ứng xanh (The Green Supply Chain). Không chỉ bảo vệ môi trường, chuỗi cung ứng xanh còn được xem là một lợi thế cạnh tranh của các công ty trong việc mở rộng thị trường và gia tăng lợi nhuận. -mô hình chuẩn về chuỗi cung ứng xanh Green SCOR Model sau đây: .Lập kế hoạch cho cả chuỗi và cho từng giai đoạn trong chuỗi(Plan); .Khai thác nguồn nguyên vật liệu để sản xuất (Source); .Chế tạo sản phẩm (Make); .Phân phối sản phẩm (Deliver); .Thu hồi sản phẩm (Return Deliver); 11 .Thu hồi nguồn nguyên vật liệu đã được tái chế (Return Source). -Giảm lượng chất thải là một mục tiêu môi trường có liên quan mật thiết đến chất lượng sản phẩm, bao gồm: chất lượng thiết kế, chất lượng nguồn linh kiện, chất lượng dây chuyền lắp ráp và chất lượng của công việc tiến hành trong giai đoạn kết thúc chu kỳ sống của sản phẩm. Nokia nhận thấy được tầm quan trọng của việc hợp tác để trao đổi các vấn đề toàn cầu cũng như vấn đề về sử dụng nguồn tài nguyên và khí thải CO2. Nokia tham gia vào các chương trình hợp tác nghiên cứu để đưa ra các sang kiến thông qua các Hiệp hội công nghiệp và những tổ chức toàn cầu Tất cả những nhà cung ứng của Nokia phải có hệ thống quản lý môi trường tại chỗ phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Đối với những nhà sản xuất theo hợp đồng, họ phải được chứng nhận tiêu chuẩn ISO 14001 hoặc EMAS. Nokia cũng ràng buộc các nhà cung ứng để chắc chắn rằng họ hiểu những yêu cầu theo điều lệ mới EU REACH về hóa chất.Nokia hợp tác với các nhà cung ứng chính để giúp đảm bảo rằng các vấn đề về môi trường là mối ưu tiên trong việc phát triển sản phẩm. IV.Nguyên nhân thành công và nguyên nhân thất bại 1.Nguyên nhân thành công Sản phẩm cho mọi khách hàng -Nokia xây dựng chỗ đứng cho mình trên cả thị trường cao cấp và bình dân. Dành cho đối tượng khách hàng kỳ vọng vào công nghệ mới nhất, Nokia có chiếc N95 bao gồm trình duyệt Internet, nghe nhạc, bộ nhận tín hiệu GPS vệ tinh và khả năng kết nối Wi-Fi... - những mẫu điện thoại bình dân của Nokia cũng có những tính năng mở rộng khiến một số lượng lớn khách hàng thu nhập thấp cảm thấy thú vị khi lần đầu tiên có trong tay một chiếc điện thoại di động tiện ích . Chẳng hạn, mẫu Nokia 1200 với giá chỉ 45 USD của Nokia có thể chạy tới 2 tuần mà không cần xạc pin, đồng thời có cả đèn flash tích hợp, rất thuận tiện trong trường hợp mất điện. -Những chiếc điện thoại thông minh như LUMIA phù hợp với sự năng động của giới trẻ và còn cả tính sang trọng. Chuỗi cung cấp tuyệt vời 12 - ấn tượng nhất là việc Nokia đã thành công trong việc chuyển sang sản xuất các mẫu điện thoại giá rẻ trong khi vẫn duy trì được tỷ suất lợi nhuận cao Nokia thu lợi nhuận lớn từ thị trường cấp thấp vì chuỗi cung cấp và hệ thống sản xuất của hãng hoạt động cực kỳ hiệu quả. Hãng cũng duy trì được sự kiểm soát đối với chi phí thông qua việc sử dụng chung linh kiện giữa các thiết bị và thiết kế những mẫu điện thoại có ít linh kiện hơn so với các đối thủ cạnh tranh =>Những hoạt động như vậy đã giúp Nokia vươn lên vị trí dẫn đầu trong bảng xếp hạng hàng năm của công ty nghiên cứu thị trường AMR Research dành cho các nhà điều hành chuỗi cung cấp, trên cả những quán quân trong lĩnh vực logistics như Toyota và Wal-Mart. Chuỗi cung ứng linh hoạt và tinh gọn Tính linh hoạt thể hiện ở chỗ Nokia luôn đáp ứng nhu cầu của khách hàng ở mọi nơi trên thế giới . Điều này đạt được nhờ vào quá trình chia sẻ thông tin một cách xuyên suốt trong hệ thống chuỗi cung ứng và cách thức cung cấp sản phẩm một cách nhanh chóng từ nhà sản xuất đến các khách hàng cuối cùng. Tính tin gọn được thế hiện thông qua việc giảm thiểu chi phí tồn kho và sử dụng chiến lược sản xuất JIT Hệ thống thông tin -Hệ thống thông tin được trao đổi trực tuyến một các xuyên suốt và việc xử lý đơn hàng và giao hàng một cách nhah chóng đến tay khách hàng -Hệ thống thông tin chia sẻ xuyên suốt từ khách hàng đến nhà cung ứng để nhìn thấy một cách chính xác nhu cầu người sử dụng. Từ đó NOKIA tạo ra nhiều dòng sản phẩm khác nhau để đáp ứng từng phân đoạn thị trường riêng biệt. Do đó, trong mô hình chuỗi cung ứng của mình, Nokia không sản xuất hàng loạt các sản phẩm giống nhau. Chính vì vậy mà các sản phẩm của họ luôn làm thỏa mãn được nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. 13 2.Nguyên nhân Thất bại: Nokia không chịu sản xuất điện thoại gập Một trong những sai lầm đầu tiên và lớn nhất của Nokia là không bắt kịp xu hướng điện thoại vỏ sò, từng làm mưa làm gió ở My và nhiều thị trường khác đầu thập kỉ trước. Nokia tảng lờ thị trường Mỹ Việc không thể (hoặc không muốn) cho ra đời điện thoại tùy biến phù hợp với thị trường My khiến Nokia khó hợp tác với các hãng viễn thông. Họ "một mình trên xa lộ" tiến vào My bằng cách mở cửa hàng riêng tại các thành phố lớn và bán trực tiếp thiết bị cho người dùng thay vì thông qua nhà mạng. Nhưng do không được trợ giá, giá bán sản phẩm cao ngất nên chỉ những người thực sự trung thành mới sẵn sàng mua. Trong khi đó, với vị trí khiêm tốn hơn, Samsung, LG và Motorola rất sẵn lòng đàm phán để mang đến các gói sản phẩm - dịch vụ phong phú cho người dùng. Nokia dần bị cô lập. Nokia không nhận ra mối đe dọa từ Apple Trong khi người ta đã quá quen với các nền tảng Windows Mobile, Palm OS hay Nokia Symbian. iPhone bất ngờ xuất hiện, làm rúng động thị trường và thay đổi quan niệm của mọi người về điện thoại thông minh. Còn Nokia thì vẫn mải mê trên đỉnh cao với thị phần bỏ xa đối thủ nên không nhận ra nguy cơ sắp đến. Họ chủ quan một phần vì mức giá 500 USD của iPhone cách đây nửa thập kỉ là khá đắt, khiến nó được xếp vào phân khúc hạng sang. Nhưng sau khi Apple thỏa thuận xong với AT&T để hạ giá xuống 200 USD, nó lập tức thành sản phẩm đại trà và đủ mạnh để đe dọa bất cứ công ty điện thoại nào. Nó còn có một vũ khí là App Store, nơi "trói chân" khách hàng trong thế giới ứng dụng chỉ hoạt động duy nhất trên nền iOS. Vị trí của Nokia bắt đầu bị xói mòn. Nokia dựa vào Symbian quá lâu Trước đây, người sử dụng chấp nhận Symbian vì nó không thua kém các nền tảng khác. Nhưng iPhone ra đời, Symbian lập tức thành một sản phẩm già cỗi, không năng động. Khi Nokia chưa kịp trở tay, họ tiếp tục bị giáng 14 một đòn mạnh nữa là sự nổi lên của Google Android. Android mang đến một hệ điều hành hiện đại, đủ sức để cạnh tranh với iPhone và lập tức, một loạt hãng sản xuất đi theo. Motorola đang loay hoay tìm sự sáng tạo thời kì "hậu RAZR" nên toàn tâm toàn ý cho Android. HTC nhờ Android đã nổi lên thành một thương hiệu lớn trong làng điện thoại. Samsung và LG gia nhập chậm hơn nhưng cũng gặt hái thành công. Món quà cho Samsung khi chọn Android chính là danh hiệu hãng smartphone số một thế giới hiện nay. Nokia, một lần nữa "chủ quan khinh địch", vẫn chìm đắm với Symbian cho tới khi Stephen Elop xuất hiện, họ mới quyết định không coi Symbian là hệ điều hành chủ đạo trong sản phẩm của họ nữa. Nokia chọn sai nền tảng tiếp theo Nokia có 2 nhóm nghiên cứu làm việc độc lập: một nhóm tìm cách tân trang lại Symbian - hệ điều hành cũ ky chạy trên hầu hết các smartphone của Nokia, một nhóm khác xây dựng hệ điều hành MeeGo. Những người tham gia phát triển cả hai hệ điều hành này nói rằng cả hai đội nghiên cứu đều cạnh tranh với nhau để nhận được hỗ trợ từ công ty và thu hút sự chú ý của các nhà điều hành - một vấn đề ngăn cản những hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D;) của Nokia. Khi đã không coi là nền tảng chính, họ vẫn tiếp tục dùng dằng với Symbian sau đó vì nỗ lực tạo ra một hệ điều hành smartphone hoàn toàn mới của họ thực sự là một thảm họa. Ai còn nhớ Maemo? Nokia hẳn muốn người ta đừng nhắc đến nữa. Maemo ra đời với sứ mệnh trở thành nền tảng thế hệ mới cho điện thoại Nokia. Intel, cũng muốn tham gia thị trường smartphone, đã phát triển một nền tảng riêng có tên Moblin. Năm 2010, hai công ty hợp nhất sản phẩm của họ thành MeeGo - một sự hợp tác không mang lại lợi ích gì mà chỉ làm chậm hơn lộ trình của Nokia. Meego hiện hoạt động trên N9 - một chiếc điện thoại đẹp mắt, sang trọng, nhưng hệ điều hành thì đã chết vì hãng Phần Lan không còn mở rộng nó nữa. Họ đã có một quyết định khác: bắt tay với Microsoft sản xuất điện thoại Windows Phone. 15 V. Bài học - Nokia đã đầu tư hàng trăm triệu USD để xây dựng các hệ thống phân phối và mạng lưới bán lẻ tại các nước đang phát triển. Nhờ vậy, đây là hãng điện thoại di động số một ở Trung Quốc, Ấn Độ và đang tăng trưởng mạnh ở châu Phi, thị trường châu Á. - Nokia có chuỗi cung ứng linh hoạt và gọn nhẹ, có các nhà cung cấp tuyệt vời,sản phẩm phù hợp nhiều đối tượng khách hàng,hệ thống thông tin khép kín và chiến lược Just in time làm nokia không có hàng tồn kho,tối đa hóa lợi nhuận. Nhưng: - Nokia Phản ứng quá chậm với các thay đổi xung quanh - Nokia Không nên phụ thuộc quá nhiều vào một vài mẫu sản phẩm bán chạy.
- Xem thêm -