Tìm hiểu tài nguyên du lịch hạ long

  • Số trang: 34 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

LỜI NÓI ĐẦU Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, mang tính liên ngành liên vùng và xã hội cao. Ngoài những khó khăn nhất định thì ngành du lịch đem lại nhiều lợi ích to lớn như: thu nhập, giải quyết việc làm, thu hút đầu tư, thu được nguồn ngoại tệ lớn, cho quốc gia và thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển,… Bởi vậy, các quốc gia có điều kiện phát triển du lịch đều hướng phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Với nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và hung vĩ, tài nguyên nhân văn giàu bản sắc dân tộc là nền tảng cho sự phát triển du lịch, chính vì vậy mà Đảng và nhà nước ta đã chọn hướng phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. (Điều này đã được khẳng định tại Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ) . Năm 2006 là năm tình hình chính trị, kinh tế trên thế giới có những diễn biến phức tạp, tác động đến nước ta trong đó có du lịch. Trong nước, tình hình thiên tai, dịch cúm gia cầm đã gây ra nhiều thiệt hại cho kinh tế, ảnh hưởng lớn đến du lịch. Tuy nhiên, bằng sự phấn đấu và sự nỗ lực của toàn ngành, dưới sự chỉ đạo của Chính Phủ, sự phối hợp của các Bộ, Ngành, các địa phương, ngành du lịch đã hình thành được các chỉ tiêu kế hoạch đề ra với lượng khách du lịch quốc tế đạt 3,585 triệu lượt, tăng 3% so với năm 2005, khách du lịch nội địa đạt 17,5 triệu lượt, tăng 6,6% so với năm 2005, thu nhập du lịch đạt 51.000 tỷ đồng, trong đó thu nhập quốc tế đạt 2,85 tỷ USD tương đương 44.000 tỷ đồng. Như vậy năm 2006, mặc dù số lượng khách quốc tế tăng trưởng không cao như dự kiến song thu nhập từ du lịch vẫn tăng cao đánh dấu bước chuyển quan trọng về chất trong hoạt động du lịch nước ta. Một trong những tiềm năng du lịch của đất nước đó là Vịnh Hạ Long. Vịnh Hạ Long là một danh lam thắng cảnh tự nhiên đẹp nổi tiếng không chỉ ở trong nước mà cả trên thế giới, với những giá trị đặc trưng độc 1 đáo của mình, Vịnh đã được UNESCO 2 lần công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới ( tháng 12/1994 và tháng 11/2000 ). Việc được công nhận là Di sản thế giới, một mặt là vinh dự và tự hào lớn của Viện Nam, mặt khác nó cũng mang lại cho nước ta những lợi thế đáng kể về kinh tế, văn hoá và xã hội. Đồng thời điều đó cũng đặt ra cho chúng ta những yêu cầu mới về việc bảo tồn, phát huy giá trị của Di sản và nhất là việc khai thác một cách có hiệu quả nguồn lực thiên nhiên này phục vụ cho sự phát triển du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Quảng Ninh nói riêng. Để giới thiệu tôn vinh những giá trị đặc sắc về khu di sản Hạ Long, đồng thời đưa ra những giải pháp kiến nghị góp phần vào việc bảo tồn, phát huy giá trị, sử dụng và khai thác có hiệu quả di sản, em quyết định lựa chọn đề tài : “Tìm hiểu tài nguyên du lịch Hạ Long". Mặc dù đã tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng nhưng do kiến thức còn hạn hẹp nên bài viết của em không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài viết của em hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn thầy Lê Trung Kiên đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết này. Sv thực hiện Phạm Hùng Phương 2 I. CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Khái niệm về du lịch : * Dưới góc độ khách du lịch : Du lịch là cuộc hành trình và lưu trú của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên và quay trở lại, nhằm thỏa mãn những nhu cầu khác nhau với những mục đích khác nhau loại trừ mục đích lao động và nhận thù lao ở nơi đến. *Dưới góc độ nhà kinh doanh du lịch : Du lịch là một lĩnh vực bao gồm các hoạt động tạo ra những dịch vụ và hàng hoá để thoả mãn những nhu cầu của khách du lịch nhằm mục đích thu lợi nhuận. *Dưới góc độ chính quyền tại điểm đến : Du lịch là việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ du khách. Du lịch là tổng hợp các hoạt động kinh doanh đa dạng, được tổ chức nhằm giúp đỡ việc hành trình và lưu trú tạm thời của cá thể. Du lịch là một cơ hội để bán các sản phẩm địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng các nguồn thu nhập từ các khoản thuế trực tiếp và gián tiếp, đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương. *Dưới góc độ cộng đồng dân cư sở tại : Du lịch vừa đem lại những cơ hội để tìm hiểu nền văn hoá và phong cách của người địa phương, người nước ngoài là cơ hội để tìm kiếm việc làm, để phát sinh và phát triển các nghề cổ truyền, các nghề thủ công truyền thống của dân tộc. *Theo quan điểm tổng hợp : Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội ngày càng phổ biến phát sinh các mối quan hệ kinh tế, phi kinh tế có tính tương tác giũa bốn nhóm thành tố: khách du lịch, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cộng đồng dân cư và 3 chính quyền nơi đến du lịch. * Theo pháp lệnh du lịch do chủ rịch nước CHXHCN Việt Nam công bố ngày 20/02/1999 : Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, tìm hiểu, nghỉ dưỡng trong một khoảng thơi gian nhất định. 1.2 .Khái niệm tài nguyên du lịch : *Tài nguyên du lịch : Là tổng thể tự nhiên và văn hóa - lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục, tăng thể lực và trí lực của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp cho việc sản xuát dịch vụ du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm các thành phần và những kết hợp khác nhau của cảnh quan tự nhiên cùng cảnh quan nhân văn ( Văn hoá ) có thể được sử dụng cho dịch vụ du lịch thoả mãn nhu cầu về chũa bệnh, nghỉ ngơi, tham quan hay du lịch. Trong ngành du lịch thì tài nguyên du lịch là đối tượng lao động, còn dịch vụ du lịch được thể hiện như sản phẩm của quá trình lao động. Nét đặc trưng của ngành du lịch là sự trùng khớp vè thời gian giữa quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ dịch vụ du lịch. Xét về cơ cấu thì tài nguyên du lịch có thể phân thành 2 bộ phận : tự nhiên và nhân tạo. *Tài nguyên du lịch tự nhiên : Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta. Trong đó tài nguyên tham gia với những đặc điểm của mình mà có thể quan sát bằng mắt thường, đó chính là dạng bề mặt trái đất, động thực vật va nguồn nước. Ngoài ra, đóng vai trò quan trọng đối với nhiều loại hình du lịch là khí hậu, đặc biệt là các chỉ tiêu có liên quan tới trạng thái tâm lý - thể lực của con người – đó chính là khí hậu sinh học. 4 Địa hình : Địa hình hiện tại của bề mặt trái đất là sản phẩm của quá trình địa chất lâu dài ( nội sinh, ngoại sinh ), trong chừng mực nhất định, mọi hoạt động của con người trên lãnh thổ đều phụ thuộc vào địa hình. Đối với hoạt động du lịch, điều quan trọng nhất là đặc điểm hình thái địa hình, nghĩa là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng đặc biệt của địa hình có sức hấp dẫn khai thác cho du lịch. Khí hậu : Khí hậu là thành phần quan trọng của môi trường tự nhiên đối với hoạt động du lịch. Trong các chỉ tiêu khí hậu đáng chú ý là 2 chỉ tiêu chính: nhiệt độ không khí và độ ẩm. Ngoài ra còn có một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lý hoá của không khí, áp suất của khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt ( Nhật thực, Nguyệt thực,…). Tài nguyên nước : Tài nguyên nước bao gồm chảy trên bề mặt đất và nước ngầm. Đối với du lịch thì nguồn nước trên mặt đất có ý nghĩa rất lớn. Nó bao gồm : Đại dương, biển, hồ, sông, suối, thác nước,… Tài nguyên động thực vật : Bên cạnh các loại hình du lịch văn hoá, du lịch về với thiên nhiên đang trở thành một xu thế và nhu cầu phổ biến. Như vậy thế giới động thực vật hoang dã đang ngày càng hấp dẫn nhiều du khách. Những loại động thực vật không có ở đất nước họ thường có sức hấp dẫn rất mạnh. Nhiều loại động thực vật có thể là đối tượng cho săn bắn du lịch. Có những loại động thực vật quý hiếm là đối tương để nghiên cứu. *Tài nguyên du lịch nhân văn : Do con người tạo ra hay nói cách khác nó là đối tượng và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo. Nó bao gồm : các di sản văn hoá, các di tích văn hoá - lịch sử. 5 Di tích văn hoá - lịch sử : Là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử do tập thể hoặc cá nhân hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại. Di tích lịch sử : Là những nơi mà chiến tranh đã đi qua, nơi sinh ra những vị anh hung dân tộc, những vị danh nhân, nơi mà là thánh địa cũ,… Di sản văn hoá : Di sản văn hoá mang tính vật thể : là những công trình kiến trúc, những tác phẩm nghệ thuật, viện bảo tàng, những nơi thường tổ chức các cuôc thi ( phim ảnh, ca nhạc, thể thao,…). Di sản văn hoá mang tính chất phi vật thể : là những phong tục tập quán của người dân như các lễ hội, các trò chơi dân gian, giá trị về ẩm thực, những truyền thống văn hoá,… 1.3. Vai trò của tài nguyên thiên nhiên trong việc phát triển du lịch : Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Quy mô hoạt động du lịch của một vùng, một quốc gia được xác định trên cơ sở khối lượng nguồn tài nguyên du lịch, quyết định tính mùa vụ, sự thay đổi của dòng khách du lịch. Sức hấp dẫn của vùng du lịch phụ thuộc nhiều vào tài nguyên. Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ sở để tạo nên vùng du lịch. Số lượng tài nguyên vốn có, chất lượng của chung và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia. Một lãnh thổ nào đó có nhiều tài nguyên du lịch các loại với chất lượng cao, có sức hấp dẫn khách du lịch lớn và mức độ kết hợp các loại tìa nguyên phong phú thì súc thu hút khách du lịch càng mạnh. 6 II. THỰC TRẠNG TÀI NGUYÊN DU LỊCH TẠI HẠ LONG 2.1. Khái quát điểm du lịch Hạ Long : Thành phố Hạ Long, trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của tỉnh Quảng Ninh, có vị trí vô cùng thuận lợi trong việc thu hút thị trường khách du lịch trong nước và quốc tế. Là một điểm nhấn của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, với những thuận lợi hiếm có về tài nguyên và điều kiện phát triển du lịch, được ưu tiên đầu tư về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, các lợi thế và tiềm năng đang được khai thác và phát huy đúng hướng đã góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng kinh tế của thành phố Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh, có nhiều cơ hội phát triển để trở thành một trong những đô thị sầm uất nhất Việt Nam. Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hạ Long, du lịch đã được xây dựng là ngành kinh tế mũi nhọn, là động lực để thúc đẩy phát triển các lĩnh vực kinh tế khác. 2.1.1 Vị trí địa lý : Vịnh Hạ Long nằm ở Đông Bắc Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh. Đây là vùng biển đảo được xác định trong tọa độ …106 … Phía Tây và Tây Bắc Vịnh Hạ Long kéo dài từ huyện Yên Hưng, qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả, đến hết phần biển đảo huyện Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam giáp bờ Tây Vịnh Bắc Bộ, phía Tây Nam và phía Tây giáp đảo Cát Bà ( Hải Phòng). Du lịch thành phố Hạ Long nằm gần kề thành phố cảng Hải Phòng, đô thị lớn thứ 2 ở Miền Bắc, nằm giữa thủ đô Hà Nội và cửa khẩu quốc tế Móng Cái, có vị trí giao lưu vô cùng thuận lợi với các điểm du lịch hấp dẫn trong vùng, có điều kiện tiếp cận các nguồn khách lớn ở trong nước và ngoài nước qua đường bộ và đặc biệt qua đường biển. Hạ Long cũng là điểm tập kết và trung chuyển cho các khách đi du lịch trong tỉnh tới Trà Cổ - Móng Cái, tới Vân Đồn – Cô Tô, tới Yên Hưng – Uông Bí – Đông Triều, tới các điểm lưu trú trên Vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long, tới các vùng du lịch ở Hải Phòng, Hà Nội và các tỉnh thành khác trong cả nước. Năm 1962, Vịnh Hạ Long được Bộ Văn Hoá Thông tin xếp hạng là di tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1553 km2 bao gồm 1969 hòn đảo, trong đó 889 hòn đảo đã được đặt tên, có tuổi kiến tạo địa chất từ 250280 triệu năm. Khu di sản thế giới được UNESCO công nhận là nơi tập trung nhiều đảo đá, hang động, bãi tắm nổi tiếng và tiêu biểu, được giới hạn bởi 3 điểm: đảo Đầu Gỗ ( phía Tây ), Hồ Ba Bầm ( phía Nam ) và đảo Cống Tây ( phía Đông ) với diện tích 434km2 gồm 775 hòn đảo, trong đó có 411 đảo đã được đặt tên. 8 Vùng đệm là dải bao quanh khu vực bảo vệ tuyệt đối, theo hướng Tây – Tây Bắc và Bắc - Đông Bắc, xác định bởi phía bờ vịnh dọc theo quốc lộ 18A, kể từ kho xăng dầu B12 ( Cái Dăm ) đến cây số 11 ( xã Quang Hanh, thị xã Cẩm Phả ). Chiều rộng khu đệm từ 5 – 7km tính từ đường bảo vệ tuyệt đối ra biển, phạm vi xê dịch từ 1 – 2km. Vùng phụ cận là vùng biển hoặc đất liền bao quanh khu đệm, kể cả vùng biên giáp ranh vói Vườn quốc gia Cát Bà. 2.1.2. Tài nguyên thiên nhiên : 2.1.2.1. Các đảo núi nổi tiếng : *Núi Bài Thơ: Cao 191m, nằm ở trung tâm thành phố Hạ Long, dưới các triều đại phong kiến, núi Bài Thơ là trạm cảnh phòng của vùng biển Đông Bắc. Chân núi có chùa Long Tiên, đền thờ Đức Ông Trần Quốc Nghiễn. Trên vách núi phía Đông Nam còn có di bút của vua Lê Thánh Tông và 6 bài thơ chữ Hán khác của các danh nhân từ thế kỷ XV – XX ca ngợi cuộc sống thái bình và cảnh đẹp của Vịnh Hạ Long. Núi Bài Thơ còn là nơi ngọn cờ búa liềm tung bay nhân ngày 1/5/1930 trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân mỏ chống thực dân Pháp. *Đảo Ti Tốp: Năm 1962 Bác Hồ cùng anh hùng lao động Việt Nam, nhà du hành vũ trụ Liên Xô Giéc Man Ti Tốp tới thăm Hạ Long và nghỉ tại đảo. Để kỉ niệm chuyến đi này, Bác Hồ đã lấy tên Ti Tốp đặt cho hòn đảo. Đảo có bãi tắm tuyệt đẹp, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, cách bến tàu du lịch 7 – 8 km. *Hòn Gà Chọi: Gồm 2 hòn đảo nhỏ cao 12m giống hệt một đôi gà đứng đối diện nhau đang tung cánh. Hình ảnh hòn Gà Chọi được chọn làm biểu tượng của Quảng Ninh và biểu tượng du lịch Việt Nam năm 2000. Hòn Gà Chọi ở phía Đông Nam đảo Đầu Gỗ, cách bến tàu du lịch 5km, Đảo còn có tên là hòn Trống Mái hay là hòn Cặp Gà. 9 *Hòn Đỉnh Hương: Nằm ở phía Tây Nam đảo Đầu Gỗ, giống hệt như một lư hương bằng đá khổng lồ mọc lên giữa biển khơi. *Hòn Xếp: Nằm ở Vịnh Bái Tử Long, Cẩm Phả. Hòn Xếp gồm các khối đá to, vuông đều đặn được xếp chồng lên nhau giống như một Kim tự tháp Ai Cập được dựng lên giữa biển khơi. *Hòn Thiên Nga: Một hòn đảo nhỏ đứng bồng bềnh trên vịnh biển, có hình thù going như một đôi Thiên Nga đang tình tự. Hòn Thiên Nga là một địa chỉ tham quan, chụp ảnh lý tưởng trên Vịnh Bái Tử Long. *Hòn Con Cóc: Là một trong những tác phẩm tuyệt mỹ của tạo hoá ban tặng cho Hạ Long, hòn Con Cóc cao 8m, giống hệt một chú Cóc đang ngồi chờ mưa rơi giữa mênh mông sóng nước. Hòn Con Cóc là một trong những địa chỉ du lịch nổi tiếng, nằm ở phía Đông Nam Vịnh Ha Long, cách bến tàu du lịch 17km. *Hòn Đầu Người: Cao 25m, từ xa nhìn giống như đầu người Ai Cập với chiếc mũi to, gồ ghề, nhô ra xa, cằm tỳ trên mặt nước. Một số người còn liên tưởng tới hình ảnh Nhân sư Ai Cập nhưng hòn Đầu Người đẹp và thơ mộng hơn nhiều vì có thêm yếu tố biển. Hòn Đầu Người nằm ở gần Hang Luồn, cách bến tàu du lịch 13km. *Hòn Đũa: Nằm trong khu vực Vịnh Bái Tử Long, cách núi Bài Thơ về phía Đông 7km, Hòn Đũa giống như một chiếc đũa thần khổng lồ trong chuyện cổ tích của An-Đéc-Xen được cắm xuống biển khơi. Đây cũng là bằng chứng sinh động về giá trị địa chất địa mạo đặc sắc của Vịnh Hạ Long. Hòn Đũa là một trong những điểm tham quan lý tưởng cho du khách và cũng là 10 mốc giới quan trọng cho các tàu thuyền khi ra khơi. *Ba Trái Đào: Gồm 3 hòn núi nhỏ, cao 23m trông giống hệt 3 trái đoà. Ba Trái Đào là một địa danh nổi tiếng với bãi tắm tiên tuyệt đẹp, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, cách bến tàu du lịch 22kmvề phía Đông Nam. *Đảo Tuần Châu: Cách bến tàu du lịch 4km vè phía Tây Nam, đảo Tuần Châu rộng khoảng 2,8km2, trên đảo có di chỉ khảo cổ thuộc nền văn hoá du lịch. Đảo còn là một trung tâm du lịch với bãi biển đẹp, nhiều nhà hang, khách sạn, khu vui chơi giải trí,… giữa một cộng đồng dân cư với những truyền thống, phong tục tập quán lâu đời. *Đảo Ngọc Vừng: Là đảo đất, rộng 12km2, cách bến tàu du lịch 34km. Xung quanh đảo có nhiều bãi biển đẹp. Đảo co núi Vạn Xuân cao 182m, có di chỉ khảo cổ thuộc văn hoá Hạ Long rộng 4500m2, có bến cảng Cống Yên thuộc hệ thống thương cảng cổ Vân Đồn từ thế kỷ XI, co di tích thành cổ nhà Mạc và nhà Nguyễn. *Đảo Quan Lạn: Cách thị xã Cẩm Phả 35km về phía Đông Nam. Thế kỷ XI, đảo là trung tâm thương mại quốc tế sầm uất và quan trọng nhất Việt Nam. Trên đảo hiện còn rất nhiều di tích lịch sử và kiến trúc giá trị như : Đình, miếu, chùa, bến cảng cổ,… Đặc biệt, hội làng Quan lạn diễn ra từ ngày 11 – 26 tháng 6 âm lịch hang năm với các tục đua thuyền rất vui. *Đảo Khỉ: Đảo ở cách thị xã Cẩm Phả 4km về phía Đông Nam, còn có tên gọi là đảo Rũ. Từ năm 1962, đảo đã trở thành trại chăn nuôi khỉ. Khỉ ở đây là loại khỉ mũi đỏ. Đây là điểm tham quan của Hạ Long, đến đây du khách như được hoà mình với thiên nhiên, được sống với thế giới của “ Hoa sơn”. 11 2.1.2.2. Các hang động nổi tiếng: *Động Thiên Cung: Nằm ở phía Bắc đảo Đầu Gỗ, cách cảng tàu du lịch 4km, mới phát hiện năm 1993. Động rộng và đẹp vào loại nhất của Hạ Long, động chia làm nhiều ngăn, với vô vàn nhũ đá tạo thành các hình thù kỳ dị và hấp dẫn. Động còn gắn liền với câu chuyện truyền thuyết về vua Rồng của Hạ Long. *Hang Đầu Gỗ: Đầu Gỗ là hang động rộng, đẹp mang nét cổ kính rêu phong, người Pháp gọi là “Động của các kì quan”. Hang nằm trên dãy đảo Đầu Gỗ, cách động Thiên Cung 300m. Tháng 10/1957, Bác Hồ tới thăm hang Đầu Gỗ, câu nói nổi tiếng của Bác về vẻ đẹp của hang động này : “ Ai cũng phải vào thăm hang động mới thấy hết cảnh đẹp. Cảnh đẹp một người không thể nói hết cho nhiều người”. Trong chuyến du hành năm 1919, vua Khải Định đã đến thăm động và lưu lại một bia ca ngợi cảnh đẹp của Hạ Long. Trong động còn có giếng tiên, cùng vô số cảnh sắc do nhũ đá tạo nên. *Hang Sửng Sốt: Là một trong những hang động đẹp và hoành tráng nhất trên Vịnh Hạ Long. Động gồm 3 khu với tổng diện tích trên 10.000m2. Mỗi cảnh trí trong động mang lại cho du khách một cảm giác mới lạ, ngạc nhiên. Sửng Sốt là một trong những hang động điển hình của di sản Vịnh Hạ Long. *Hang Trinh Nữ: Cách bến tàu du lịch khoảng 9km về phía Đông Nam, động rộng và đẹp, bao đời nay người dân địa phương coi là biểu tượng cho tình yêu chung thuỷ. Động gắn liền với huyền thoại về tình yêu của một đôi trai gái dân vạn chài, vì giữ lòng chung thuỷ với người yêu, người con gái đã bị tên địa chủ đày ra đảo xa và hoá đá tại nơi này. 12 *Hồ Ba Bầm: Cách bến tàu khoảng 25km về phía Tây Nam, trên dãy đảo Đầu Bê, Hồ Ba Bầm nổi tiếng với cảnh đẹp sơn thuỷ hữu tình. Có 3 hồ nước lớn thông với nhau bằng 3 cửa hang. Khách du lịch muốn vào thăm phải đi bằng thuyền nan. Ngoài cảnh đẹp, nơi đây còn có quần thể động thực vật vô cùng phong phú như: khỉ, chồn, các loài san hô, lan, cọ, … *Hang Hanh: Đây là hang dài nhất trong khu vực Vịnh Hạ Long( khoảng hơn 2km ) bắt nguồn từ chân núi Quang Hanh ăn thông ra biển. Trong hang có nhiều nhũ đá đẹp và là một môi trường đặc biệt cho một số loài cá và hải sản sinh sống. Hang thuộc địa phận Vịnh Bái Tử Long, thị xã Cẩm Phả. *Động Mê Cung: Cách bến tàu du lịch 12km về phía Đông Nam, là một trong những di chỉ khảo cổ thuộc giai đoạn sớm của văn hoá Soi Nhụ, có niên đại khoảng 2 vạn năm cách ngày nay. Động Mê Cung còn là một hang động đẹp, có vườn thực vật tự nhiên phong phú. *Động Kim Quy: Cách bến tàu du lịch khoảng 7km về phía Tây Nam, động Kim Quy là một trong những địa chỉ hấp dẫn với du khách không chỉ bởi vẻ đẹp kì ảo của hang động mà còn bởi nó làm cho người ta liên tưởng tới truyền thuyết về thần Kim Quy và câu chuyện tình Mỵ Châu - Trọng Thuỷ. *Động Lâu Đài: Thuộc địa phận Vịnh Bái Tử Long, động đẹp tựa như lâu đài nơi trần thế. Ngoài ra, đây còn có làng chài nổi tiếng trên Vịnh, còn lưu giữu nhiều nét văn hoá truyền thống đặc sắc của vùng biển Đông Bắc. Động cách bến tàu du lịch khoảng 10km. 13 2.1.2.3. Bãi tắm: Dọc theo bờ Vịnh Hạ Long là khu nghỉ mát Bãi Cháy. Đây là khu nghỉ mát quanh năm lộng gió biển, nhiệt độ trung bình năm khoảng trên 20 0C Bãi Cháy là một dải đồi thấp chạy thoai thoải về phía biển kéo dài hơn 2km ôm lấy hàng thông cổ thụ nằm xen kẽ với khách sạn cao tầng, những biệt thự nhỏ kiến trúc riêng biệt. Qua con đường rải nhựa, sát bờ Vịnh là dải cát trắng và hàng phi lao xanh mát. Những hàng quán nhỏ xinh ẩn mình dưới những rặng phi lao. Tắm biển xong du khách có thể lên bờ ngồi thưởng thức những cốc nước mát lạnh để đón luồng gió biển cùng với những cảnh đẹp của biển. Bãi Cahý là một điểm du lịch hấp dẫn khách trong và ngoài nước. 2.1.3. Thành phố với những tiềm năng du lịch nổi bật khác: Thành phố Hạ Long là đô thị loại 2. Trong 20 năm đổi mới, nhất là từ những năm đầu thế kỉ XXI, sụ phát triển với tốc độ cao của kinh tế xã hội đã làm cho thành phố thay đổi nhanh. Sự hình thành các khu công nghiệp mới, những tăng trưởng trong sản xuất than, cơ khí, thủ công nghiệp và xuất khẩu hải sản, trong kinh tế cảng biển, đóng tàu, giao thông vận tải và thương mại đã làm cho đơì sống xã hội sôi động, mức sống của nhân dân, kể cả vật chất lẫn tinh thần đều được nâng cao cho các tiềm năng du lịch được khai thác và hoàn thiện. *Về văn hoá: Thành phố có nhiều điểm tham quan du lịch có giá trị 14 Đó là khu di tích và danh thắng núi Bài Thơ, nhiều công trình văn hoá của thành phố như Cung văn hoá lao động Việt-Nhật, Cung văn hoá thiếu nhi, Bảo tang Quảng Ninh, Nhà thi đấu thể thao, … là những điểm tham quan có giá trị. Về phía Tây thành phố là khu di tích và danh thắng chùa Lôi Âm-hồ Yên Lập với những ngọn tháp từ thời Lê và những đảo đẹp, những cánh rừng thông quanh năm xanh tươi rất phù hợp với nhu cầu giải trí, nghỉ dưỡng, thăm thú của du khách. *Về thiên nhiên: Các cảnh quan tự nhiên của thành phố được bảo tồn và từng bước xây dựng các khu du lịch sinh thái, như khu du lịch Hùng Thắng, Yên Cư, Đại Đán nối liền với quần thể du lịch sinh thái Hoàng Tân, Yên Hưng, các điểm du lịch sinh thái ở eo biển Cửa Lục. Công viên bãi tắm trung tâm Bãi Cháy, Bảo tàng sinh thái Hạ Long và công viên Lán Bè đang được chuẩn bị xây dựng, mở ra các loại hình du lịch phong phú, đáp ứng nhu cầu ngày cang tăng của du khách. *Về thương mại: Ngoài chợ Hạ Long I, chợ Hạ Long II cùng các trung tâm thương mại và các siêu thị đã được hoạt động có hiệu quả ở các phường Bạch Đằng và Trần Hưng Đạo 15 Thành phố đã đầu tư xây dựng chợ mới Vườn Đào ở phường Bãi Cháy, tu sửa và nâng cấp 1 số chợ khác, trước mắt sẽ xây dựng trung tâm thương mại tại khu vực Bãi Cháy. Cùng với việc nâng cao hiệu quả hoạt động của cảng biển trong việc bốc dỡ vận chuyển hàng hoá phục vụ nhu cầu mua sắm của khách du lịch, cảng du lịch quốc tế Hồng Gai sẽ được cải tạo, nâng cấp, đủ điều kiện đòn các đoàn du lịch nước ngoài đến thăm Vịnh Hạ Long và thành phố Hạ Long bằng tàu biển. *Về nguồn nhân lực: Thành phố hiện có trên 200 ngàn người. Đến năm 2010, số dân dự kiến sẽ là 400 ngàn người. Tỷ lệ lao động thông qua đào tạo hiện nay là 62%, sẽ tăng 70% vào năm 2010. Đây sẽ là nguồn lực dồi dào để phát triển các loại hình du lịch, đẩy ngành du lịch trở thành ngành kinh tế chính trị và thành phố Hạ Long sẽ là thành phố du lịch trong tương lai. 2.1.4. Những giá trị nổi bật của Vịnh Hạ Long: 2.1.4.1. Giá trị thẩm mỹ: Vịnh Hạ Long là một tác phẩm điêu khắc hung vĩ và kỳ lạ của thiên nhiên. Từ xưa đến nay, Hạ Long đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo cho nhiều nghệ sỹ. Một vùng biển nước trong xanh, phẳng lặng được điểm xuyết lên bởi vô vàn những hòn đảo lớn nhỏ quần tụ lại. Ngắm nhìn Hạ Long ta như có cảm giác đang ngắm một tác phẩm kỳ vĩ chỉ có đá và nước. Đi giữa Hạ Long với muôn nghìn đảo đá, người ta dễ dàng tìm thấy những nét phác thảo vạn vật của tạo hoá. Hai chú gà hướng mỏ vào nhau như đang âu yếm, tình tứ ( hòn Trống Mái ); chú Đại Bàng đậu trên mỏm đá rình mồi ( hòn Đại Bàng ) hay ông già đang ngồi câu cá ( hòn Lã Vọng ), … Cảnh đẹp Hạ long không chỉ phô bày ở dạng núi, sắc trời, những hòn đảo đá cũng chứa đựng những tác phẩm điêu khắc tinh xảo, độc đáo, đó là hệ thống hang động vô cùng phong phú. Mỗi hang động có một vẻ đẹp khác nhau tạo nên sức hấp dẫn, lôi cuốn lạ lùng như: Động Thiên Cung chau chuốt, lộng lẫy như được chạm khắc từ pha lê; hang Sửng Sốt như mở ra 16 một thế giới cổ tích, thần thoại, … 2.1.4.2. Giá trị địa chất: Nếu giá trị cảnh quan tự nhiên tuyệt vời dễ thấy đã tôn vinh khu di sản, phản ánh hình thể và màu sắc của một viên ngọc quý, thì giá trị địa chất cần được xem như là cấu trúc và chất liệu tạo nên viên ngọc ấy. Dải ven bờ và trong lòng Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều hệ tầng trầm tích thành phần Cácbonat và lục nguyên với nhiều di tích cổ sinh vật dưới dạng hoá thạch, trong đó có các ngành, động thực vật đã bị biến mất trên Trái Đất. Lịch sử địa chất lâu dài của Vinh Hạ Long được biết ít nhất trên 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau. Khu vực Vịnh Hạ Long đã từng là biển sâu vào các kỷ Odovic-Silua ( khoảng 500410 triệu năm trước ), là biển nông vào các kỷ Cacbon-Pecmi ( khoảng 340-250 triệu năm trước ), biển ven bờ vào cuối kỷ Paleogen - đầu kỷ Neogen ( khoảng 26-20 triệu năm trước ) và trải qua một số lần biển lấn trong kỷ Nhân sinh ( khoảng 2 triệu năm qua ). Xen kẽ với các thời kỳ biển tồn tại là các thời kỳ lục địa. Vịnh Hạ Long đã trải qua những thời kỳ cổ địa lý rất đặc biệt. Kỷ Cacbon ( 340-285 triệu năm trước ) là thời gian nóng ẩm của Trái Đất, phát triển môi trường đầm lầy thực vật thuận lợi cho hình thành các bể than đá khổng lồ ở Châu Âu thì ở Vịnh Hạ Long lại là vùng biển nông, khí hậu khô nóng để hình thành nên tầng đá vôi dày. Trái lại, vào kỷ Trias ( 240-195 triệu năm trước) khi Trái Đất nói chung, Châu Âu nói riêng có khí hậu khô nóng thì khu vực Vịnh Hạ Long là những đầm lầy ẩm ướt với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ nhiều thế hệ, … Vịnh Hạ Long ngày nay mới được hình thành trong 7-8 nghìn năm qua. Do vậy, Vịnh Hạ Long mang nhiều giá trị quý cho khoa học địa chất kỷ Nhân sinh và địa chất biển. 17 2.1.4.3. Giá trị văn hoá - lịch sử: *Hạ Long - một trong những cái nôi của người Việt cổ: Quảng Ninh nói chung và Hạ Long nói riêng là nơi có một nền văn hoá lâu đời và liên tục. Đây là một nền văn hoá có những đặc trưng riêng, phân bố tập trung tại một khu vực độc lập nhưng không hề biệt lập, nó gắn liền với nhưng nền văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn nổi tiếng của dân tộc ta. - Văn hoá Soi Nhụ ( cách ngày nay 25000 năm đến 7000 năm ): Chủ yếu phân bố trong khu vực các đảo đá vôi thuộc Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long, ngoài ra còn phân bố ở các hang động ven bờ thuộc các vịnh ấy. - Văn hoá Cái Bèo ( cách ngày nay 7000 năm đén 5000 năm ): Các di chỉ thuộc nền văn hoá này phân bố trên bờ các vùng vịnh kín gió tựa lưng vào núi, mà chủ yếu là núi đá vôi. Phương thức kiếm sống của người Cái Bèo, Trước hết là định hướng khai thác biển sau đó là các phương thức truyền thống như săn bắt, hái lượm trên cạn. Trình độ chế tác công cụ lao động cũng như đồ gốm còn đơn giản, thô sơ. Đặc biệt người Cái Bèo đã khai thác biển bằng cả giao lưu trao đổi trên biển. * Văn hoá Hạ Long ( cách ngày nay từ 4500-3500 năm ) được chia làm 2 giai đoạn: Sớm và muộn. -Giai đoạn sớm – giai đoạn Thoi Giếng. Trong giai đoạn này, cư dân sống trên bề mặt của đồng bằng cổ pleixtoxen cao khoảng 6m so với mực nước biển hiện tại. Phương thức sống của họ là săn bắt, hái lượm. Nghệ thuật chế tác công cụ lao động cũng như đồ gốm bắt đầu tinh xảo hơn. -Giai đoạn muộn của văn hoá Hạ Long là kết quả của mực nước biển dâng cực đại rồi sau đó rút dần. Trong giai đoạn này, người Hạ Long cư trú trên những khu vực bị biển ngăn cách thành các đảo, họ đã hoàn toàn là cư dân của biển, kỹ thuật chế tác công cụ và đồ gốm đã trở thành đặc trưng của văn hoá Hạ Long. 18 *Vịnh Hạ Long – nơi ghi dấu lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc : Vịnh Hạ Long là nơi ghi dấu 3 trận thắng oanh liệt của quân và dân ta trên sông Bạch Đằng dưới sự chỉ huy của 3 vị anh hùng dân tộc: Ngô Quyền ( năm 938 ); Lê Hoàn ( năm 981 ) và Trần Hưng Đạo ( năm 1288 ). Và lịch sử cũng không quên những chiến công vang dội của quân và dân Quảng Ninh qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ góp phần bảo vệ nền hoà bình cho tổ quốc. Ngày nay Vịnh Hạ Long là nơi sinh sống cua 21 dân tộc an hem với những phong tục tập quán khác nhau – đó chính là di sản văn hoá phi vật thể của cả dân tộc. Nơi đây còn lưu giữ hàng chục di tích lịch sử, văn hoá: quần thể di tích Yên Tử, khu di tích Bài Thơ, đền Cửa Ông, bãi cọc Bạch Đằng, … 2.1.4.4. Giá trị đa dạng sinh học: Một đặc điẻm nổi bật nữa của Vịnh Hạ Long và vùng phụ cận là nó chứa đựng trong mình một một tiềm năng đa dạng sinh học to lớn. Đây là một nguồn tài nguyên quan trọng cần được giữ gìn, bảo tồn đẻ duy trì cân bằng sinh thái cho cả khu vực. Đa dạng sinh học Hạ Long có thể chia làm 2 hệ sinh thái lớn: Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ; hệ sinh thái biển và ven bờ. *Hệ sinh thái rừng nhiệt đới: Tổng số loài thực vật sống trên đảo ở Vịnh Hạ Long đến nay vẫn chưa xác định hết được, ước tinh phải trên một nghìn loài, phân bố không đều. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau được tìm thấy như: Các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở cửa hang hay khe đá. Tất cả các loài thực vật này đều thích nghi tốt với điều kiện sống trên các đảo đá vôi của Vịnh Hạ Long. 19 *Hệ sinh thái biển và ven bờ: Bao gồm hệ sinh thái đất ướt và hệ sinh thái biển : +Hệ sinh thái đất ướt: Gồm 6 dạng sinh thái : - Sinh thái vùng triểu và vùng ngập mặn : Khu vực Hạ Long và vùng phụ cận có 20 loài thực vật ngập mặn. Nhưng rừng ngập mặn Hạ Long còn đóng vai trò là nơi sống cho nhiều loài sinh vật khác do đó nó mang năng suất sinh thái cao. Nơi này là nơi sinh sống của 169 loài giun nhiều tơ, 16 loài rong biển, 90 loài cá, 200 loài chim và 5 loài bò sát và 1 số loài khác, … ). - Dạng sinh thái đáy cứng, rạn san hô : Hiện nay người ta đã thống kê được 170 loài san hô trên vùng Vịnh Hạ Long. Đây là nhóm động vật thuộc ngành ruột khoang, trong đó chủ yếu thuộc lớp san hô và lớp thuỷ tức. Lớp san hô gồm 9 bộ, trong đó bộ san hô cứng có 122 loài. Tạo rạn san hô trong Vịnh Hạ Long chủ yếu là các loài của bộ san hô cứng. Rạn san hô Hạ Long cũng là cũng là nơi sinh cư của 82 loài chân bụng; 130 loài hai mảnh vỏ; 55 loà giun nhiều tơ; 57 loài cua. - Dạng sinh thái hang động và tùng, áng : Áng là các hồ chứa nước, nằm giữa các đảo; còn tùng là vùng nước có một cửa tương đối kín, ít song. Đây là những điều kiện tự nhiên tạo nên các hệ sinh thái đặc biệt, làm tăng giá trị cảnh quan của Vịnh. - Dạng sinh thái đáy mềm : Đây là dạng sinh thái của quần xã cỏ biển. Cỏ biển ở Hạ Long có số loài không lớn: 5 loài , nhưng lại là nơi cư trú cho nhiều loài, có tác dụng chắn sóng và tham gia hấp thụ các chất hữu cơ, làm sạch nước biển. - Dạng sinh thái bãi triều không có rừng ngập mặn : Thường phân bố ở đới triều thấp. Sinh vật sống trên các vùng triều đặc trưng là động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giun biển có giá trị dinh 20
- Xem thêm -