Tìm hiểu sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở thành phố cần thơ

  • Số trang: 71 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 10 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC TÌM HIỂU SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ Chuyên ngành: Sư phạm giáo dục công dân Giáo viên huớng dẫn: Th.S.TRẦN THANH QUANG Sinh viên thực hiện : Tăng Văn Cương MSSV:6064639. Lớp: sư phạm GDCD. K32 Cần Thơ 05/2010 LỜI CÁM ƠN “ Cha mẹ cho con hình hài, Có câu: Thầy, cô cho em kiến thức ” Hoàn thành luận văn tốt nghiệp là vinh dự lớn lao, đồng thời đây cũng là nhiệm vụ quan trọng của sinh viên trước khi rời khỏi giảng đường đại học để bước vào đời. Để hoàn thành tốt luận văn, ngoài sự cố gắng không mệt mỏi của bản thân, thì sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy cô là vô cùng quan trọng. Trong quá trình học tập, tôi đã học tập được rất nhiều điều bổ ích từ các quý thầy cô của trường, của khoa. Tôi tin chắc rằng đây sẽ là hành trang quý giá giúp tôi trong cuộc sống sau này. Tôi xin chân thành cám ơn thầy Trần Thanh Quang đã tận tâm hướng dẫn tôi trong quá trình làm luận văn, đồng thời tôi cũng gởi lời cám ơn đến các thầy cô trong khoa đã tạo điều kiện tốt cho tôi hoàn thành bài luận văn này. Ngoài ra, tôi cũng xin gởi lời cám ơn đến tập thể lớp SP GDCD K32 đã ủng hộ tôi trong suốt quá trình học tập. Cuối lời, tôi xin kính chúc sức khỏe và thành công đến quý thầy cô và các bạn. Do đây là bài luận văn tốt nghiệp đại học nên độ sâu và rộng còn hạn chế, rất mong được sự đóng góp chân thành của quý thầy cô và các bạn. Xin chân thành cám ơn! Sinh viên thực hiện: Tăng Văn Cương PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ lâu, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long là một vùng trù phú, đất đai màu mỡ, chủ yếu thích hợp cho phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên, do tập quán sản xuất nhỏ lẻ và manh mún, mang tính tự cung tự cấp đã làm cho tiềm năng của vùng không được khai thác hết. Đóng vai trò là trung tâm của vùng đồng bằng Sông Cửu Long, nhiệm vụ của thành phố Cần Thơ là vực dậy sự phát triển của cả vùng. Thế nhưng với một nền nông nghiệp lạc hậu không thể thực hiện được chiến lược kinh tế to lớn như vậy, chỉ có một nền công nghiệp tiên tiến với quy mô lớn mới đảm đương nổi nhiệm vụ chiến lược như thế. Nhận thấy được tầm quan trọng đó, Đảng ta đã đề ra đường lối, chiến lược phát triển cho cả vùng đồng bằng nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng, định hướng phát triển đến năm 2020. Thực hiện Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính Trị giao nhiệm vụ chính trị cho thành phố Cần Thơ đến năm 2020 là phấn đấu xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trở thành thành phố đồng bằng cấp quốc gia, văn minh, hiện đại, là trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại, dịch vụ, du lịch,… Một trong những nhiệm vụ của thành phố Cần Thơ trong những năm sắp tới là tập trung xây dựng một nền công nghiệp phát triển, có quy mô lớn bật nhất đồng bằng Sông Cửu Long. Các cấp lãnh đạo thành phố Cần Thơ đã cụ thể hóa Nghị quyết 45 của Bộ Chính Trị bằng cách hoạch định sự phát triển của thành phố theo hướng công nghiệp hóa, đẩy nhanh sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, đẩy nhanh công tác đào tạo đội ngũ nhân công có tay nghề cao. Thành phố Cần Thơ với vị trí thuận lợi đã được chọn để phát triển các khu công nghiệp, nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Cần Thơ nói riêng và của Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, với những lý do trên nên tôi đã chọn đề tài: “Tìm hiểu sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở thành phố Cần Thơ” để làm đề tài nghiên cứu của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài. Mục đích: Nhằm hiểu rõ thực trạng, vai trò và định hướng phát triển của các khu công nghiệp ở thành phố Cần Thơ để đề ra phương pháp thúc đẩy các khu công nghiệp tiếp tục phát triển. Nhiệm vụ: Làm rõ khái niệm, đặc trưng, vai trò và sự cần thiết phát triển các khu công nghiệp ở nước ta. Làm rõ thực trạng hình thành, phát triển các khu công nghiệp ở thành phố Cần Thơ và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Cần Thơ. Làm rõ định hướng phát triển và nêu ra các phương pháp nhằm thúc đẩy các khu công nghiệp ở thành phố Cần Thơ tiếp tục phát triển. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Đối tượng nghiên cứu: sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp ở thành phố Cần Thơ và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Cần Thơ. Phạm vi nghiên cứu: đề tài nghiên cứu trên địa bàn thành phố Cần Thơ từ sau đổi mới đến nay. 4. Phương pháp nghiên cứu. Để hoàn thành đề tài này tôi đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học, tuy nhiên phương pháp logic, phân tích-tổng hợp, phương pháp sưu tầm số liệu được tôi sử dụng nhiều hơn cả. 5. Kết cấu của luận văn. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dung của luận văn gồm ba chương, 7 tiết Chương 1: Khu công nghiệp và vai trò của khu công nghiệp. Chương 2: Thực trạng hình thành, phát triển các khu công nghiệp và vai trò của các khu công nghiệp đối với sự phát triển kinh - tế xã hội ở thành phố Cần Thơ. Chương 3: Mục tiêu, phương hướng và giải pháp tiếp tục phát triển các khu công nghiệp ở thành phố Cần Thơ. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: KHU CÔNG NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ 1.1. Khái niệm, đặc trưng và điều kiện phát triển khu công nghiệp. 1.1.1. Khái niệm khu công nghiệp: Khu công nghiệp, còn gọi là khu kỹ nghệ là khu vực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằm đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường. Khu công nghiệp thường được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và pháp lý riêng. Những khu công nghiệp có quy mô nhỏ thường được gọi là cụm công nghiệp. Tuỳ điều kiện từng nước mà khu công nghiệp có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau. Nhưng tựu trung lại, hiện nay trên thế giới có hai mô hình phát triển khu công nghiệp, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về khu công nghiệp. - Định nghĩa 1: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở... khu công nghiệp theo quan điểm này về thực chất là khu hành chính - kinh tế đặc biệt như khu công nghiệp thương mại Indonesia, các công viên công nghiệp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu. - Định nghĩa 2: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Theo quan điểm này, ở một số nước như Malaixia, Inđonnesia, Thái Lan, Đài Loan đã hình thành nhiều khu công nghiệp với qui mô khác nhau. - Ở nước ta theo quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao - ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/04/1997, khu công nghiệp là “khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính Phủ hoặc Thủ tướng Chính Phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất”. Như vậy trong khu công nghiệp ở Việt Nam được hiểu giống với định nghĩa 2 đã nêu ở trên. Trong đó: + Doanh nghiệp khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ. + Doanh nghiệp sản xuất khu công nghiệp là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp. + Doanh nghiệp dịch vụ khu công nghiệp là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp, thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, dịch vụ sản xuất công nghiệp. 1.1.2. Đặc trưng của khu công nghiệp việt nam: Hiện nay, các khu công nghiệp được phát triển ở hầu hết ở tất cả các quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển. Mặc dù có sự khác nhau về qui mô, địa điểm và phương thức xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng nói chung các khu công nghiệp có những đặc điểm chủ yếu sau đây: - Về tính chất hoạt động: khu công nghiệp là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ mà không có dân cư (gọi chung là doanh nghiệp khu công nghiệp). Khu công nghiệp là nơi xây dựng để thu hút các đơn vị sản xuất sản phẩm công nghiệp hoặc các đơn vị doanh nghiệp dịch vụ gắn liền với sản xuất công nghiệp. Theo điều 6 Quy chế khu công nghiệp, tiêu chuẩn sản xuất, khu công nghệ cao ban hành kèm Nghị định 36/CP thì doanh nghiệp khu công nghiệp có thể là các doanh nghiệp Việt Nam, thuộc mọi thành phần kinh tế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các bên tham gia hợp đồng, hợp tác kinh doanh, các doanh nghiệp này được quyền kinh doanh trong các lĩnh vực cụ thể sau: Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng; sản xuất gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và tiêu dùng ở trong nước, phát triển và kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ; nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra sản phẩm mới; dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp. - Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: khu công nghiệp đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như : đường xá, hệ thống điện nước, điện thoại. Thông thường việc phát triển cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp do một công ty xã hội khác phát triển công suất hạ tầng đảm nhiệm. Ở Việt Nam Công ty này là các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc doanh nghiệp trong nước thực hiện. Các Công ty phát triển cơ sở hạ tầng khu công nghiệp sẽ xây dựng các kết cấu hạ tầng sau đó được phép cho các doanh nghiệp khác thuê lại. - Về tổ chức quản lý: Trên thực tế các khu công nghiệp đều thành lập hệ thống Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương để trực tiếp thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong khu công nghiệp. Ngoài ra tham gia vào quản lý tại các khu công nghiệp còn có nhều Bộ như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại, Bộ Xây dựng... 1.1.3. Điều kiện phát triển khu công nghiệp Việt Nam. 1.1.3.1. Điều kiện và chế độ thành lập khu công nghiệp : Các điều kiện cần thiết cần được xem xét khi quyết định thành lập khu công nghiệp - khu chế xuất: Ngày 24-4-1997, Chính phủ đã có Nghị định 36/CP ban hành quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao thay thế quy chế khu chế xuất ban hành kèm theo Nghị định số 322-HĐBT ngày 18-10-1991 và quy chế khu công nghiệp ban hành kèm theo Nghị định 192/CP ngày 28-12-1994 của Chính phủ. Cho đến nay đã có trên 130 khu công nghiệp, khu chế xuất được thành lập trên phạm vi cả nước với tổng diện tích đất xấp xỉ 4700 ha. Việc thành lập khu công nghiệp, khu chế xuất này là trên cơ sở dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng được phê duyệt theo một hay hai hình thức: doanh nghiệp Việt Nam tự đầu tư hoặc thành lập doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài để đầu tư.. Trong số các khu công nghiệp đó, cá biệt có một khu công nghiệp do doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng. Hiện nay ở nhiều địa phương trong cả nước có xu hướng thành lập và phát triển các khu công nghiệp với quy mô và hình thức khác nhau. Việc phát triển các khu công nghiệp là việc làm tất yếu và cần thiết trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Các điều kiện bắt buộc phải xét đến khi quyết định thành lập một khu công nghiệp là: Sự phù hợp của khu công nghiệp đó với quy hoạch phát triển hệ thống khu công nghiệp trong phạm vi cả nước, kế hoạch phát triển ngành kinh tế - kỹ thuật cũng như quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương. Quy hoạch phát triển khu công nghiệp trong phạm vi cả nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định 519/TTg ngày 8-6-1996. Khi xây dựng khu công nghiệp cần xem xét phương hướng mặt hàng, sản phẩm chủ yếu trong khu công nghiệp đó có phù hợp với định hướng phát triển ngành kinh tế - kỹ thuật tương ứng hay không. Vai trò, vị trí của khu công nghiệp trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương là hết sức quan trọng khi quyết định thành lập, bao gồm việc tạo ra năng lực sản xuất mới ở địa phương, hình thành các khu dân cư mới và yêu cầu giải quyết các vấn đề phát sinh. Việc thành lập các khu công nghiệp phải phù hợp với định hướng phát triển công nghệp của các ngành kinh tế - kỹ thuật, kể cả yêu cầu áp dụng công nghệ kỹ thuật cao, hiện đại đối với một số ngành mũi nhọn. Các dự án thành lập khu công nghiệp phải thể hiện đầy đủ yêu cầu và có giải pháp khả thi trong việc phát triển và kinh doanh cơ sở hạ tầng, trước hết là cơ sở hạ tầng kỹ thuật, như giao thông cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc, thoát nước và xử lý nước thải...Khi xem xét cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, cần tính toán đầy đủ khả năng cung cấp từ bên ngoài các đầu mối kỹ thuật, nhu cầu đầu tư và khả năng thực hiện. Trong các dự án phát triển khu công nghiệp, yếu tố này thường bị bỏ qua hoặc bị xem xét sơ sài trong khi nó đóng vai trò hết sức quan trọng nhiều khi là quyết định trong việc đảm bảo cơ sở hạ tầng tối thiểu cho hoạt động khu công nghiệp. Bao trùm lên toàn bộ vấn đề phát triển cơ sở hạ tầng khu công nghiệp là phải xác định được tổng nhu cầu vốn đầu tư và phương thức tổ chức thực hiện. Doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, dù đó là doanh nghiệp Việt Nam hay doanh nghiệp nước ngoài, phải đóng vai trò chủ đạo trong việc khâu nối đồng bộ hoá các khâu có liên quan để đảm bảo vận hành khu công nghiệp có hiệu quả. Yếu tố cực kỳ quan trọng, quyết định nhất khi xem xét thành lập các khu công nghiệp là kế hoạch vận động các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào khu công nghiệp. Một thực tế đặt ra đối với chúng ta là, trong số 130 khu công nghiệp được quyết định thành lập như nói trên, một số khu công nghiệp, kể cả khu công nghiệp liên doanh với nước ngoài đã xây dựng cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ và tương đối hiện đại song vẫn chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư vào. Điều này ngoài các yếu tố chung của môi trường đầu tư của đất nước, còn có phần chủ quan của doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng và nếu kéo dài tình trạng không thu hút được các nhà đầu tư thì sẽ gây thiệt hại cho doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng nói riêng và đất nước nói chung. Trong nhiều trường hợp doanh nghiệp xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng đưa ra giá cho thuê lại đất quá cao so với mức giá của các dự án ngoài khu công nghiệp ở gần đó. Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, họ còn áp dụng phương thức trả tiền thuê lại đất một lần cho thời gian quá dài thậm chí đến 50 năm nên làm cho nhiều nhà đầu tư ngần ngại khi quyết định đầu tư vào khu công nghiệp. Vậy việc thành lập khu công nghiệp mà mục đích cuối cùng là các xí nghiệp sản xuất công nghiệp cùng với cơ sở hạ tầng hiện đại, bảo vệ môi trường trong sạch là quá trình lâu dài, phức tạp. Khi ra quyết định thành lập các khu công nghiệp đó, nếu xét kỹ các vấn đề nêu trên thì cơ bản sẽ tránh được nhiều rủi ro, tránh được lãng phí đầu tư có thể xảy ra. Chế độ thành lập khu công nghiệp: Như định nghĩa đã nêu ở phần trên, khu công nghiệp là do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Việc phát triển khu công nghiệp phải tuân theo quy hoạch tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt. Trường hợp muốn hình thành khu công nghiệp đã có thì trong quy hoạch tổng thể thì Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) chỉ đạo việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi thành lập khu công nghiệp và trình duyệt quy định hiện hành. Trường hợp muốn hình thành khu công nghiệp chưa có trong quy hoạch tổng thể thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Công nghiệp, Bộ Xây dựng, Ban quản lý các khu công nghiệp Việt Nam và các cơ quan liên quan trên cơ sở đề nghị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định chủ trương hình thành khu công nghiệp đó. Khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc thành lập khu công nghiệp, cơ quan xem xét, thẩm định dự án làm rõ các vấn đề sau: Có hoặc chưa có trong quy định tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt. Trường hợp chưa có trong quy hoạch tổng thể thì phải làm rõ sự cần thiết phải điều chỉnh, bổ sung vào quy hoạch tổng thể. Việc đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng trong và ngoài khu công nghiệp, có tính đến các đầu nối kỹ thuật ngoài khu công nghiệp, khu dân cư phục vụ công nhân lao động làm việc tại khu công nghiệp, các trường học, cơ sở khám và chữa bệnh phục vụ khu công nghiệp. Các giải pháp về nguồn vốn, cấp điện, cấp thoát nước, giao thông, thông tin môi trường, lao động để đảm bảo tính khả thi của khu công nghiệp. Ngành nghề sản xuất công nghiệp trong khu công nghiệp. Phương án vận động đầu tư vào khu công nghiệp. Về khu công nghiệp cũng giống như khu chế xuất. Về cơ bản, khu công nghiệp cũng là địa bàn sản xuất công nghiệp mà phần lớn là công nghiệp tiêu dùng đều gồm các xí nghiệp vừa và nhỏ, đều là khu vực không có dân cư sinh sống. Tuy vậy, sự khác nhau về cơ bản giữa khu công nghiệp và khu chế xuất là ở chỗ: khu chế xuất được lập ra để sản xuất chủ yếu, phục vụ cho xuất khẩu, còn khu công nghiệp có phạm vi không gian rộng hơn, sản phẩm làm ra vừa được xuất khẩu vừa được phép tiêu dùng nội địa, thay thế hàng nhập khẩu. Một số khu công nghiệp ở Việt Nam còn quy định nếu xuất khẩu 100% sản phẩm làm ra thì được hưởng quy chế ưu đãi như quy chế khu chế xuất. Trong năm 1998, hoạt động xây dựng và phát triển khu công nghiệp ở nước ta thể hiện rõ thành tựu nổi bật như sau: phát triển và phân bố rộng các khu công nghiệp trên các vùng kinh tế có lợi thế. Năm 1998, trên phạm vi cả nước đã có 64 khu công nghiệp trong đó gồm 3 khu chế xuất, 60 khu công nghiệp, một khu công nghệ cao với tổng diện tích đất theo quy hoạch được phê duyệt trên 10.000 ha trong giai đoạn 1 chiếm 71% tổng số khu công nghiệp dự kiến trong quy hoạch đến năm 2000. Trong 64 khu công nghiệp này có 21 khu công nghiệp mới và hiện đại trong đó 13 khu công nghiệp hợp tác với nước ngoài để phát triển hạ tầng. Điều kiện quan trọng, quyết định nhất khi xem xét thành lập các khu công nghiệp là xác định được nhu cầu thành lập khu công nghiệp và phải có kế hoạch vận động các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào khu công nghiệp. Thực tế cho thấy, một số khu công nghiệp đã được thành lập, kể cả khu công nghiệp liên doanh với nước ngoài, đã xây dựng kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh đồng bộ và tương đối hiện đại song đang gặp khó khăn trong việc thu hút đầu tư, dẫn đến việc không đạt hiệu quả, mục tiêu đặt ra. Do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân xác định không chính xác sự cần thiết và nhu cầu thành lập khu công nghiệp. Do vậy, khi xem xét thành lập khu công nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng nhu cầu thành lập khu công nghiệp, khả năng kêu gọi các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào khu công nghiệp, coi đó là một trong những điều kiện tiên quyết của việc thành lập khu công nghiệp. Sự phù hợp của khu công nghiệp đó với quy hoạch phát triển hệ thống khu công nghiệp trong phạm vi cả nước kế hoạch phát triển ngành kinh tế kỹ thuật cũng như quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương. Từ đó xác định phương hướng mặt hàng, sản phẩm chủ yếu trong khu công nghiệp đó có phù hợp với định hướng phát triển kinh tế kỹ thuật, tương ứng hay không, kể cả định hướng tiêu thụ sản phẩm trong đó, có vấn đề xuất khẩu sản phẩm. Vai trò, vị trí của khu công nghiệp trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương là yếu tố hết sức quan trọng trong khi quyết định thành lập khu công nghiệp, bao gồm việc tạo ra năng lực sản xuất mới ở địa phương, hình thành các khu dân cư mới và yêu cầu giải quyết các vấn đề phát sinh. Việc thành lập các khu công nghiệp phải phù hợp với định hướng phát triển công nghệ của các ngành kinh tế, kỹ thuật kể cả yêu cầu áp dụng công nghệ kỹ thuật cao, hiện đại với một số ngành mũi nhọn. Các dự án thành lập, các khu công nghiệp cần thể hiện đầy đủ yêu cầu và giải pháp khả thi trong việc phát triển và kinh doanh kết cấu hạ tầng, trước hết là hạ tầng kỹ thuật như giao thông, cấp điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc và xử lý chất thải... Điều kiện phát triển khu công nghiệp là một trong những xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ở Việt Nam, để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững khu công nghiệp của đất nước như Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế, Chính phủ đã ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam). Mục tiêu phát triển bền vững đất nước chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở thực hiện chiến lược phát triển bền vững trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương, trong đó có phát triển bền vững các khu công nghiệp. Có thể hiểu phát triển bền vững khu công nghiệp là việc bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế ổn định, có hiệu quả ngày càng cao trong bản thân khu công nghiệp, gắn liền với việc bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống, cũng như những yêu cầu về ổn định xã hội, an ninh quốc phòng trong khu vực có khu công nghiệp cũng như toàn lãnh thổ quốc gia. Theo quan niệm trên, phát triển bền vững khu công nghiệp ở Việt Nam phải được xem xét trên 2 góc độ: Duy trì tính chất bền vững và hiệu quả trong hoạt động của bản thân khu công nghiệp. Bảo đảm các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của khu công nghiệp; nâng cao khả năng cạnh tranh của các khu công nghiệp Việt Nam, bảo đảm chất lượng môi trường trong nội bộ khu công nghiệp. Tác động lan toả tích cực của khu công nghiệp đến hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương, khu vực có khu công nghiệp. Điều này được thể hiện trên các mặt: tạo sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu ngành kinh tế theo xu hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hướng về xuất khẩu; tác động tích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội cho khu vực có khu công nghiệp; tác động tích cực và giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực đến các vấn đề xã hội, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho dân cư, giảm thiểu tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển khu công nghiệp. 1.1.3.2. Các điều kiện đánh giá phát triển khu công nghiệp: Vị trí đặt của khu công nghiệp: Đây là cơ sở ban đầu dẫn đến sự thành công của khu công nghiệp. Dấu hiệu này thể hiện: khu công nghiệp đặt ở vị trí thuận lợi hay khó khăn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật như đường sá, cầu cống, bến cảng, nhà ga, sân bay, hệ thống viễn thông; điều kiện về nguồn nhân lực dồi dào; tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư về vị trí và điều kiện sinh hoạt. Những điểm trên phải được xem xét trên khía cạnh hiện tại và sự duy trì khả năng ấy trong tương lai. Quy mô đất đai của khu công nghiệp: Điều kiện này xét trên 2 khía cạnh: - Một là, mục đích hình thành khu công nghiệp: nếu việc hình thành khu công nghiệp để thu hút vốn đầu tư nước ngoài thì quy mô có hiệu quả nằm trong khoảng 200-300 ha (đối với các khu công nghiệp nằm trong khu vực thành thị và vùng kinh tế trọng điểm), còn 200 - 400 ha đối với khu công nghiệp nằm trên các tỉnh; với mục tiêu di dời các cơ sở công nghiệp trong các thành phố, đô thị lớn tập trung vào thì khu công nghiệp có quy mô nhỏ hơn 100 ha; với mục tiêu tận dụng nguồn lao động là thế mạnh tại chỗ của các địa phương thì quy mô khu công nghiệp từ 100 ha; với mục tiêu kết hợp kinh tế với quốc phòng thì hình thành các khu công nghiệp có quy mô từ 100-200 ha. - Hai là, tính chất và điều kiện hoạt động của khu công nghiệp: nếu khu công nghiệp được đặt ở địa phương có cảng biển và nguồn nguyên liệu lớn, hình thành với tính chất chuyên môn hoá sản xuất ổn định một số sản phẩm hàng hoá công nghiệp nặng thì quy mô khu công nghiệp từ 300-500 ha; với các khu công nghiệp nằm ở xa đô thị với các điều kiện xa cảng biển, với tính chất hoạt động là tận dụng lao động thì quy mô hợp lý là 50-100 ha. Tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp. Tiêu chí này được đo bằng tỷ lệ diện tích khu công nghiệp đã cho các doanh nghiệp và dịch vụ thuê so với tổng diện tích khu công nghiệp. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy: thời gian để thu hồi kinh phí đầu tư xây dựng có thể kéo dài khoảng 15-20 năm, vì vậy nếu sau 10-15 năm mà tỷ lệ khoảng trống trong khu công nghiệp này không có khả năng đạt hiệu quả và phát triển bền vững. Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp. Tiêu chí này bao gồm: Tổng doanh thu; tổng giá trị gia tăng; tổng lao động thu hút; tổng vốn kinh doanh; tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng doanh thu; năng suất lao động tính theo doanh thu; thu nhập bình quân của một đơn vị lao động. Trình độ công nghệ của doanh nghiệp và các hoạt động triển khai khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh. Tiêu chí này phản ánh khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nội bộ khu công nghiệp cũng như giữa các khu công nghiệp với nhau và được thể hiện ở: số lượng và cơ cấu máy móc thiết bị sử dụng trong khu công nghiệp; tỷ lệ máy móc thiết bị mới so với tổng số máy móc thiết bị sử dụng; độ tuổi trung bình của công nghệ hoạt động trong doanh nghiệp, tỷ lệ vốn sản xuất trên đầu 1 lao động, tỷ lệ vốn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai trong tổng vốn đầu tư của khu công nghiệp, tỷ lệ doanh thu từ hoạt động nghiên cứu và triển khai so với tổng quy mô hoạt động của doanh nghiệp và của toàn khu công nghiệp. Hệ số chuyên môn hoá và liên kết kinh tế. Đây là điều kiện phản ánh tính hiệu quả trong hoạt động của toàn khu công nghiệp, tính chất tiên tiến trong tổ chức sản xuất phù hợp với xu thế phát triển của phân công lao động xã hội theo hướng hiện đại. Tiêu chí này thể hiện trên các khía cạnh: tỷ lệ doanh thu của mặt hàng chuyên môn hoá chiếm trong tổng doanh thu; tỷ lệ số doanh nghiệp có liên kết kinh tế với nhau trong tổng số doanh nghiệp nằm trong khu công nghiệp; số ngành kinh tế hoạt động trong một khu công nghiệp (phản ánh tính chất logistic trong khu công nghiệp); hệ số liên kết kinh tế của khu công nghiệp với bên ngoài; số khu công nghiệp khác, số doanh nghiệp ở ngoài khu công nghiệp có trao đổi kinh tế kỹ thuật với khu công nghiệp. Mức độ thoả mãn nhu cầu cho các nhà đầu tư. Điều kiện này phản ánh mức độ hấp dẫn nội bộ của khu công nghiệp đối với các nhà đầu tư và được thể hiện cụ thể ở: mức độ bảo đảm của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội của khu công nghiệp như: điện, nuớc, kho tàng, đường sá, phương tiện vận chuyển (chủng loại, quy mô và chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội); Chủng loại, quy mô và chất lượng hoạt động của hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế phục vụ hoạt động cho các doanh nghiệp trong khu công nghiệp như: bưu chính, thông tin, tài chính, ngân hàng, v.v... 1.1.3.3. Các tiêu chí đánh giá tác động lan toả: Nhóm 1: Tiêu chí về kinh tế kỹ thuật. Các chỉ tiêu đo lường chính là: Thu nhập bình quân đầu người tính cho toàn khu vực hoặc địa phương, so với mức chung của cả nước; cơ cấu kinh tế của địa phương có khu công nghiệp, thể hiện ở tỷ trọng về doanh thu, giá trị gia tăng, vốn sản xuất, lao động tính theo 3 lĩnh vực: ngành kinh tế, theo thành phần kinh tế, theo khu vực thể chế; đóng góp của khu công nghiệp cho ngân sách địa phương, thể hiện bằng: mức và tỷ lệ thu ngân sách của địa phương từ khu công nghiệp đem lại, tốc độ tăng thu thuế từ các khu công nghiệp; số lượng và chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội của địa phương có khu công nghiệp, cụ thể là hệ thống đường sá, cầu cống, hệ thống nhà ở, các công trình điện, nước, hệ thống bưu điện, thông tin liên lạc; tỷ lệ đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của địa phương. Nhóm 2: Tiêu chí phản ánh về xã hội. Tiêu chí phản ánh ảnh hưởng xã hội của khu công nghiệp được tập trung vào các chỉ tiêu phản ánh khả năng giải quyết việc làm của khu công nghiệp cho địa phương sau: - Sử dụng lao động địa phương: thể hiện ở quy mô và tỷ lệ lao động địa phương so với tổng số lao động làm việc trong khu công nghiệp. - Tỷ lệ hộ gia đình (hoặc là số lao động) tham gia cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khu công nghiệp so với tổng lao động địa phương); trong đó nhấn mạnh đến số lượng và tỷ lệ hộ gia đình (lao động) mất đất tham gia cung cấp sản phẩm - dịch vụ cho khu công nghiệp so với tổng số hộ (hoặc lao động) bị mất đất. - Cơ cấu lao động địa phương phản ánh ảnh hưởng của khu công nghiệp đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động trên địa bàn có khu công nghiệp. Nhóm 3: Tiêu chí phản ánh môi trường. Gồm 3 nội dung chính: khả năng duy trì vấn đề đa dạng hoá sinh học, tiết kiệm tài nguyên; chống ô nhiễm môi trường. 1.1.3.4. Một số yếu tố tác động tới sự thành lập và phát triển các khu công nghiệp. Có rất nhiều yếu tố tác động tới sự hình thành và phát triển các khu công nghiệp song tiêu biểu là một số yếu tố: Luật pháp, định hướng, quy hoạch phát triển các khu công nghiệp, phương hướng đầu tư xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, các vấn đề về lao động, về cơ sở hạ tầng xã hội ngoài hàng rào và cơ sở hạ tầng nên nếu được quản lý tốt, hướng chúng theo chiều hướng tích cực sẽ có tác dụng lớn trong việc phát triển khu công nghiệp. 1.2. Vai trò và sự cần thiết phải phát triển khu công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta: 1.2.1. Tính tất yếu khách quan của việc thành lập các khu công nghiệp: Mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại giữ vai trò quan trọng đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. Hiện nay chúng ta đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, các nguồn lực cần thiết cho đầu tư phát triển là rất hạn chế. Chính vì vậy việc mở rộng hợp tác với nước ngoài tạo cơ hội cho chúng ta thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là cần có môi trường đầu tư hấp dẫn để tạo ra động lực thu hút các nhà đầu tư. Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn thì chúng ta không thể cùng một lúc tạo ra môi trường thuận lợi ở trên toàn quốc, nên việc tạo ra những khu vực có diện tích nhỏ (khu công nghiệp) dể có điều kiện tập trung tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư, tạo khả năng thu hút nguồn vốn nước ngoài. Bên cạnh đó việc hình thành các khu công nghiệp cũng là cơ hội để phát huy cao sức mạnh nội lực của đất nước trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Thực tế những năm vừa qua cho chúng ta thấy vai trò quan trọng trong việc phát huy nội lực và tận dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho sự phát triển nền kinh tế. Vì vậy sự ra đời của các khu công nghiệp là một bước đi đúng đắn cho chúng ta trên con đường xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước. Đầu tư phát triển khu công nghiệp là tổng thể các hoạt động về huy động và sử dụng các nguồn lực nhằm xây dựng và phát triển các khu công nghiệp trong phạm vi không gian lãnh thổ và trong một thời kỳ nhất định, gắn với sự tác động tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng. Đó là quá trình tiến hành xây dựng và thực hiện các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cùng nhiều dự án đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ trong khu công nghiệp, do cộng đồng các chủ thể doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cùng tham gia các dự án đầu tư phát triển theo cơ cấu hợp lý và quy hoạch thống nhất. Hình thành và phát triển khu công nghiệp là quá trình tập hợp nhiều dự án đầu tư được thực hiện liên tục trong một thời gian dài, từ khi chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng hạ tầng đến khi xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ các công trình hạ tầng đó, từ việc xác định và thu thút các dự án đầu tư sản xuất đến khi các dự án này được vận hành với toàn diện tích của khu công nghiệp được sử dụng, đạt hiệu quả kinh tế xã hội như dự kiến. Năm 2005 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định thành lập khoảng 130 (chưa kể hàng trăm các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp với quy mô thích hợp do Uỷ ban nhân dân các tỉnh quyết định thành lập). Các khu công nghiệp đã thu hú 4516 dự án đầu tư, trong đó có 2202 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đạt khoảng 18 tỷ USD và 2314 dự án đầu tư trong nước với số vốn đầu tư trên 100.000 tỷ đồng. Các khu công nghiệp đã tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 14 tỷ USD, bằng 28% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước và xuất khẩu đạt 6 tỷ USD chiếm 19% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nộp Ngân sách 650 triệu USD, sử dụng gần 1 triệu lao động …. và tạo việc làm cho hàng triệu người phục vụ cho việc phát triển các khu công nghiệp. Thực hiện đường lối đổi mới được khởi xướng từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”. Theo đó, việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp để tổ chức lại nền sản xuất, đời sống xã hội trên phạm vi cả nước phù hợp với quá trình này là một biện pháp để thực hiện chủ trương nêu trên, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Cùng với quá trình đổi mới là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà theo đó là việc quy hoạch lại, tổ chức không gian lãnh thổ kinh tế. Trong quá trình tổ chức không gian lãnh thổ kinh tế, đi cùng với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi là việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đai, trong đó, có việc tăng diện tích để tạo mặt bằng cho việc hỗ trợ các hoạt động công nghiệp, thương mại, dịch vụ và phát triển đô thị. Vì vậy, đáp ứng yêu cầu trên, việc hình thành các khu công nghiệp trong không gian lãnh thổ kinh tế là một tất yếu. Ở đây, khu công nghiệp được hiểu là một khu vực có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp công nghiệp (cả bên trong và bên ngoài hàng rào khu công nghiệp, gồm cả cơ sở hạ tầng kinh tế và các cơ sở hạ tầng xã hội). Tất nhiên, khu công nghiệp sẽ là khu vực có điều kiện để tập trung các cơ sở công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định và đặc biệt là không có dân cư sinh sống. Nếu hội tụ đủ những yếu tố này với một hệ thống quản lý thích hợp bảo đảm cung cấp dịch vụ cần thiết cho sự phát triển của các doanh nghiệp (cấp phép, xúc tiến đầu tư, hỗ trợ tư vấn, hỗ trợ đào tạo…) các khu công nghiệp sẽ có điều kiện phát huy ưu thế của mình, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại mỗi địa bàn cũng như của cả nước. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được hiểu là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý xã hội và tâm lý từ sử dụng lao động thủ công là chủ yếu sang sử dụng một cách phổ biến lao động với tay nghề có công nghệ và phương pháp tiên tiến, hiện đạ dựa trên sự phát triển của công nghiệp, tiến bộ khoa học và công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao. 1.2.2. Tác động tích cực của các khu công nghiệp : Các khu công nghiệp đã và đang tạo nhân tố chủ yếu trong việc tăng trưởng công nghiệp theo quy hoạch, tăng khả năng thu hút đầu tư, đẩy mạnh nguồn hàng xuất khẩu, tạo việc làm và hạn chế tình trạng ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra. Chính sự phát triển các khu công nghiệp cũng đã thúc đẩy việc phát triển các đô thị mới, phát triển các cơ sở phụ trợ và dịch vụ, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội chung. Ảnh hưởng tích cực tác động của các khu công nghiệp có thể xác định rõ trên một số khía cạnh chủ yếu như: - Tạo điều kiện mặt bằng thuận lợi cho việc hình thành các doanh nghiệp công nghiệp mới, tạo điều kiện để thu hút vốn đầu tư cho sản xuất công nghiệp (bao gồm cả vốn trong và ngoài nước, bao gồm cả vốn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất…). - Tạo điều kiện để tập trung xử lý chất thải, bảo vệ môi trường thuận lợi hơn, hợp lý hơn, đặc biệt là đảm bảo việc hình thành một đô thị hợp lý, bền vững. - Trên cơ sở thuận lợi về mặt bằng sản xuất, các doanh nghiệp có điều kiện phát triển sản xuất, thu hút thêm lao động, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động (kể cả làm việc tại các khu công nghiệp, các việc làm phụ trợ ngoài khu công nghiệp, các dịch vụ cần thiết để hỗ trợ cho sự phát triển khu công nghiệp,…). - Tạo điều kiện để thực hiện các liên kết, hỗ trợ kinh tế mới (hỗ trợ về công nghệ, hỗ trợ về quản lý. Đặc biệt với sự phát triển của công nghệ thông tin, hiện nay sự gắn kết hỗ trợ các ngành cơ khí, điện, điện tử với nguyên lý điều khiển số, xử lý tri thức…). - Trên cơ sở các kết quả nêu trên sẽ đóng góp đáng kể vào sự phát triển ngành công nghiệp và đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của bản thân các địa phương có khu công nghiệp và cả nước nói chung. Quá trình phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam thời gian qua đã có những tác động tích cực đối với nền kinh tế nói chung và công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá nói riêng. Vai trò quan trọng của các khu công nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đã được thể hiện rõ trong sự đóng góp của các khu công nghiệp trong việc tạo tốc độ tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế (khối lượng vốn đầu tư cho công nghiệp, giá trị doanh thu và xuất khẩu của các khu công nghiệp, số việc làm tạo ra, trình độ công nghệ và kinh nghiệm quản lý,….) tạo nên một số ngành công nghiệp có năng lực cạnh tranh, một vài ngành công nghệ cao (sản xuất các phụ tùng, phụ kiện cho máy bay Airbus…) cũng như sự chuyển giao công nghệ tiên tiến hơn, kỹ năng quản lý và tiếp thị, đào tạo tay nghề cho người lao động Việt Nam (kể cả tâm lý xã hội và phong cách lao động công nghiệp – một yếu tố không nhỏ trong quá trình phát triển). 1.2.3. Các nguyên tắc và vấn đề đặt ra đối với sự phát triển các khu công nghiệp: Bên cạnh các khu công nghiệp do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, còn có các cụm công nghiệp (trong đó có các cụm công nghiệp làng nghề) do Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập đã tạo thành bức tranh chung về toàn bộ quá trình phát triển công nghiệp của nước ta. Các khu công nghiệp cũng như các cụm công nghiệp trong quá trình triển khai xây dựng đã dần thể hiện các nguyên tắc chủ yếu như: - Kết hợp chặt chẽ giữa các khu công nghiệp với quy hoạch phát triển công nghiệp, quy hoạch đô thị, phân bố dân cư và an ninh quốc phòng. - Có quỹ đất hợp lý để phát triển, có khả năng xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi. - Có thị trường (cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra) thuận lợi. - Có khả năng đáp ứng yêu cầu về lao động (cả số lượng và chất lượng). Nếu như trước đây, trong giai đoạn đầu phát triển, các nhà đầu tư nước ngoài là đối tượng chính đầu tư vào các khu công nghiệp, thì trong mấy năm gần đây, các khu công nghiệp đã thực sự thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư trong nước như Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, tỉnh Quảng Nam,… là nơi thu hút được nhiều doanh nghiệp trong nước tham gia, mà chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân đầu tư mới hoặc di chuyển khỏi nội đô thị. Việc tuân thủ các nguyên tắc nói trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành cũng như phát huy tác dụng của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Tuy vậy, trên phạm vi cả nước để có thể nhanh chóng hình thành hệ
- Xem thêm -