Tìm hiểu những khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường tiểu học lưu quý an, thị xã phúc yên, tỉnh vĩnh phúc_khóa luận tốt nghiệp qlgdth

  • Số trang: 80 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Khoá luận tốt nghiệp TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC ************** ĐỖ THỊ THU TRANG TÌM HIỂU NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG GIAO TIẾP CỦA HỌC SINH LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯU QUÝ AN, THỊ Xà PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Tâm lý học HÀ NỘI – 2008 Đỗ Thị Thu Trang – GDTH 1 K30A Khoá luận tốt nghiệp TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC ************** ĐỖ THỊ THU TRANG TÌM HIỂU NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG GIAO TIẾP CỦA HỌC SINH LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC LƯU QUÝ AN, THỊ Xà PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Tâm lý học Người hướng dẫn khoa học: Th.S HÀ KIM DUNG HÀ NỘI – 2008 Đỗ Thị Thu Trang – GDTH 2 K30A Khoá luận tốt nghiệp Lời cảm ơn Trong quá trình nghiên cứu đề tài: "Tìm hiểu những khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc", em đã gặp phải một số khó khăn vì đây là lần đầu tiên nghiên cứu khoa học. Nhưng được sự hướng dẫn và chỉ bảo tận tình của Th.s Hà Kim Dung, cùng sự giúp đỡ của các cô giáo Nguyễn Thị Đức - giáo viên chủ nhiệm lớp 4A1, Nguyễn Thị Minh - giáo viên chủ nhiệm lớp 4A2 và Nguyễn Thị Tuyết Mai - giáo viên chủ nhiệm lớp 4A3, cùng toàn thể các em học sinh trường tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, các thầy, cô trong tổ bộ môn Tâm lí - Giáo dục, các thầy cô trong khoa Giáo dục Tiểu học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, bạn Lê Thị Yến cùng nhóm. Qua đây, em xin trân trọng gửi tới các thầy cô, các bạn sinh viên, các em học sinh, đặc biệt xin trân trọng gửi tới cô giáo Hà Kim Dung lời cảm ơn, sự biết ơn chân thành và sâu sắc nhất. Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2008 Sinh viên Đỗ Thị Thu Trang Đỗ Thị Thu Trang – GDTH 3 K30A Khoá luận tốt nghiệp LỜI CAM ĐOAN Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu của tôi dưới sự chỉ bảo, dìu dắt của các thầy cô giáo, đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo Hà Kim Dung. Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Tìm hiểu những khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc" không có sự trùng lặp với các khóa luận khác và kết quả thu được trong đề tài là hoàn toàn xác thực. Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 2008 Sinh viên Đỗ Thị Thu Trang Đỗ Thị Thu Trang – GDTH 4 K30A Khoá luận tốt nghiệp MỤC LỤC Mở đầu 1 1 2 2 2 2 2 2 3 3 3 4 5 5 1. Lý do chọn đề tài 2. Mục đích nghiên cứu 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu 4.2. Khách thể nghiên cứu 5. Phạm vi nghiên cứu 6. ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 7. Giả thuyết khoa học 8. Phương pháp nghiên cứu 9. Dự kiến dàn ý công trình nghiên cứu Nội dung 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề5 Chương 1. Cơ sở lí luận 1.2. Những vấn đề lí luận chung 1.2.1. Giao tiếp là gì? 1.2.2. Các trở ngại trong giao tiếp 1.2.3. Đặc điểm giao tiếp của học sinh Tiểu học 1.2.4. Một số nét về nhân cách học sinh Tiểu học 2.1. Biểu hiện của khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc15 Chương 2. Thực trạng khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 2.1.2. Khó khăn trong giao tiếp với bạn bè15 2.1.1. Khó khăn trong giao tiếp với giáo viên 2.1.3. Khó khăn trong giao tiếp với người thân trong gia đình 2.2.1. Nguyên nhân chủ quan27 7 7 9 11 12 15 18 23 27 2.2. Nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Đỗ Thị Thu Trang – GDTH 5 K30A Khoá luận tốt nghiệp Vĩnh Phúc 2.2.2. Nguyên nhân khách quan Ch¬ng 3. Mét sè t¸c ®éng thö nghiÖm nh»m h¹n chÕ khã kh¨n trong giao tiÕp cña häc sinh líp 4 trêng TiÓu häc Lu Quý An, thÞ x· Phóc Yªn, tØnh VÜnh Phóc 3.1. Môc ®Ých thö nghiÖm 3.2. C¬ së khoa häc ®Ó lùa chän c¸c biÖn ph¸p thö nghiÖm 3.3. Néi dung thö nghiÖm 3.4. KÕt qu¶ cña qu¸ tr×nh thö nghiÖm 3.4.1. KÕt qu¶ thö nghiÖm mét sè biÖn ph¸p t¸c ®éng nh»m gi¶m bít khã kh¨n trong giao tiÕp víi gi¸o viªn 3.4.2. KÕt qu¶ thö nghiÖm mét sè biÖn ph¸p t¸c ®éng nh»m gi¶m bít khã kh¨n trong giao tiÕp víi b¹n bÌ 3.4.3. KÕt qu¶ thö nghiÖm mét sè biÖn ph¸p t¸c ®éng nh»m gi¶m bít khã kh¨n trong giao tiÕp víi gia ®×nh KÕt luËn vµ kiÕn nghÞ 1. KÕt luËn 2. KiÕn nghÞ Phô lôc Phô lôc 1. PhiÕu trng cÇu ý kiÕn PhiÕu sè 1 PhiÕu sè 2 Phô lôc 2. Mét sè trß ch¬i 1. Trß ch¬i: "HiÓu nhau" 2. Trß ch¬i: "NÕu… th×…" 3. Trß ch¬i: "§Æt tªn cho b¹n" Tµi liÖu tham kh¶o Đỗ Thị Thu Trang – GDTH 6 32 40 40 40 41 41 41 47 50 53 53 54 56 56 56 60 62 62 63 63 65 K30A Khoá luận tốt nghiệp Đỗ Thị Thu Trang – GDTH 7 K30A Khoá luận tốt nghiệp MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Con người từ khi xuất hiện trên Trái đất, để có thể tồn tại và phát triển, đã không ngừng nhận thức thế giới xung quanh cũng như thế giới bên trong mình. Trong quá trình nhận thức, loài người phải tiến hành giao tiếp, không chỉ để trao đổi thông tin, truyền đạt kinh nghiệm, mà còn trao đổi cả tư tưởng, tình cảm, góp phần làm cho cuộc sống của mình trở nên đa dạng, phong phú. Việc trao đổi, truyền đạt những kinh nghiệm đã được tích lũy, đã được khái quát hóa và hệ thống hóa dẫn đến sự ra đời của hoạt động giáo dục. Nhờ có giáo dục mà nhân cách con người được hình thành và phát triển đúng đắn. Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học, nhân cách đang được hình thành và phát triển. Lúc này, giao tiếp cũng có vị trí đặc biệt quan trọng, bởi vì các phẩm chất nhân cách chỉ được hình thành trong hoạt động học, hoạt động cùng nhau, trong đó giao tiếp là điều kiện. Đối với học sinh bậc Tiểu học, sự phát triển chung nhiều mặt của nhân cách, trong đó đặc biệt là sự phát triển thể chất và ngôn ngữ ảnh hưởng rất lớn đến việc giao tiếp với những người xung quanh. Lúc này, cơ thể trẻ đang có sự phát triển mạnh mẽ, hoạt động học tập, vui chơi cũng được mở rộng, theo đó, vốn ngôn ngữ của trẻ cũng mở rộng thêm. Mặt khác, trình độ phát triển tâm lý của giai đoạn lứa tuổi này cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển nhu cầu giao tiếp của các em. Có thể nói, đây là giai đoạn "quá độ" chuyển từ tuổi nhi đồng sang tuổi thiếu niên, đã tạo sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động giao tiếp, nhất là giao tiếp với bạn cùng tuổi. Vì thế, học sinh cuối bậc Tiểu học sẽ gặp phải một số khó khăn trong giao tiếp. Nội dung những khó khăn đó như thế nào, nhiều hay ít, cản trở đến Đỗ Thị Thu Trang – GDTH 8 K30A Khoá luận tốt nghiệp hoạt động học tập, vui chơi của các em như thế nào cần phải được nghiên cứu để xác định những biện pháp và nội dung giáo dục phù hợp cũng như điều khiển, điều chỉnh quá trình phát triển nhân cách của học sinh lứa tuổi này. 2. Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu những khó khăn học sinh lớp 4 gặp phải trong giao tiếp và nguyên nhân dẫn đến những khó khăn này. - Tiến hành thử nghiệm nhằm tìm ra những biện pháp tác động để hạn chế khó khăn trong giao tiếp cho học sinh Tiểu học. - Đề xuất một số giải pháp để giảm khó khăn của học sinh trong quá trình giao tiếp. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài. - Xây dựng phiếu điều tra tìm hiểu khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4. - Tiến hành điều tra qua một số phương pháp nghiên cứu để lấy số liệu. - Phân tích kết quả nghiên cứu để làm rõ khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 và nguyên nhân gây ra khó khăn này. - Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm giảm bớt khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4. 4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu - Khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. 4.2. Khách thể nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu là học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. 5. Phạm vi nghiên cứu Đỗ Thị Thu Trang – GDTH 9 K30A Khoá luận tốt nghiệp - Nghiên cứu những khó khăn mà học sinh lớp 4 bậc Tiểu học gặp phải trong giao tiếp với giáo viên, bạn bè và những người thân trong gia đình. 6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn Đề tài nghiên cứu trên học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc là quan trọng và cần thiết, trên cơ sở đó cung cấp những kiến thức, hiểu biết cơ bản về khó khăn trong giao tiếp và việc điều tra sẽ trang bị cho ta những hiểu biết về khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Từ đó có biện pháp tích cực giúp học sinh Tiểu học khắc phục khó khăn trong giao tiếp, góp phần tạo thuận lợi cho sự phát triển nhân cách của các em. 7. Giả thuyết khoa học Học sinh lớp 4 bậc Tiểu học là những nhân cách đang hình thành và phát triển. Mặc dù cơ thể và các đặc điểm tâm lý của các em đã phát triển hơn so với giai đoạn trước nhưng các em vẫn gặp một số khó khăn trong giao tiếp. Nếu phát hiện kịp thời những khó khăn này của các em và có biện pháp tác động đúng đắn thì sẽ tạo thuận lợi cho học sinh Tiểu học phát triển nhân cách toàn diện. 8. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp quan sát. - Phương pháp trò chuyện. - Phương pháp điều tra. - Phương pháp nghiên cứu sản phẩm. - Phương pháp thực nghiệm. - Phương pháp thống kê toán toán học. Đỗ Thị Thu Trang K30A – GDTH 10 Khoá luận tốt nghiệp 9. Dự kiến dàn ý công trình nghiên cứu Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài 2. Mục đích nghiên cứu 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu 5. Phạm vi nghiên cứu 6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 7. Giả thuyết khoa học 8. Phương pháp nghiên cứu 9. Dự kiến dàn ý công trình nghiên cứu Nội dung Chương 1. Cơ sở lý luận Chương 2. Thực trạng khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 3. Một số tác động thử nghiệm nhằm hạn chế khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Kết luận và kiến nghị 1. Kết luận 2. Kiến nghị Phụ lục Tài liệu tham khảo Đỗ Thị Thu Trang K30A – GDTH 11 Khoá luận tốt nghiệp NỘI DUNG CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Giao tiếp là vấn đề rất được các nhà nghiên cứu quan tâm. Cho đến nay, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này và các công trình nghiên cứu đó đều đem lại giá trị thực tiễn rất cao. T.s Nguyễn Xuân Thức - ĐHSP Hà Nội đã có nhiều công trình nghiên cứu về tâm lý giao tiếp của học sinh Tiểu học, trong đó có thể kể đến công trình nghiên cứu "Khó khăn tâm lí của trẻ đi học lớp 1". Tác giả đã nhận xét: "Trẻ gặp khó khăn trong việc thiết lập quan hệ giao tiếp với thầy cô và bạn bè, đặc biệt là giao tiếp với giáo viên. Ở mẫu giáo, quan hệ cô - trò nặng về khía cạnh tình cảm, dỗ dành và nhẹ về công việc. Nhưng khi đi học lớp 1, dù có niềm nở và nhân hậu thì giáo viên vẫn là người có uy tín và nghiêm khắc, đưa ra những nguyên tắc nhất định và ngăn chặn mọi hành vi vi phạm quy tắc nhà trường của trẻ. Mặt khác, giáo viên là người đánh giá công việc của trẻ nên khi đứng trước giáo viên, trẻ thường có thái độ sợ sệt, không chủ động và dễ mất bình tĩnh". [17,tr18] Có thể thấy rằng tác giả đã đề cập đến mối quan hệ giao tiếp mới của trẻ rất cụ thể. Tuy nhiên, tác giả chưa chỉ ra rõ nguyên nhân dẫn đến những rắc rối mà trẻ gặp phải khi xuất hiện những mối quan hệ mới này. Tác giả cũng chỉ rõ những rắc rối trẻ gặp phải trong quan hệ giao tiếp với bạn bè. Cụ thể, trong công trình nghiên cứu: "Xung đột tâm lí trong giao tiếp nhóm bạn bè của học sinh Tiểu học", ông đã nhận xét: "Trong nhóm bạn giao tiếp của học sinh Tiểu học có xảy ra các va chạm, xung đột tâm lí với nhau. Nguyên nhân dẫn đến xung đột đa dạng, nhưng nhiều nhất là do bất đồng về quan điểm, ý kiến cá nhân của các thành viên trong nhóm". Đỗ Thị Thu Trang K30A – GDTH 12 Khoá luận tốt nghiệp [20,tr24] Về nguyên nhân tác giả đã nêu là có thực, nó xuất phát từ bản thân trẻ, với nội dung giao tiếp rất đa dạng. Thực tế, trẻ gặp phải một số khó khăn trong mối quan hệ với các bạn cùng lớp. Vì thế, vấn đề nghiên cứu trên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khắc phục những khó khăn giao tiếp với bạn bè của trẻ. Trong công trình nghiên cứu về "Khó khăn tâm lí trong giao tiếp của học sinh lớp 1 hai trường tiểu học tỉnh Sơn La", Vũ Ngọc Hà và Lê Thị Thu Hà nhận xét:"Học sinh lớp một còn gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp. Những khó khăn này có mức độ và thứ bậc không đều nhau, trong đó giao tiếp với giáo viên, trẻ gặp nhiều khó khăn nhất". [3,tr34] Phan Thị Hạnh Mai, trong công trình nghiên cứu: "Khảo sát khả năng hòa nhập vào tập thể lớp của học sinh Tiểu học bằng trắc đạc xã hội" thì nhận xét: "Hòa nhập vào tập thể lớp học, đối với trẻ, là một công việc chẳng hề đơn giản chút nào so với việc học tập. Bởi lẽ, công việc này của trẻ diễn ra một cách tự phát, âm thầm "sau cánh cửa" của lớp học, ngoài những hoạt động "chính thức" của người học sinh, và ở đó, lần đầu tiên trong đời trẻ phải tự lập lấy vị trí của mình mà không có được bất kì một sự quan tâm êm dịu nào". [11,tr68] Đi sâu vào nghiên cứu "Nội dung giao tiếp của học sinh cuối Tiểu học", Đào Thị Oanh nhận xét: "Nội dung giao tiếp của học sinh cuối bậc Tiểu học khá đa dạng, phong phú. Những vấn đề được các em quan tâm, trao đổi, bàn luận khi gặp nhau được nhóm lại và trải rộng từ lĩnh vực học tập của bản thân (là nhiệm vụ chính của các em) đến những chuyện trong gia đình, trường lớp của mình và xã hội". Đỗ Thị Thu Trang K30A – GDTH 13 Khoá luận tốt nghiệp [12,tr34] Điểm qua các công trình nghiên cứu đã cho thấy đặc điểm giao tiếp của học sinh Tiểu học. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chưa xác định rõ khó khăn, biểu hiện và nguyên nhân dẫn đến khó khăn trong giao tiếp của học sinh cuối bậc Tiểu học. Vì vậy, việc tìm hiểu những khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 trường Tiểu học Lưu Quý An, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc là việc làm cần thiết để xác định nội dung và phương pháp giáo dục phù hợp nhằm hạn chế những khó khăn các em thường gặp phải trong giao tiếp, giúp các em phát triển nhân cách hoàn thiện nhất. 1.2. Những vấn đề lí luận chung 1.2.1. Giao tiếp là gì? Sống trong xã hội, con người không chỉ có quan hệ với thế giới sự vật, hiện tượng bằng hoạt động có đối tượng, mà còn có quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội - đó là quan hệ giao tiếp. Có thể hiểu một cách giản dị rằng: Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này sang người khác, với một mục đích nhất định nào đó. Sự giao tiếp được thực hiện giữa hai hoặc hơn hai người với nhau, trong một bối cảnh nhất định và bằng một phương tiện giao tiếp chung. Các kết quả nghiên cứu về sinh lí học và tâm lí học cho thấy rằng ở con người, nhu cầu giao tiếp dường như mang tính bẩm sinh. Khi giao tiếp, người ta trao đổi tư tưởng, tình cảm, trí tuệ, sự hiểu biết với nhau và tác động đến nhau. Chính nhờ thế mà con người mới tập hợp với nhau thành cộng đồng xã hội, có tổ chức và hoạt động của xã hội, những tư tưởng và trí tuệ của người này, thế hệ này mới truyền tới người khác, thế hệ khác được. Các nhà nghiên cứu cho tới nay đã xây dựng rất nhiều định nghĩa về sự giao tiếp. Mỗi tác giả, tùy theo phạm trù nghiên cứu của mình (y học, tâm lí, Đỗ Thị Thu Trang K30A – GDTH 14 Khoá luận tốt nghiệp xã hội học, tổ chức, kinh doanh…) đã định nghĩa sự giao tiếp và làm nổi bật khía cạnh nào đó của vấn đề. 1. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện từ góc độ tâm lí liệu pháp (1991) định nghĩa: "Sự giao tiếp là sự trao đổi giữa người với người thông qua nói, viết, cử chỉ, bộ điệu. Ngày nay, từ này hàm ngụ sự trao đổi ấy thông qua một bộ mã (Code). Người phát tin mã hóa một số tín hiệu, người tiếp nhận giải mã, một bên truyền một ý nghĩa nhất định, để bên kia hiểu được". 2. Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc (1991) định nghĩa: "Sự giao tiếp là sự tiếp xúc với nhau giữa cá thể này với cá thể khác trong một cộng đồng xã hội. Cộng đồng không có giao tiếp chỉ là một quần thể không có tính chất xã hội. Loài động vật cũng có thể làm thành những xã hội vì chúng sống, có giao tiếp với nhau, như xã hội loài ong, xã hội loài kiến…". 3. Laswell (dẫn theo Gruêre) đã xác định: "Giao tiếp nói theo nghĩa hẹp là truyền đi một thông điệp, nhưng tới nay được hiểu là sự làm cho hai con người cùng chấp nhận một cái gì là chung nhờ một quá trình hai chiều". 4. Nhà nghiên cứu về sự giao tiếp ở trẻ em Perdonici (1963) đã định nghĩa sự giao tiếp gắn liền với khái niệm "thông tin". Ông viết: "Giao tiếp là xác lập mối quan hệ thông tin và tương hỗ giữa hai cá nhân hoặc giữa một cá nhân với một nhóm người. Ở đây cần tránh một sự hiểu lập lờ do sự định nghĩa đơn giản từ "thông tin", không sử dụng từ này với ý nghĩa thông dụng trong báo chí, tức là thông báo về một biến cố xảy ra ở đâu đó. Thông tin là sự biểu hiện cảm nhận được của một chức năng cao cấp nhất của con người, là sự biểu hiện ý tưởng". Đối với các nhà tâm lí học ứng dụng, sự giao tiếp được xem là một tập hợp các quá trình nhằm truyền đạt và tri giác các thái độ, các niềm tin và các ý định, dựa vào bộ máy sinh học - tâm lí chung của loài người, làm sao để cho các bên đối thoại hiểu được nhau và đạt được các mục tiêu giao tiếp. Đỗ Thị Thu Trang K30A – GDTH 15 Khoá luận tốt nghiệp Đối với các nhà tâm lí học nhân cách, giao tiếp là quá trình tác động qua lại giữa người và người, thông qua đó sự tiếp xúc tâm lí được thực hiện và các quan hệ liên nhân cách được cụ thể hóa. [9,tr59] Hybels và Weaver (1992) thì định nghĩa: "Giao tiếp là bất cứ quá trình nào trong đó người ta chia sẻ thông tin, ý niệm và tình cảm; nó viện đến không chỉ ngôn từ ở dạng khẩu ngữ và bút ngữ mà cả ngôn ngữ thân thể, phong cách và kiểu cách cá nhân, ngoại cảnh và mọi thứ bổ sung ý nghĩa cho thông điệp". [13,tr2] Như vậy, có thể thấy các định nghĩa nêu trên đều đã: - Nêu bật được các đặc tính của giao tiếp. - Nêu ra được các phương tiện hiện thực hóa giao tiếp. - Nêu rõ được các cấp độ của giao tiếp. Trong giao tiếp, con người không chỉ nhận thức được người khác, nhận thức được các quan hệ xã hội, mà còn nhận thức được chính bản thân mình, tự đối chiếu, so sánh mình với người khác, với chuẩn mực xã hội, tự đánh giá bản thân mình như là một nhân cách, để hình thành năng lực tự ý thức. Tóm lại, giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người và người, thông qua đó, con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói khác đi, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác. 1.2.2. Các trở ngại trong giao tiếp Các nhà nghiên cứu cho tới nay đã nêu ra một số trở ngại trong giao tiếp. Trước hết, cần hiểu các trở ngại trong giao tiếp có thể là: Sự quá chênh lệch giữa người phát và người thu, bản thông điệp được xây dựng có nhiều Đỗ Thị Thu Trang K30A – GDTH 16 Khoá luận tốt nghiệp nhược điểm, nhiều yếu tố sinh lí, tâm lí làm cho đối thoại không sẵn sàng giao tiếp, các trở ngại do các yếu tố gây nhiễu của môi trường, trạng thái "tâm bất bại" của học sinh. Cụ thể: + Sự quá chênh lệch giữa người phát và người thu (tuổi tác, cương vị, thu nhập, môi trường xã hội - văn hóa) có thể là những yếu tố gây hiểu lầm hoặc không hiểu nhau. + Khả năng xây dựng và trình bày bản thông điệp (diễn đạt) của người phát thông tin được phân tích thành các yếu tố sau: - Khả năng nói rõ ràng. - Khả năng diễn cảm, biểu hiện được thái độ. - Khả năng quy chiếu, đáp ứng trúng các đặc điểm tâm lí của người nghe, các nhu cầu của họ. - Khả năng siêu ngữ làm cho một vài khía cạnh của vấn đề được thật sáng tỏ, nói ít hiểu nhiều. - Khả năng duy trì được sự tiếp xúc, sự chú ý của đối tượng. - Khả năng sáng tạo, thuật dùng các từ và tổ hợp từ, làm cho bản thông điệp đem lại sự thú vị, mang tính văn học nghệ thuật của bài nói. + Các trạng thái tâm lí hiện hữu của từng người đối thoại. Về mặt sinh lí, sự suy yếu các khả năng cảm nhận thị giác, thính giác, các tật chứng có liên quan đến cơ quan phát âm (nói ngang, nói lắp…) là những trở ngại cho sự trao đổi. Sự mệt mỏi do lao động chân tay căng thẳng có ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu thông tin. Về mặt tâm lí, những yếu tố gây trở ngại trong giao tiếp là: - Những chấn thương tình cảm. - Những sự khác nhau về chính kiến, những xung đột. Đỗ Thị Thu Trang K30A – GDTH 17 Khoá luận tốt nghiệp - Những sự tưởng tượng, sự đánh giá về người khác, những định kiến, sự có thiện cảm hay ác cảm, chịu ảnh hưởng của khuynh hướng cá nhân của người người đối thoại. Các trở ngại do môi trường (tự nhiên và xã hội) có những yếu tố gây nhiễu như: - Các kích thích thị giác gây phân tán tư tưởng. - Nhiệt đọ không khí quá cao, từ 26 đến 330C làm giảm từ 28 đến 50% khả năng tri giác thông tin. - Tiếng ồn từ 70 đến 100 décibels làm cho số lượng các thông tin tiếp thu sai lệch lên tới 40%. - Đối tượng muốn nói rõ sự thật nhưng cảm thấy không an toàn vì sự có mặt của một người thứ ba… [9,tr59] 1.2.3. Đặc điểm giao tiếp của học sinh Tiểu học Cuộc sống tâm lí của con người bắt đầu từ nhu cầu giao tiếp với con người, trước tiên là với những người xung quanh. Giao lưu sơ đẳng đã xuất hiện từ lúc trẻ lên ba tuần tuổi. Từ khi biết nói thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ trở nên cực kì quan trọng trong đời sống tinh thần của trẻ. Việc đi học ở trường phổ thông là bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ. Những mối quan hệ với người lớn (giáo viên), với các bạn cùng tuổi được hình thành, trẻ được đưa vào hệ thống các tập thể (tập thể học sinh toàn trường, tập thể lớp, đội thiếu niên). Việc tham gia vào các hoạt động chủ đạo mới - hoạt động học tập đề ra hàng loạt yêu cầu buộc trẻ phải làm cho cuộc sống của mình phục tùng tổ chức, quy tắc và chế độ sinh hoạt chặt chẽ. Tất cả những điều đó ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành và củng cố các mối quan hệ với hiện thực xung quanh, với tập thể, với người lớn và quan hệ bầu bạn. Đỗ Thị Thu Trang K30A – GDTH 18 Khoá luận tốt nghiệp Ở lứa tuổi Tiểu học, bằng hoạt động và giao tiếp với thầy cô giáo, với người lớn xung quanh, với bầu bạn cùng tuổi mà học sinh tiếp thu, lĩnh hội các chuẩn mực và quy tắc đạo đức xã hội, tạo nên ý thức đạo đức, ý thức tập thể, tình cảm đạo đức, hành vi và các thói quen đạo đức. "Lứa tuổi học sinh Tiểu học là lứa tuổi có nhiều khả năng để giáo dục những quan hệ được xây dựng trên nguyên tắc của chủ nghĩa tập thể. Vai trò gương mẫu, hướng dẫn và chỉ đạo hành vi của người lớn cho lứa tuổi này có vị trí đặc biệt quan trọng. Ở lứa tuổi này, những sai lệch, thói hư tật xấu và cả hành vi phạm pháp ở một số trẻ cũng đều bắt nguồn từ quan hệ giao tiếp với nhóm tiêu cực, không lành mạnh". [16,tr93] Thông qua giao tiếp trẻ dần dần hình thành ý thức tự khẳng định mình, ý thức về "cái tôi" tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ về hứng thú, tình cảm, tính cách - những chuyển biến quan trọng trong sự hình thành phát triển nhân cách chuẩn bị cho trẻ bước vào giai đoạn bước ngoặt quan trọng trong cuộc sống của chúng - lứa tuổi thiếu niên. Phạm vi giao tiếp của học sinh Tiểu học chưa rộng, chủ yếu trẻ quan hệ giao tiếp hàng ngày với những người thân trong gia đình, với thầy cô giáo, bạn cùng lớp, cùng làng, cùng phố. Nội dung giao tiếp của trẻ ở lứa tuổi này tập trung xung quanh các vấn đề học tập và cuộc sống vui chơi, hoạt động tập thể trong nhà trường hoặc ở địa phương. 1.2.4. Một số nét về nhân cách học sinh Tiểu học Học sinh Tiểu học là một thực thể hồn nhiên, đang tiềm ẩn những khả năng tốt đẹp cho sự phát triển mà ở trong nó hiện tồn tại một nhân cách đang hình thành giữa những tác động muôn vẻ của giáo dục - đào tạo, của thực tại khách quan không ngừng đổi mới và sôi động. Đối với các em, tất thảy những gì của cuộc sống đều rất mới mẻ. Trẻ phải tham gia vào các mối quan hệ xã Đỗ Thị Thu Trang K30A – GDTH 19 Khoá luận tốt nghiệp hội để chiếm lĩnh đối tượng vô cùng mới mẻ đó, nhằm chuyển tải những nội dung ấy vào bên trong, biến thành những phẩm chất nhân cách của mình. Trẻ sống bằng hiện tại của các hoạt động, các quan hệ để hướng về tương lai - ngày mai. Cách nghĩ của trẻ nhi đồng không hướng về quá khứ nên các em sống, hoạt động và quan hệ một cách vô tư và hồn nhiên. Trẻ em khi tiếp nhận nội dung mới của đối tượng cũng sẽ vô tư, hồn nhiên như chính bản chất của nó. Trong thực tiễn, trẻ em tuổi nhi đồng luôn bộc lộ những nhận thức, tư tưởng, tình cảm, ý nghĩ của mình một cách vô tư, hồn nhiên, thật thà và ngay thẳng. Trẻ rất dễ xúc động và thích sống bằng tình cảm. Đời sống tình cảm của học sinh tuổi nhi đồng mang tính cụ thể, trực quan và giàu cảm xúc. Tình cảm của các em dễ nảy sinh, thiếu tính ổn định - bền vững. Tình cảm trí tuệ của trẻ đang phát triển. K.Đ.Usinxki, nhà tâm lí học Liên Xô cũ đã cho rằng các em tuổi nhi đồng đã biết suy nghĩ bằng hình ảnh, màu sắc, âm thanh của đối tượng và bằng cảm xúc mạnh của chính mình. Trẻ thích tìm hiểu thông tin li kì, mạo hiểm trong những chuyện viễn tưởng và nhạy cảm với thành tích và sự tiến bộ của mình cũng như bạn bè. Tình cảm thẩm mĩ của trẻ đang được phát triển mạnh. Trẻ em thích cái đẹp của đối tượng. Các em rất yêu cây - con trong tự nhiên, thích âm nhạc - hội họa, múa hát. Tình cảm đạo đức của các em đang phát triển và được thể hiện rõ trong nội dung của quan hệ ứng xử với mọi người. "Nhân cách của trẻ em là sản phẩm đích thực của một quá trình phát triển trong những điều kiện nhất định của nền kinh tế - văn hóa - xã hội bằng hoạt động và giao tiếp. Thông qua hai quá trình nhập tâm và xuất tâm của cơ chế di sản mà nội dung của thế giới đối tượng trong nền kinh tế - văn hóa xã hội đó đã được chuyển vào bên trong đời sống tinh thần của trẻ. Trên cơ sở đó, chúng sẽ được cấu tạo lại thành những phẩm chất nhân cách của các Đỗ Thị Thu Trang K30A – GDTH 20
- Xem thêm -