Tìm hiểu một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy toán có lời văn ở lớp 3

  • Số trang: 15 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 18 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ trang 2 PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ trang 4 1. Cơ sở lý luận trang 4 2. Thực trạng của vấn đề trang 4 3. Các biện pháp để tiến hành giải quyết trang 6 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm trang 11 PHẦN III. KẾT LUẬN. trang 12 1 PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ Bậc tiểu học có một vị trí và nhiệm vụ hết sức quan trọng và đã chỉ ra định hướng chiến lược phát triển giáo dục là: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, giáo dục đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân. Giáo dục trong giai đoạn mới là một nền giáo dục đa dạng, lành mạnh và phát triển bền vững. Đây là bậc học đặt nền móng cho việc hình thành nhân cách ở học sinh, cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về tự nhiên - xã hội, trang bị các phương pháp, kĩ năng ban đầu về hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Bồi dưỡng tình cảm vµ phát huy tình cảm thói quen và đức tính tốt của con người Việt Nam. Các môn học ở tiÓu học đều có mối quan hệ với nhau, hỗ trợ cho nhau. Trong 9 môn học cùng với Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng. Môn Toán giúp học sinh tiểu học phát triển tư duy lôgíc bồi dưỡng và phát triển những thao tác trí tuệ cần thiết để nhận thức thế giới hiện thực như trìu tượng hoá khái quát hoá, so sánh... Nó rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề... Giúp học sính phát triển trí thông minh, tư duy học tập linh hoạt, sáng tạo đặc biệt giải toán có lời văn có một vị trí rất quan trọng trong trương trình toán ở phổ thông. Vì vậy cần rèn cho các em phương pháp học tập đúng đắn phù hợp và nhất là kĩ năng, phương pháp giải các bài toán có lời văn. Trước tình hình đổi mới của đất nước, thực tế ở các trường tiểu học việc bồi dưỡng và tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề còn hạn chế. Nhất là việc nắm bắt những phương pháp giảng dạy từng bộ môn. Một số giáo viên thật sự chưa thiện tâm với nghề nghiệp, kinh nghiệm giảng dạy còn ít, tiếp thu cái mới trong việc cải tiến phương pháp dạy học còn hạn chế. Trong giảng dạy bộ môn Toán, việc dẫn dắt học sinh nắm bắt thực chất của bài toán có lời văn còn quá vụng về chưa biết cách gợi mở dẫn dắt học sinh xác định các dữ kiện để biết hoặc cái cần phải tìm của bài toán. 2 Về phía học sinh chỉ có phần ít là học sinh tù tư duy tìm ra cách giải còn lại đa phần dựa vào sự hướng dẫn của thầy hoặc chẳng hiểu gì cứ tự ý mình đúng sai không quan tâm, chưa thực sự phát huy được sự tích cực, chủ động, sáng tạo của mình. Về phía cha mẹ học sinh đại đa phần giao phó việc học tập của con em mình cho nhà trường cho thầy cô dạy chính con em mình. Chưa cộng đồng trách nhiệm cùng nhà trường để dạy bảo các em học tập. Từ những lý do và nhận thức trên nên tôi thấy vấn đề cần thiết cấp bách giải quyết ngay để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong quá trình dạy và học là vấn đề bồi dưỡng để nâng cao việc hướng dẫn học sinh giải toán nói chung nhất là hướng dẫn học sinh giải các bài toán có lời văn nói riêng. Trong vấn đề nghiên cứu khoa học giáo dục mà cấp trên và nhà trường đề ra, với tư cách và trách nhiệm của mình suy nghĩ về thực trạng chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh của tình hình nhà trường nói chung và của lớp nói riêng. Hơn nữa đang trước tình hình đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Nên tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy toán có lời văn ở lớp 3” PHÇN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận của vấn đề: 3 - Dạy môn toán cho học sinh tiểu học là góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. - Dạy cho học sinh giỏi môn toán ngay từ tiểu học góp phần đào tạo được thế hệ trẻ, những nhà khoa học trong tương lai. - Dạy cho học sinh biết giải toán có lời văn tức là góp phần vào việc nâng cao chất lượng môn Toán. 2. Thực trạng của vấn đề. a. Đặc điểm tình hình: Trường tiểu học Gia Cẩm là một trường nằm ở trung tâm thành phố Việt Trì. Phía trước cổng trường nhìn ra con đường quốc lộ số 2, thuận tiện cho việc qua lại. Tổng số cán bộ công nhân viên: 52 đồng chí là giáo viên, trong đó có 46 đồng chí là giáo viên nữ, 3 đồng chí làm công tác quản lý, 37 Đảng viên và 10 đoàn viên. Tổng số học sinh : 1390 em chia thành 32 lớp. Riêng khối 3: 263 em chia thành 6 lớp. b. Thuận lợi: - Địa bàn của trường gần trung tâm thành phố, vì vậy việc tiếp cận thông tin nhanh, kịp thời. - Trường có đội ngũ quản lý nhiệt tình năng động, sáng tạo. - Đội ngũ giáo viên dày dặn kinh nghiệm, luôn đoàn kết yêu nghề, mến trẻ. - Hội cha mẹ học sinh luôn chăm lo, ủng hộ đến sự nghiệp giáo dục của nhà trường. - Các em học sinh chăm ngoan, say mê học tập. c. Khó khăn: - Phụ huynh đa dạng, nhiều thành phần nên nhận thức còn hạn chế. - Học sinh đa phần là thích học toán, không thích học văn, vì vậy, hiểu câu văn trong toán còn nhiều hạn chế. - Môn toán là môn học xưa nay vẫn được coi trọng, xong chất lượng môn toán vẫn đang phải quan tâm. Qua khảo sát của nhà trường nhiều lần cho thấy khi các em 4 gặp phải bài toán có lời văn thường lúng túng, các em vẫn giải được xong câu trả lời đặt ra còn rườm rà, hoặc bài giải chưa chính xác. - Đầu năm häc 2013 - 2014 tôi được giao chủ nhiệm và giảng dạy môn toán, tổng số là 40 em. Sau khi tìm hiểu tình hình lớp và tôi khảo sát cho thấy kết quả: Tổng số Số bài học sinh toán có tham dự lời văn Kết quả Điểm Điểm Điểm 9 - 10 TS % 7-8 TS % 20 17 50 42,5 5-6 TS % 3 7,5 Điểm Ghi 0-4 TS % chú 0 0 40 40 - Nhìn vào kết qña khảo sát, tôi không khỏi băn khoăn học sinh chỉ đạt điểm tối đa với các bài toán đơn thuần rèn kỹ năng tính toán. Còn những bài toán có lời văn, đặc biệt là những bài toán không tường minh học sinh không giải được hoặc có giải được thì không đúng hoặc chỉ là giải mò ra đáp số thiếu lập luận, câu tr¶ lời. - Vấn đề đặt ra là học sinh gặp phải những khó khăn gì trong giải toán? Làm thế nào để học sinh giải toán tốt? Vậy thì nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng đó. - 100% các đồng chí giáo viên đã được chuẩn hoá, xong do đào tạo từ nhiều nguồn nên khi dạy toán, họ còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng, chưa nhìn ra phương pháp để hướng dẫn học sinh. - Do giáo viên chưa đầu tư vào nghiên cứu vì sao chất lượng lại thấp ở những bài toán có lời văn, hầu hết giáo viên chỉ chú trọng đến kĩ năng tính toán chưa chú trọng đến giải nghĩa câu văn trong toán. - Thích học toán nhiều em lười học văn do vậy từ ngữ trong toán các em chưa chịu khó tìm tòi để phân tích mà chỉ chú trọng đến tính toán do vậy hay bị nhầm lẫn. - Nhìn lại những thực trạng trên, bản thân tôi cũng mạnh dạn đê ra những biện pháp “Nâng cao hiệu quả dạy toán có lời văn cho học sinh lớp 3” để học sinh có sự tư duy, sáng tạo, linh hoạt trong việc giải quyết vấn đề "Giải quyết vấn đề ở đây là: Tìm ra hướng giải toán, tìm ra câu trả lời đúng trong mỗi bài toán" . 3. Các biện pháp để tiền hành giải quyết vấn đề 5 - Trước hết ta phải hiểu lớp 3 là lớp kết thúc giai đoạn đầu của bậc tiểu học phải chuẩn bị cơ sở để học sinh có thể học tốt giai đoạn học giải các bài toán đơn, kể cả nhân, chia và chuyển sang giai đoạn giải các bài toán hợp thường xuyên hơn tuy chủ yếu là các bài toán hợp có 2 phép tính cộng, trừ, nhân, chia nhưng cũng có một số bài toán hợp có 3 phép tính. - Từ nhận thức trên, nên ngay từ đầu năm nhà trường đã lập kế hoạch đưa nội dung này thành chuyên đề sinh hoạt chuyên môn vào thứ 6 trong tuần để bồi dìng năng lực cho đội ngũ giáo viên: a. Trước hết cho anh em giáo viên nâng cao nhận thức về bộ môn toán trường tiểu học - trong đó có bộ môn toán lớp 3. Một bộ môn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh tiểu học. b. Lập kế hoạch cho anh em giáo viên nắm chắc tài liệu “Những yêu cầu cơ bản về kiến thức kỹ năng môn toán lớp 3 " . c. Tổ chức chuyên đề "Soạn giáo án" dạy giải toán có lời văn của học sinh lớp. Sau đó tổ chức hội thảo từng giáo viên trình bày tiến trình dạy học sinh giải toán có lời văn. Từ đó tổ đóng góp ý kiến, rút kinh nghiệm giờ dạy. d. Tổ chức thao giảng "Trước hết chọn giáo viên có năng lực dạy thực tập, toàn thể hội đồng dự giờ, rút kinh nghiệm giờ dạy phân tích điểm mạnh điểm yếu. Với những biện pháp trên đi đến một thống nhất thì dạy toán có lời văn lớp 3 như sau: Đến lớp 3 học sinh tiếp tục được rèn luyện và củng cố các bài toán đơn có phép tính cộng, trừ, nhân chia sau đó được học các bài toán hợp. Bài toán đơn: Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần phân tích khái quát và hệ thống hóa các bài toán đơn có phép tính cộng, trừ và các bài toán có nhân, chia. Giáo viên cần phân tích kỹ đề toán để học sinh so sánh, phân biệt được các bài toán đơn thuộc các dạng nào như: Gấp nhiều lần "(dùng phép nhân) với nhiều hơn số đơn vị" hoặc tăng thêm một số đơn vị (dùng phép cộng). 6 "Giảm một số lần" (dùng phép chia) với ít hơn một số đơn vị" hoặc bớt đi một số đơn vị "(dùng phép trừ). - So sánh 2 số “gấp”, “kém” bao nhiêu lần (dùng phép chia) với hơn, kém bao nhiêu đơn vị" (dùng phép trừ) Ví dụ: Bao gạo thứ nhất đựng 8 kg gạo. Bao thứ hai đựng gấp 2 lần bao thứ nhất. Hỏi bao thứ hai đựng được mấy kg gạo? Hướng dẫn học sinh: Tóm tắt: 8kg Bao thứ nhất: Bao thứ 2: ? kg * Gợi ý (phân tích): ? Bài toán cho biết gì ? + Cho biết bao thứ nhất đựng 8kg gạo. + Bao thứ 2 đựng gấp 2 lần bao thứ 1 . ? Bài toán hỏi gì ? + Bao thứ 2 đựng được mấy kg gạo ? Muốn biết báo thứ 2 đựng được mấy kg gạo ta làm thế nào ? + Vì sao bao thứ hai đựng gấp 2 lần bao thứ nhất, nên lấy số gạo của bao thứ nhất là: 8kg x 2. + Như vậy bao thứ 2 đựng được mấy kg gạo? “16kg gạo” ? Làm thế nào tính ra 16 kg gạo ? “lấy 8 x 2 vì có 2 lần 8kg gạo" . - Muốn gấp một số lên 2 lần hay gấp đôi số đó ta làm thế nào? "Gấp đôi hay gấp một số lần là lấy số đó nhân với 2” * Trình bày lời giải: Sau khi phân tích gợi ý để học sinh nhận xét về dạng toán nào và sau đó trình bày lời giải. - Đối với bài toán này ta cần làm mấy phép tính. Học sinh trả lời : Ta cần làm 1 phép tính. - Em hãy nêu lời giải của bài toán? (Sổ kg gạo của bao thứ 2 là:) - Vậy bài toán này thuộc dạng toán nào: Bài toán này thuộc dạng toán đơn: Gấp một số lên nhiều lần. 7 Bài giải: Số kilôgam gạo của bao thứ 2 là: 8 x 2 = 16 (kg) Đáp số : 16 kg Bài toán hợp: Học sinh lớp 3 được học đầy đủ bốn phép tính cộng, trừ, nhân chia. Do đó có thể phân các bài toán hợp giải bằng 2 phép tính thành 4 dạng cơ bản, ở mỗi một dạng đều có đặc thù riêng, nhưng đều đi đến học sinh phải giải bằng 2 phép tính cụ thể như sau: a, Toán hợp giải bằng 2 phép tính nhân và cộng. Ví dụ: Thùng nhỏ đựng được 6 lít dầu thùng to đựng được gấp 3 lần thùng nhỏ. Hỏi cả 2 thùng đựng được bao nhiêu lít dầu. “Bài 6 trang 54 - Toán 3” b, Toán hợp giải bằng 2 phép tính chia và cộng. Ví dụ: Trên sân bay có 18 máy bay phản lực, số máy bay lên thẳng kém số máy bay phản lực 6 lần. Hỏi trên sân có tất cả bao nhiêu máy bay phản lực và lên thẳng. c, Toán hợp giải bằng 2 phép tính chia và nhân có liên quan đến rút về đơn vị: Ví dụ: Có 64 cái bát xếp đều thành 8 chồng. Hỏi 5 chồng có bao nhiêu cái bát? "Bài 2 trang 73 - Toán 3” Cho học sinh đọc đề: - Tự tóm tắt bài toán “giáo viên có hướng dẫn" 8 chồng bát: 64 cái 5 chồng bát: .... cái? Phân tích Học sinh trả lời ? Bài toán cho biết gì? 64 cái bát xếp đều thành 8 chồng ? Bài toán hỏi gì? 5 chồng bát có bao nhiêu cái bát ? Muốn biết 5 chồng bát có bao nhiêu 1 chồng bát có bao nhiêu cái bát cái bát? Cần phải biết gì? 8 ? Căn cứ vào điều đã biết là 64 cái Lấy 64 cái bát chia cho 8 được 8 cái bát xếp đều thành 8 chồng làm thế nào bát : để tính 1 chồng có bao nhiêu cái ? 64 : 8 = 8 (cái bát) ? Bây giờ làm thế nào để tính xem 5 chồng bát có bao nhiêu cái bát ? Lấy 8 nhân 5 được 40 cái bát: + Qua phân tích như vậy, bài toán có 1 8 x 5 = 40 (cái bát). bước giải phụ là: Bài giải: 1 chồng bát => ? Cái bát Số bát xếp thành 1 chồng có: 5 chồng bát => ? Cái bát 64 : 8 = 8 (cái bát) Số bát xếp thành 5 chồng có: 8 x 5 = 40 (cái bát) Đáp số: 40 cái bát d. Toán hợp giải bằng 2 phép tính chia có liên quan đến rút về đơn vị: - Đối với loại toán này, khi giáo viện dạy cần chú ý phân tích quá trình tóm tát bài toán và ghi nhớ được các bước phụ của bài toán: Ví dụ: Có 60 mét vải cắt thành 6 mảnh dài bằng nhau. Hỏi có 40 mét và cũng cắt như thế thì được mấy mảnh “Bài 4- Trang 77 - Toán 3” Hướng dẫn học sinh: * Đọc đề tóm tắt bài toán : 60m => 6 mảnh 40 m => ? mảnh Phân tích Học sinh trả lời ? Bài toán cho biết gì ? 60 mét vải cát thành 6 mảnh đều nhau. ? Bài toán hỏi gì ? 40 mét vải như thế cắt thành mấy mảnh ? ? Muốn biết 40m vải cắt được mấy 1 mảnh dài bao nhiêu mét vải? mảnh ta cần phải biết gì? ? Căn cứ vào điều đã biết 60m vải cắt Lấy 60 chia cho 6 được 10 mét thành 6 mảnh dài bằng nhau, làm thế 9 nào tính xem 1 mảnh dài bao nhiêu mét vải ? ? Bây giờ làm thế nào để tính xem 40 Lấy 60 chia cho 6 được 10 mét mét cắt thành mấy mảnh ? + Như vậy bài toán có 1 bước gi¶i phụ: 10m : 1 mảnh 40m : ? mảnh Hiểu qua bước giải phụ dẫn đến bài toán giải gồm 2 bước : + Trước hết tính xem 1 mảnh dài mấy mét (tính chia) + Sau đó tính xem 40m cắt được mấy mảnh (tính chia) Cuối cùng học sinh trình bày bài giải: Số mét một mảnh vải có: 60 : 6 = 10 (m) Số mảnh vải khi cắt 40 mét có: 40 : 10 = 4 (mảnh) Đáp số : 4 mảnh vải Để học sinh dễ dàng giải được các dạng toán hợp có liên quan đến việc rút về đơn vị, giáo viên cần chú ý tới 2 yêu cầu sau: - Cho học sinh làm thực hành thành thạo các bài toán đơn. - Hướng dẫn để học sinh biết tóm tắt bài toán theo cách biết đặt tương ứng giữa các đại lượng có trong bài toán. Ngoài ra chúng ta còn gặp một số dạng khác của bài toán có lời văn trong sách giáo khoa lớp 3 nêu ra một số bài toán có lời văn được cho dưới dạng thiếu, không đày đủ phải bổ xung cho đầy đủ sau đó giải bài toán đó. Trường hợp này, giáo viên phải dựa vào điều kiện cụ thể của yêu cầu đề bài và lồng vào tiết dạy toán có lời văn . 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm Qua kết quả chứng minh trên tôi thấy: "Tìm hiểu một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3” trong 10 bài dạy này đã góp phần hiệu quả giờ dạy Toán có lời văn đạt kết quả cao hơn. Sáng kiến kinh nghiệm này đã được áp dụng thành công vào lớp, vào trường tôi trong năm học trước và đạt kết quả rất khả quan. Nó trực tiếp liên quan đến kết quả chung của môn Toán như sau: Sau đây là số liệu khảo sát cụ thể Tổng số Số bài học sinh toán có tham dự lời văn 40 40 Điểm 9 - 10 TS % 37 92 Kết quả Điểm Điểm 7-8 TS % 2 5 11 5-6 TS % 1 3 Điểm Ghi 0-4 TS % chú 0 0 PHẦN III: KẾT LUẬN Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy và học là một vấn đề cần thiết nhằm đáp ứng đổi mới giáo dục tiểu học. Đổi mới phương pháp dạy học nhằm thực hiện tốt mục tiêu phương pháp dạy học đó là: hình thành, phát triển, phẩm chất và năng lực của công dân Việt Nam, tự chủ, năng động, sáng tạo, có kiến thức văn hóa, khoa học, công nghệ, có kỹ năng và thói quen tự học suốt đời." Để đạt được mục tiêu này, chúng ta cần phải đổi mới phương pháp dạy học trong đó việc tổ chức các hoạt động của học sinh giữ vai trò quan trọng. Một trong những hoạt động có hiệu quả đó là: "Học sinh làm tốt các bài toán có lời văn”. Với hoạt động này, học sinh làm tốt được thì chất lượng môn toán sẽ tăng lên rõ rệt. Vậy việc đôi mới phương pháp dạy học là công việc thường xuyên, công việc đặc trưng của mỗi giáo viên. Phương pháp là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả dạy học ở tiểu học. Vì vậy, mỗi giáo viên cần phải lựa chọn, sử dụng phương pháp thích hợp, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và điều kiện của học sinh lớp mình dạy. Bài học rút ra: Qua nội dung thực nghiệm trên tôi rút ra một số bài học sau: 1. Người giáo viên phải nhận thức được rằng phải đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ hàng đầu cửa mỗi giáo viên hay như nhiều người đã nói đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học là công việc thường xuyên, công việc đặc trưng của mỗi giáo viên". Có đổi mới phương pháp dạy học thì sẽ đạt được chất lượng và hiệu quả của mỗi bài học, mỗi tiết học. Đặc biệt là môn toán có lời văn ở lớp 3, mỗi giáo viên khi giảng dạy phải nhìn nhận và đánh giá đúng vấn đề mà học sinh hay mắc phải từ đó có những biện pháp thích hơn sẽ dần từng bước nâng cao được chất lượng hiệu quả của phần toán nói chung và bài toán có lời văn nói riêng. 2. Phải xây dựng được các bước tiến hành khi dạy học sinh giải bài toán có lời văn. Đây là bước vô cùng quan trọng vì giúp học sinh nắm chắc được giữ kiện bài toán đã cho yếu tố bài toán yêu cầu cần giải đáp. 12 3. Hướng dẫn học sinh thực hiện các biện pháp khi giải bài toán có lời văn. Giáo viên phải hướng dẫn học sinh thực hành theo các bước đã xây dựng. Bước 1 : Nghiên cứu kĩ đề bài. Bước 2: Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho. Bước 3 : Lập kế hoạch giải Bước 4: Thực hiện kế hoạch giải. 4. Tổ chức tiết học nhẹ nhàng, chất lượng và có hiệu quả bằng nhiều hình thức. Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động vui chơi trong giờ học, đảm bảo tính khách quan để giúp học sinh nắm chắc được nội dung bài cũng như phương pháp giải bài toán có lời văn thì cần tổ chức học sinh hoạt động theo nhóm, tổ chức trò chơi, phát huy khả năng tự học, tự làm của học sinh. 5. Phối hợp chặt chẽ giữa giáo viên, tổ chuyên môn, nhà trường và học sinh. Đây là việc làm hết sức cần thiết vì tổ chức và phối hợp chặt chẽ mối quan hệ đó sẽ làm cho chất lượng dạy và học ngày càng nâng cao. 6. Người giáo viên phải tự học hỏi, trau dồi kiên thức về chuyên môn, nghiệp vụ, luôn đổi mới phương pháp dạy học, có lòng yêu nghề, mến trẻ và hết lòng vì sự nghiệp giáo dục. Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã làm và thu được kết quả. Tuy nhiên, bản báo cáo này không tránh khỏi sai sót. Tôi rất mong được sự giúp đỡ và góp ý kiến . Gia Cẩm, ngày 11 tháng 4 năm 2014. Người viết Đào Thị Thanh Tâm 13 NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN – KINH NGHIỆM CẤP TRƯỜNG ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN – KINH NGHIỆM CẤP THÀNH PHỐ ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................... MỤC LỤC 14 PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG PHẦN II: NỘI DUNG I. Cơ sở lý luận II. Khái quát tình hình chung của trường, của lớp III. Thực trạng dạy giải toán có lời văn lớp 3. Trường Tiểu học Gia Cẩm IV. Nguyên nhân V. Những biện pháp nâng cao hiệu quả dạy toán có lời văn lớp 3 Trường Tiểu học. 15
- Xem thêm -