Tìm hiểu kiến thức phòng chống suy dinh dưỡng của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện phú hòa – 2008

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên I. ĐẶT VẤN ĐỀ Phú Hòa là huyện đồng bằng của tỉnh Phú Yên với diện tích 23km 2, cách trung tâm TP Tuy Hòa 8km và có 9 xã/thị trấn, trong đó có 01 xã miền núi (xã Hòa Hội) có 83 hộ đồng bào dân tộc Chăm Hrol với 290 nhân khẩu sinh sống. Dân số của toàn huyện là 105.206 người với 23.981 hộ gia đình, trong đó: số phụ nữ có con dưới 5 tuổi là 8.879 người (số liệu năm 2007). Phía Đông giáp với TP Tuy Hòa, phía Tây giáp huyện Sơn Hòa, Phía Bắc giáp huyện Tuy An, Phía Nam chạy dọc theo dòng sông Ba. Phú Hòa là huyện có nhiều trạm y tế đạt chuẩn quốc gia (5/9 trạm y tế), 100% thôn đều có bán bộ y tế. Phú Hòa là huyện đã phủ 100% sóng phát thanh và truyền hình, hệ thống loa truyền thanh đều có ở 100% xã, thị trấn. Trong nhiều năm qua công tác tuyên truyền phòng chống suy dinh dưỡng (PC SDD) đã được thực hiện với nhiều hình thức, qua nhiều kênh truyên truyền khác nhau góp phần làm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng đáng kể. Tỷ lệ SDD của huyện Phú Hòa năm 2007 là 19,79% thấp hơn nhiều so với tỷ lệ chung của tỉnh (22,5%). Để đánh giá đúng kiến thức về phòng chống SDDTE của các bà mẹ có con dưới năm tuổi, từ đó có tác động thích hợp, đó là lý do để chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này. Đề tài được nghiên cứu với mục đích: - Xác định tỷ lệ các bà mẹ có con dưới năm tuổi hiểu biết về PC SDDTE - Tìm hiểu nguồn thông tin liên quan đến kiến thức về PC SDD của các bà mẹ có con dưới năm tuổi của huyện Phú Hòa. Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 1 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tầm quan trọng của suy dinh dưỡng: Suy dinh dưỡng do thiếu protein- nǎng lượng (thường gọi là suy dinh dưỡng) là tình trạng thiếu dinh dưỡng quan trọng và phổ biến ở trẻ em nước ta. Biểu hiện của suy dinh dưỡng là trẻ chậm lớn và thường hay mắc bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy và viêm đường hô hấp, trẻ bị giảm khả nǎng học tập, nǎng suất lao động kém khi trưởng thành. Nǎm 2000 ở nước ta có 2,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, chủ yếu là suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa. Tuy vậy, các thể suy dinh dưỡng này cũng có ý nghĩa quan trọng vì đứa trẻ dễ mắc bệnh, tǎng nguy cơ tử vong và thường kèm theo thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng. Đáng chú ý là trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ và vừa ít được người mẹ, các thành viên khác trong gia đình chú ý tới vì trẻ vẫn bình thường. ở một cộng đồng (xóm, làng, xã) có nhiều trẻ suy dinh dưỡng, ta càng khó nhận biết được vì chúng đều "nhỏ bé" như nhau. Do đó, suy dinh dưỡng trẻ em cần được sự quan tâm của mọi người. 2. Phöông phaùp ñaùnh gíaù trẻ bị suy dinh dưỡng. Coù nhieàu phöông phaùp ñeå ñaùnh gía treû bò suy dinh döôõng, phöông phaùp phoå bieán nhaát laø theo doõi caân naëng theo tuoioûi. Theo dõi cân nặng hàng tháng là cách tốt nhất để nhận ra đứa trẻ bị suy dinh dưỡng hay không. Trẻ bị suy dinh dưỡng khi không tǎng cân, nhẹ cân hơn đứa trẻ bình thường cùng tuổi [2]. 3. Nguyeân nhaân trẻ bị suy dinh dưỡng. Thiếu ǎn, bữa ǎn thiếu số lượng, thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết để phát triển: Trẻ dưới 5 tuổi có nhu cầu dinh dưỡng cao để phát triển cơ thể. Để đáp ứng nhu cầu đó, cần cho trẻ ǎn uống đầy đủ theo lứa tuổi. Trẻ dưới 6 tháng tuổi cần được bú mẹ hoàn toàn. Sữa mẹ là thức ǎn lý tưởng của trẻ nhỏ. Từ tháng thứ 7 trẻ bắt đầu ǎn thêm ngoài sữa mẹ. Từ tháng tuổi này, thực hành nuôi dưỡng trẻ có ý nghĩa quan trọng đối với suy dinh dưỡng. Nhiều bà mẹ chỉ cho trẻ ǎn bột muối, thức ǎn sam (dặm) thiếu dầu mỡ, thức ǎn động vật, rau xanh, hoa quả. Đây là những tập quán nuôi dưỡng chưa hợp lý cần được khắc phục. Mặc khác, để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng, trẻ cần được ǎn nhiều bữa trong ngày vì trẻ nhỏ không thể ǎn một lần với khối lượng lớn như trẻ lớn hoặc người lớn. Điều này có liên quan đến vấn đề chǎm sóc trẻ. Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 2 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên Người mẹ bị suy dinh dưỡng: Người mẹ trước và trong khi mang thai ǎn uống không đầy đủ dẫn đến bị suy dinh dưỡng và có thể sinh con nhẹ cân, còi cọc. Đứa trẻ bị suy dinh dưỡng từ trong bào thai sẽ dễ bị suy dinh dưỡng sau này. Người mẹ bị suy dinh dưỡng, ǎn uống kém trong những tháng đầu sau đẻ dễ bị thiếu sữa hoặc mất sữa, do đó đứa con dễ bị suy dinh dưỡng. Các bệnh nhiễm khuẩn như viêm đường hô hấp, tiêu chảy, các bệnh ký sinh trùng: Đây là tình trạng hay gặp ở nước ta. Chế độ nuôi dưỡng không hợp lý khi trẻ bệnh là một nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng sau mắc bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi. Thiếu chǎm sóc hay đứa trẻ bị "bỏ rơi": Ngoài chǎm sóc về ǎn uống, đứa trẻ cần chǎm sóc về sức khoẻ (tiêm chủng, phòng chống nhiễm khuẩn), chǎm sóc về tâm lý, tình cảm và chǎm sóc về vệ sinh. Môi trường sống ở gia đình bị ô nhiễm, sử dụng nguồn nước không sạch để nấu ǎn, tắm giặt cho trẻ, sử lý nước thải, phân, rác không đảm bảo là những yếu tố dẫn đến suy dinh dưỡng.[2] 4. Löùa tuoåi treû coù nguy cô cao bị suy dinh dưỡng. Trẻ từ 6-24 tháng: thời kỳ có nhu cầu dinh dưỡng cao, thời kỳ thích ứng với môi trường, thời kỳ nhạy cảm với bệnh tật.[1],[2]. Trẻ không được bú sữa mẹ hoặc không đủ sữa. Trẻ đẻ nhẹ cân (<2500g), trẻ để sinh đôi, sinh ba. Trẻ ở gia đình đông con, điều kiện vệ sinh kém, gia đình không hoà thuận. Trẻ hiện đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn như: bệnh sởi, tiêu chảy hay viêm đường hô hấp ... 5. Phöông phaùp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại mỗi gia đình? Muốn phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, cần có sự hiểu biết, chủ động và thay đổi thực hành của mỗi gia đình. Do đó, chương trình phòng chống suy dinh dưỡng lấy gia đình là đối tượng thực hiện công tác chǎm sóc dinh dưỡng cho trẻ em. Mọi gia đình đều hưởng ứng và thực hiện 8 nội dung cụ thể sau đây: Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 3 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên 1. 2. Chǎm sóc ǎn uống của phụ nữ có thai để đạt mức tǎng cân 10-12 cân trong thời gian có thai. Khám thai ít nhất 3 lần, tiêm đủ 2 mũi phòng uốn ván [1],[2],[4],[5]. Cho trẻ bú sớm trong nửa giờ đầu sau khi sinh, bú hoàn toàn sữa mẹ trong 6 tháng đầu và tiếp tục cho bú đến 18-24 tháng.[1],[2] 3. Cho trẻ ǎn bổ sung (ǎn sam, dặm) khi trẻ đủ 6 tháng tuổi. Tô màu đĩa bột, tǎng thêm chất béo (dầu, mỡ, lạc, vừng). ǎn nhiều bữa. 4. Thực hiện phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng: Phụ nữ có thai uống viên sắt/ acid folic hàng ngày. Trẻ em 6-36 tháng uống vitamin A liều cao 2 lần một nǎm. Phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn (tiêu chảy, viêm đường hô hấp). Thực hiện tiêm phòng đầy đủ. Chǎm sóc và nuôi dưỡng hợp lý trẻ bị bệnh[1],[2],[4],[5].. 5. Phát triển ô dinh dưỡng trong hệ sinh thái VAC (vườn, ao, chuồng) để có thêm thực phẩm cải thiện bữa ǎn gia đình. Chú ý nuôi gà, vịt để trứng, trồng rau ngót, đu đủ, gấc. 6. Phấn đấu bữa ǎn nào cũng có đủ 4 món cân đối. Ngoài cơm (cung cấp nǎng lượng), cần có đủ 3 món nữa là: rau quả (cung cấp vitamin, chất khoáng và chất xơ); đậu phụ, vừng lạc, cá, thịt, trứng (cung cấp chất đạm, béo) và canh cung cấp nước và các chất dinh dưỡng bổ sung giúp ǎn ngon miệng. 7. Thực hiện vệ sinh môi trường, dùng nguồn nước sạch, tẩy giun theo định kỳ, rửa tay trước khi ǎn và sau khi đi đại tiểu tiện. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm, thức ǎn không là nguồn gây bệnh. 8. Thực hiện gia đình hạnh phúc, có nếp sống vǎn hoá, nǎng động, lành mạnh. Có biểu đồ tǎng trưởng để theo dõi sức khoẻ của trẻ. Không có trẻ suy dinh dưỡng, không sinh con thứ ba. Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 4 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là các bà mẹ có con dưới năm tuổi của huyện Phú Hòa. Tại thời điểm nghiên cứu. 2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu theo phương pháp mổ tả cắt ngang 2.1. Cỡ mẫu: Cỡ mẫu được tính theo công thức. p(1-p) n= y 2 C2 + n: là cỡ mẫu nhỏ nhất hợp lý + Ước đoán p = 0,5 + Ứng với độ tin cậy 95% có y = 1,96 + Chấp nhận C = 0,1 (sai số chọn 10%) Cỡ mẫu tính được là: 96 2.2. Phương pháp chọn mẫu : Chọn mẫu chỉ tiêu: Mỗi xã chọn 10 người để phỏng vấn, trong đó có 3 xã dân số đông chọn 12 người để phỏng vấn. 2.3. Phương pháp thu thập số số liệu: Dựa vào danh sách các bà mẹ có con dưới 5 tuổi, chọn số lẽ để phỏng vấn đến đủ số lượng. Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 5 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên - Sử dụng phiếu phỏng vấn để phỏng vấn - Cách thu thập số liệu như sau: Điều tra viên sử dụng “ Phiếu phỏng vấn “ để hỏi và ghi lại câu trả lời một cách trung thực va không giải thích gì thêm. + Đối với câu hỏi 1: Có thể không cần ghi họ tên ( nếu đối tượng không muốn trả lời). + Đối với câu hỏi 5: Nếu người được phỏng vấn trả lời đủ 3 ý đầu lợi ích của sữa mẹ đối với con và 3 ý đầu trong lợi ích của sũa mẹ đối với mẹ là ghi nhận người đó biết lợi ích của sữa mẹ. + Đối với câu hỏi 6: Nếu họ trả lời được 4 trong 6 ý thì ghi biết đầy đủ, nếu biết ít hơn 4 ý ghi nhân là biết không đầy đủ. 2.4. Xử lý số liệu: Sau khi thu thập đủ số liệu qua điều tra, dùng các phép toán thống kê thông thường để sử lý số liệu. Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 6 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên IV. KẾT QUẢ 1. Phân bố theo tuổi Tuổi Dân tộc Kinh Thiểu số 19-24 25-29 14 40 30-34 22 35-39 > 40 24 n 7 Tỷ lệ 107 0 100% 0 2. Phân bố theo số con Tuổi Số con 19-24 1 2 3 4 25-29 12 2 30-34 18 18 4 35-39 > 40 n Tỷ lệ 3 17 2 1 34 31,8% 12 3 52 48,8% 7 2 15 14% 5 1 6 5,6% tổng 14 40 22 24 7 107 100% Nhận xét : Số phụ nữ có 2 con chiếm 48,8% trong đó số mẹ có 2 con nằm ở lứa tuổi 25-39. 3. Bà mẹ biết trình trạng dinh dưỡng của con . Tuổi Biết con SDD Biết Không biết 19-24 11 3 25-29 35 4 30-34 20 2 35-39 20 4 > 40 n 6 1 Tỷ lệ 92 15 85,9% 14,1% Nhận xét : Số bà mẹ biết về tình trạng dinh dưỡng của con là 92/107 chiếm tỷ lệ 85,9%. Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 7 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên Biểu đồ 1: Mô tả kiến thức của bà mẹ về tình trạng dinh dưỡng của con 4. Tỷ lệ bà mẹ có khám thai trong lần mang thai gần nhất Tuổi 19-24 25-29 30-34 35-39 > 40 n Tỷ lệ Số lần KT 1 lần 1 1 1 1 0 4 3,7% 2 lần 0 5 2 3 1 11 10,3% 3 lần 3 17 15 10 4 49 45,8% Trên 3 10 17 4 10 2 43 40.2% lần Nhận xét : Số bà mẹ trong lần mang thai gần nhất khám thai từ 3 lần trở lên chiếm tỷ lệ khá cao 86%. Biểu đồ 2: Số lần khám thai của bà mẹ trong thai kỳ gần nhất Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 8 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên 5. Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Tuổi 19-24 Cho con bú Hoàn 2 toàn Kèm ăn 12 dặm 25-29 30-34 35-39 > 40 n Tỷ lệ 7 7 8 0 24 22,4% 33 15 16 7 83 77,6% Nhận xét : Tỷ lệ bà mẹ cho con ăn dặm trong 6 tháng đầu chiếm tỷ lệ cao 77,6%. Biểu đồ 3: Mô tả tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 9 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên 6. Thời gian cho trẻ bú Tuổi 19-24 25-29 30-34 35-39 > 40 n Tỷ lệ Thời gian Cho bú đến 6-12 tháng 13-18 tháng 19- 24 tháng > 24 tháng 1 10 3 0 4 22 14 0 3 6 13 0 0 7 17 0 0 4 3 0 8 7,5% 49 45,8% 50 46,7% 0 0 Nhận xét: Số bà mẹ cho con bú 19-24 tháng tuổi chỉ có 50/107 chiếm tỷ lệ 46,7%. 7. Số bà mẹ biết được những lợi ích khi cho con bú bằng sữa mẹ Tuổi 19-24 25-29 30-34 35-39 > 40 n Tỷ lệ HBCBM Biết Biết không ĐĐ H toàn KB 0 8 1 31 0 17 1 18 1 6 3 2,8% 80 74,8% 6 8 5 5 0 24 22,4% Nhận xét : số bà mẹ biết được lợi ích khi cho con bú bằng sữa mẹ chỉ có 2,8%; số biết không đầy đủ 74,8%; số hoàn toàn không biết 22,4%. Biểu đồ 4: Tỷ lệ bà mẹ biết được lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 10 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên 8. Biết được tác dụng của Vitamin A Tuổi 19-24 25-29 30-34 35-39 1 4 9 6 19 15 0 15 7 5 13 6 >40 N Tỷ lệ Tác dụng Vitamin A Biết Biết không đầy đủ Hoàn toàn KB 2 14 13,1% 5 56 52.3% 0 37 34,6% Nhận xét : Số bà mẹ biết lợi ích của Vitamin A chỉ có 13,1%; số biết không đầy đủ 52,3%; số hoàn toàn không biết 34,6%. 9. Số bà mẹ đưa trẻ đi uống vitamin A Tuổi 19-24 25-29 30-34 35-39 > 40 N Tỷ lệ Cho con uống Vitamin A Không đưa con đi uống Vitamin A 11 39 21 22 7 100 93,5% 3 1 1 2 0 7 6,5% Vitamin A Nhận xét : số bà mẹ đưa trẻ đi uống Vitamin A cao chiếm tỷ lệ 93,5%. Biểu đồ 5: Tỷ lệ bà mẹ hiểu được lợi ích khi cho trẻ uống Vitamin A Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 11 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên 10. Số lần ăn trong ngày của trẻ Tuổi Số lần ăn Trong ngày 3 làn 3-5 lần > 5 lần 19-24 25-29 8 6 0 30-34 20 20 0 35-39 13 9 0 >40 11 12 1 N 3 4 0 Tỷ lệ 55 51 1 51,4% 47,7% 0,9% Nhận xét : Số bà mẹ cho con từ 3-5 lần trong ngày chiếm tỷ lệ 47,7% 11. Kể được 4 nhóm thực phẩm cần cho con ăn uồng hằng ngày Tuổi 19-24 24-29 30-34 35-39 >40 N Tỷ lệ Nhóm thực phẩm Nhóm có Glucide Nhóm có Protide Nhóm có Lipide Nhóm có chứa Vitamin 10 30 16 20 4 80 74,8% 14 38 20 21 7 100 93,5% 3 19 10 8 1 41 38,3% 9 280 15 17 7 76 71% Nhận xét : Số bà mẹ kể được 4 nhóm thực phẩm cần cho trẻ khá cao : từ 71% trở lên Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 12 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên 12. Kiến thức của bà mẹ có được qua các nguồn thông tin Tuổi 19-24 25-29 30-34 35-39 > 40 N Tỷ lệ Nguồn thông tin Tivi Đài phát thanh Báo, tạp chí 7 2 14 7 12 1 8 3 4 0 45 13 42,1% 12,1% 2 6 2 18 16,8% Đài truyền thanh Tờ rơi, áp phích Cán bộ y tế Các bà mẹ trong xóm Họp đoàn thể Bạn bè, người thân Không biết 1 5 3 4 1 7 2 15 14% 0 0 0 2 0 2 1,9% 4 2 19 6 14 2 12 3 5 1 54 14 50,5% 13,1% 2 14 4 9 4 33 30,8% 5 9 5 0 1 20 18,7% 2 4 3 3 0 12 11,2% Nhận xét : Kiến thức của các bà mẹ về PCSDDTE có được qua Tivi 42,1%; qua cán bộ y tế 50,5% , còn các kênh khác không đáng kể. Biểu đồ 6: Mô tả kiến thức của các bà mẹ về PCSDDTE có được qua các kênh Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 13 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên V. NHẬN XÉT VÀ BÀN LUẬN Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 14 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên 1. Phân bố theo tuổi, dân tộc : Trong 107 bà mẹ được phỏng vấn 100% là người kinh, không có người nào là dân tộc thiểu số, điều này cũng phù hợp vì huyện Phú Hòa là huyện đồng bằng, trong 9 xã, thị trấn chỉ có 1 vài thôn có người dân tộc thiểu số sinh sống. Số bà mẹ đang có con dưới 5 tuổi nhiều nhất là lứa tuổi 25-29 ( có 40/107), tiếp theo là lứa tuổi 35-39 và 30-34, tuổi trên 40 chỉ có 7/107 người đang nuôi con dưới 5 tuổi. 2.Phân bố theo số con. Trong tổng số 107 bà mẹ được nghiên cứu: có 34 bà mẹ có 1 con chiếm tỷ lệ 31,8%; 52 người có 2 con chiếm tỷ lệ 48,8%; có 3 con có 15 người chiếm tỷ lệ 14% và 4 con có 6 người, chiếm tỷ lệ 5,6%. Như vậy trong tổng số 107 bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong nghiên cứu này có đến 21 người có từ 3 con trở lên (chiếm tỷ lệ 20%) điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình nuôi con, nhất là ở vùng nông thôn, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp như huyện Phú hòa. Điều này cũng phù hợp với một số nghiên cứu của một số tác giả cho rằng, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em tỷ lệ thuận với số con của người mẹ. 3. Hiểu biết của người mẹ về trình trạng dinh dưỡng của con. Trong 107 bà mẹ được hỏi câu “Chị có biết con chị có bị suy dinh dưỡng hay không bị suy dinh dưỡng”, trong đó có 92/107 bà mẹ biết được tình trạng dinh dưỡng của con mình, chiếm tỷ lệ 85,9%; 15/107 bà mẹ không biết tình trạng dinh dưỡng của con mình, chiếm tỷ lệ 14,1%. Tỷ lệ này cũng phù hợp với một số nghiên cứu khác. 4. Số lần khám thai trong lần mang thai gần nhất của mẹ. Trong số 107 bà mẹ được nghiên cứu có 4 người chỉ đi khám 1 lần chiếm tỷ lệ 3,7%; 11 người khám 2 lần tỷ lệ 10,3%; 49 người khám thai 3 lần chiếm tỷ lệ 45,8%; có 43 người chiếm tỷ lệ 40,2 % khám thai trên 3 lần. Như vậy có đến 86% các bà mẹ khám thai từ 3 lần trở lên. Đây là tỷ lệ khá cao, với tỷ lệ này chứng tỏ nhận thức của bà mẹ về tầm quan trọng của khám thai định kỳ là tương đối tốt, kết qủa này cũng phù hợp với sô liệu tổng kết của Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh (tỷ lệ khám thai từ 3 lần trở lên 85% ). 5. Cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Trong số 107 bà mẹ được nghiên cứu chỉ có 24 bà mẹ cho con bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu chiếm tỷ lệ 22,4%, 83 bà mẹ cho trẻ ăn dặm trước 6 tháng chiếm tỷ lệ 77,6%. Như vậy tỷ lệ bà mẹ cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu rất thấp, điều này cho thấy kiến thức của bà mẹ về nuôi con bằng Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 15 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên sữa mẹ và tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ còn rất thấp. Vì vậy trong công tác truyền thông cần chú trọng tuyên truyền cho các bà mẹ về nuôi con bằng sữa mẹ. Một số nguyên nhân bà mẹ cho trẻ ăn dặm sớm như: mẹ không đủ sữa nhưng không có nguồn sữa thay thế khác, phải đi làm sớm nên ít cho trẻ bú, thấy trẻ ăn được nên cho ăn. Qua kết quả này các nhà làm công tác tuyên truyền cần chú ý hướng dẫn cho các bà mẹ cách khắc phục để bà mẹ có thể cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu. 6. Thời gian bắt đầu cai sữa cho trẻ Trong số 107 bà mẹ được nghiên cứu thì chỉ có 8 bà mẹ cho trẻ bú từ 612 tháng chiếm tỷ lệ 7,5; 49 bà mẹ cho trẻ bú từ 13 – 18 tháng chiếm tỷ lệ 45,8%, 50 bà mẹ cho trẻ bú từ 19 – 24 tháng chiếm tỷ lệ 46,7%. Như vậy tỷ lệ bà mẹ bú đến 12 tháng chiếm tỷ lệ thấp và nằm trong nhóm bà mẹ trẻ tuổi (từ 19-34). Có thể nhóm bà mẹ trẻ này kiến thức vẫn còn hạn chế, chưa có kinh nghiệm nuôi trẻ hoặc có tâm lý sợ trẻ bú kéo dài ảnh hưởng đến sắc đẹp của người mẹ đây là điều mà những người làm công tác truyền thông cần phải lưu ý. 7. Biết được lợi ích khi cho trẻ bú sữa mẹ. Số bà mẹ biết đầy đủ lợi ích khi cho bú sữa mẹ chỉ có 3/107 bà mẹ được nghiên cứu chiếm tỷ lệ rất thấp 2,8%; Số bà mẹ biết không đầy đủ 80/107 chiếm tỷ lệ 74,8%; số bà mẹ hoàn toàn không biết 24/107 chiếm tỷ lệ 22,4%. Nếu tính chung cả số không biết và biết không đầy đủ là 97,2%, đây quả là một tỷ lệ rất cao. Như vậy có thể cho thấy trong hoạt động truyền thông chúng ta chưa chú trọng nhiều đến tuyên truyền về lợi ích của khi nuôi con bằng sữa mẹ. tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ thấp. Vì vậy trong công tác truyền thông những năm tới cần chú trọng nội dung tuyên truyền về lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ. 8. Biết được tác dụng của Vitamin A Biểu đồ 5 cho thấy trong số 107 bà mẹ được nghiên cứu chỉ có 14 bà mẹ biết được lợi ích của vitamin A chiếm tỷ lệ 13,1%; 56 bà mẹ biết không đầy đủ chiếm tỷ lệ 52,3%, 37 bà mẹ hoàn toàn không biết tác dụng của vitamin A chiếm tỷ lệ 34,6%. Với gần 87% bà mẹ không hiểu hoặc hiểu không đầy đủ tác dụng của Vitamin A, đây là tỷ lệ khá cao, bởi vì bà mẹ không hiểu được tác dụng khi cho trẻ uống Vitamin A thì họ sẽ không đưa trẻ đến cơ sở y tế để trẻ uống Vitamin A hoặc cho trẻ uống không đúng theo hướng dẫn của cán bộ y tế. Vì vậy trong công tác truyền thông cho các bà mẹ, nhất là các bà mẹ ở nông Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 16 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên thôn những người làm công tác truyền thông cần chú ý khi lựa chọn nội dung tuyên truyền. 9. Đưa trẻ đi uống vitamin A tại các điểm do trạm y tế tổ chức. Trong số 107 bà mẹ được nghiên cứu có 100 bà mẹ đưa trẻ uống vitamin A tại các điểm do trạm y tế tổ chức, chỉ có 7 bà mẹ không đưa trẻ đi uống vitamin A chiếm tỷ lệ rất thấp 6,5%. Điều đó cho thấy các bà mẹ rất quan tâm đến việc phòng bệnh cho trẻ. Điều này cho thấy các trạm y tế xã là điểm cung cấp vitamin A đáng tin cậy cho các bà mẹ. 10. Các thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày của trẻ Các bà mẹ liệt kê các nhóm thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày của trẻ: nhóm Glucide có 80/107 chiếm tỷ lệ 74,8%, nhóm Protide có 100/107 chiếm tỷ lệ 93,, nhóm Lipide 41/107 chiếm tỷ lệ 38,3%, nhóm vitamin 76/107 chiếm tỷ lệ 71%. Số bà mẹ kể được 3 nhóm thực phẩm Glucide, Protide, Vitamin chiếm tỷ khá cao từ 71% trở lên, riêng nhóm Lipide chỉ có 38,3%, tỷ lệ thấp hơn nhiều so với 3 nhóm kia có thể thấy việc bổ sung thêm dầu ăn trong bữa ăn hàng ngày của trẻ ít được các bà mẹ chú ý. 11. Biết được kiến thức phòng chống suy dinh dưỡng qua các nguồn thông tin. Qua biểu 6 cho thấy các bà mẹ biết được những kiến thức phòng chống suy dinh dưỡng qua cán bộ y tế, Tivi chiếm tỷ lệ cao (50.5% và 42,1%), tiếp đến các sinh hoạt đoàn thể tại địa phương (30,8%), các kênh đài phát thanh, báo, tạp chí, các bà mẹ trong xóm, bạn bè người thân.. chiếm tỷ lệ từ 10-20%, riêng tờ rơi, áp phích chiếm tỷ lệ tương đối thấp (1,9%). Trên thực tế TV là kênh thông tin hấp dẫn nên tỷ lệ người xem cao. Cũng như cán bộ y tế thường xuyên tiếp xúc và tuyên truyền hướng dẫn trực tiếp cho các bà mẹ nên kiến thức phòng chống suy dinh dưỡng của các bà mẹ qua 2 kênh này rất nhiều. Tỷ lệ bà mẹ biết được kiến thức phòng chống suy dinh dưỡng thông qua tờ rơi, áp phích thấp có thể số lượng tờ rơi, áp phích ít chưa phân phát đến tận hộ gia đình. Với kết quả này trong tuyên truyền phòng chống suy dinh dưỡng cần đẩy mạnh trên phương tiện thông tin đại chúng như Tivi…,qua cán bộ y tế và sinh hoạt đoàn thể ( truyền thông nhóm). Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 17 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên VI. KẾT LUẬN Kết quả nghiên cứu kiến thức về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em của 107 bà mẹ của huyện Phú Hòa cho thấy: - Số bà mẹ biết tình trạng dinh dưỡng của con khá cao : 85,9% - Số bà mẹ khám thai từ 3 lần trở lên chiếm tỷ lệ 86% - Tỷ lệ bà mẹ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu rất thấp chỉ 22,4%. - Tỷ lệ mẹ cho con bú trên 18 tháng thấp 46.7% - Tỷ lệ bà mẹ biết đầy đủ lợi ích của sữa mẹ rất thấp chỉ 2,8%, biết không đầy đủ và không biết lên đên 97,2%. - Số bà mẹ không biết và biết không đầy đủ lợi ích khi cho trẻ uống Vitamin 93/107, chiếm tỷ lệ 86,9%. - Phần lớn các bà mẹ nêu được 4 nhóm thực phẩm cần cho trẻ: trên 71%. - Các kênh truyền thông liên quan đến kiến thức của bà mẹ chủ yếu là: Qua cán bộ y tế 50,5%, sau đó là qua Tivi 42,1% ; sinh hoạt đoàn thể 30,8%; bạn bè, người thân 18,7%; còn các kênh khác không đáng kể. Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 18 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên VII. KIẾN NGHỊ: Với kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi có một số kiến nghị như sau: 1. Trong hoạt động truyền thông cần tập trung tuyên truyền về các chủ đề : lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ, lợi ích của việc cho trẻ uống Vitamin A. 2. Hướng dẫn cho các bà mẹ cách chế biến bữa ăn đủ dinh dưỡng và sử dụng thực phẩm có sẳn tại gia đình. 3. Hướng dẫn cho các bà mẹ sắp xếp thời gian hợp lý trong ngày để có thời gian cho trẻ bú, nhất là trong 6 tháng đầu. 4. Đa dạng hóa kênh truyền thông và loại hình truyền thông nhưng chú trọng các kênh truyền thông có hiệu quả cao như qua Tivi, truyền thông nhóm, phát huy hơn nữa hiệu quả truyền thông của đội ngũ cán bộ y tế. Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 19 Trung tâm Truyền thông GDSK Phú Yên VIII. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tài liệu Phòng chống suy dinh dưỡng của Bộ Y tế, năm 2005 2. Tài liệu phòng chống SDD trẻ em của Viện Dinh dưỡng Quốc gia Việt Nam, năm 2007 3. Báo cáo tổng kết ngành y tế Phú Yên năm 2005, 2006, 2007 4. Báo cáo tổng kết chương trình PCSDDTE - Trung tâm CSSKSS năm 2005, 2006, 2007 5. Báo cáo tổng kết của Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh năm 2005, 2006, 2007 Đề tài Tìm hiểu kiến thức PC SDD của bà mẹ có con dưới 5 tuổi huyện Phú Hòa – 2008 Trang 20
- Xem thêm -