Tìm hiểu du lịch tỉnh an giang

  • Số trang: 81 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 39 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ- DU LỊCH TRÀ XUÂN MAI TÌM HIỂU DU LỊCH TỈNH AN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DU LỊCH Cần Thơ, tháng 5/2010 TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN BỘ MÔN LỊCH SỬ- ĐỊA LÝ- DU LỊCH TRÀ XUÂN MAI MSSV: 6062719 TÌM HIỂU DU LỊCH AN GIANG LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DU LỊCH GV hướng dẫn: Th.s Trần Thị Phụng Hà Cần Thơ, tháng 5/2010 MỤC LỤC Lời cảm ơn Phần 1: MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………….1 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ………………………………………...1 3. Đối tượng nghiên cứu ………………………………………………….1 4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….2 4.1.Phương pháp thưc tế………………………………………………….2 4.2.Thu thập, xử lí thông tin, phân tích và tổng hợp tài liệu……………..2 4.3.Phương pháp bản đồ………………………………………………….2 5. Quan điểm nghiên cứu………………………………………………….2 5.1.Quan điểm tổng hợp lãnh thổ…………………………………………..2 5.2.Quan điểm lịch sử………………………………………………… …..2 5.3.Quan điểm viễn cảnh…………………………………………………...3 Phần 2: NỘI DUNG………………………………………………………………..4 Chương 1: LÍ LUẬN CHUNG…………………………………………………….4 1.1.Khái niêm du lịch và tài nguyên du lịch……………………………………….4 1.1.1.Khái niệm du lịch……………………………………………………..4 1.1.2.Khái niêm tài nguyên du lịch…………………………………………5 1.2.Vai trò, ý nghĩa của du lịch và tài nguyên du lịch……………………………..5 1.2.1.Vai trò, ý nghĩa của du lịch…………………………………………...5 1.2.2.Vai trò, ý nghĩa của tài nguyên du lịch……………………………….7 1.3.Đặc điểm và phân loại tài nguyên du lịch……………………………………...7 1.3.1.Đặc điểm……………………………………………………………...7 1.3.2.Phân loại…………………………………………………………… ..8 a. Tài nguyên du lịch tự nhiên………………………………….8 b. Tài nguyên du lịch nhân văn………………………………..11 Chương 2: TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH AN GIANG………………………15 2.1.Khái quát về tỉnh An Giang…………………………………………………..15 2.1.1.Lịch sử hình thành vùng đất An Giang……………………………...15 2.1.2.Vị trí địa lí…………………………………………………………...15 2.1.3.Đặc điểm tự nhiên…………………………………………………...16 a. Địa hình…………………………………………………...16 b. Khí hậu……………………………………………………16 c. Sông, hồ, kênh, rạch………………………………………16 2.1.4.Đặc điểm kinh tế- xã hội……………………………………………17 a. Phân chia đơn vị hành chính……………………………...17 b. Dân cư và sự phân bố dân cư……………………………..18 c. Kinh tế- du lịch……………………………………………18 2.2.Tài nguyên du lịch của tỉnh An Giang………………………………………..21 2.2.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên…………………………………………21 a. Địa hình…………………………………………………...21 b. Khí hậu……………………………………………………21 c. Sinh vật……………………………………………………22 d. Nước………………………………………………………23 2.2.2.Tài nguyên du lịch nhân văn………………………………………...24 a. Di tích lịch sử- văn hóa- khảo cổ học……………………..24 b. Các lễ hội………………………………………………….24 c. Làng nghề thủ công truyền thống…………………………28 d. Các đối tượng gắn với dân tộc học………………………..29 e. Các đối tượng văn hóa thể thao và hoạt động nhận thức khác………………………………………………….32 2.3.Một số điểm du lịch tiêu biểu của tỉnh An Giang………………… ……….. 32 2.3.1.Các điểm du lịch tự nhiên…………………………………………...32 a. Búng Bình Thiên- Đệ nhất hồ trời………………………...32 b. Thế giới nước Trà Sư……………………………………..33 c. Thất sơn hùng vỹ- trữ tình………………………………...34 2.3.2.Các điểm du lịch nhân văn…………………………………………..35 a. Đồi Tức Dụp………………………………………………35 b. Cụm di tích núi Sam………………………………………37 c. Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng…………………..39 d. Thánh đường Hồi giáo Mubarak………………………….39 e. Chùa Xà Tón( Xayvon)…… …………………………….40 @Đánh giá chung về tài nguyên du lịch tỉnh An Giang……………………….41 Chương 3: HIỆN TRẠNGVÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH AN GIANG 3.1.Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục du lịch………………………...43 3.1.1.Cơ sở hạ tầng………………………………………………………..43 a. Giao thông………………………………………………...43 b. Vận tải…………………………………………………....44 c. Thông tin liên lạc…………………………………………44 3.1.2.Cơ sở vât chất kỹ thuật……………………………………………...45 a. Cơ sở lưu trú………………………………………………………45 b. Mạng lưới thương mại mua sắm hang lưu niệm……………….....45 c. Cơ sở y tế………………………………………………………….45 d. Cơ sở ăn uống……………………………………………………..45 e. Nguồn nhân lực phục vụ du lịch…………………………………..45 3.2.Hiện trạng hoạt động du lịch và định hướng phát triển du lịch An Giang…...46 3.2.1.Tình hình khách du lịch tỉnh An Giang……………………………..46 3.2.2.Thuận lợi và khó khăn trong hoạt động du lịch tỉnh An Giang……..47 a. Thuận lợi…………………………………………………………...47 b. Khó khăn…………………………………………………………...48 3.2.3.Định hướng phát triển du lịch An Giang……………………………49 Phần 3: KẾT LUẬN…………………………………………………………… 51 1. Kết quả đạt được…………………………………………………………..51 2. Ý kiến đề xuất………………………………………………………… …51 LỜI CÁM ƠN Trong suốt bốn năm rèn luyện và học tập trên giảng đường đại học, với sự dìu dắt và truyền thụ kiến thức của thầy cô, tôi đã có được những hành trang bổ ích để bước vào đời. Có thể nói, luận văn tốt nghiệp là công trình nghiên cứu có giá trị đầu tiên đối với mỗi sinh viên. Với công trình này, chúng tôi có dịp vận dụng những kiến thức đã được trang bị và trau dồi suốt bốn năm qua. Trải qua thời gian nỗ lực tìm tòi nghiên cứu, đề tài “ TÌM HIỂU DU LỊCH AN GIANG” đã hoàn thành. Trang viết đầu tiên này tôi xin gởi lời cám ơn chân thành đến cô Trần Thị Phụng Hà- Cán bộ hướng dẫn chính cho bài luận văn này, người đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài. Đạt được kết quả này còn nhờ sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, đơn vị khác. Tôi xin chân thành cám ơn quý thầy cô Bộ môn Lịch sửĐịa lí- Du lịch, Sở Văn hóa- Thể thao- Du lịch An Giang, Cục Thống kê An Giang cùng các bạn lớp Cử nhân du lịch khóa 32. Chúc sức khỏe và thành đạt đến quý thầy cô, các cơ quan và tất cả các bạn! Vì thời gian và kiến thức bản thân có hạn nên chắc chắn đề tài này sẽ không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn để luận văn tốt nghiệp này hoàn chỉnh hơn. PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Quê hương tôi có cánh đồng xanh biếc Có cánh cò và có cả dòng sông Những người dân bàn chân đất ra đồng Tờ mờ sáng họ đi trong sương lạnh Mặt trời mọc là bức tranh ngoạn cảnh Đẹp tuyệt vời như họa sĩ vẻ ra Thương biết mấy những con người quê nội Đất An Giang tôi yêu mến muôn đời! (Sáng tác) Là một người con của mảnh đất An Giang, tôi tự hào bởi quê hương trù phú, nơi được đặc ân ưu đãi của thiên nhiên. Hệ thống sông Tiền và sông Hậu tạo cho An Giang một mùa nước nổi rất riêng biệt. An Giang còn sở hữu nhiều nét văn hóa phong phú đa dạng, nhiều di tích lịch sử đặc sắc, lâu đời gắn với thiên nhiên sông núi hữu tình, hùng vĩ. An Giang còn được mệnh danh là vùng “địa linh” với nhiều tín ngưỡng văn hóa đặc thù của các dân tộc. Giàu đẹp là thế, nhiều tiềm năng là thế. Nhưng hiện nay du lịch An Giang vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Vậy phải làm thế nào để đưa du lịch An Giang trở thành thế mạnh của tỉnh? Đây không chỉ là vấn đề bức xúc của riêng bản thân tôi mà còn là của các ngành, các cấp lãnh đạo trong hoạt động du lịch của tỉnh. Là sinh viên năm cuối chuyên ngành hướng dẫn viên, tôi hy vọng qua đề tài “TÌM HIỂU TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH AN GIANG” sẽ đưa hình ảnh du lịch tỉnh nhà giao lưu, hội nhập với các tỉnh bạn để du lịch An Giang có thể phát triển tương xứng với tiềm năng hiện có, từng bước tạo thương hiệu cho mình và góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch Việt Nam. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI: Tìm hiểu tài nguyên du lịch tỉnh An Giang nhằm mục đích tìm hiểu những tìêm năng của một số tài nguyên có tác động đến hoạt động du lịch của một địa phương nói riêng và của tỉnh An Giang nói chung. Qua đó có những đánh giá về những tiềm năng du lịch của tỉnh và vạch ra phương hướng phát triển nhằm thúc đẩy ngành du lịch An Giang phát triển mạnh mẽ và toàn diện hơn trong tương lai. Song song đó, đề tài cũng giúp tôi củng cố lại những kiến thức đã học, bổ sung thêm những kiến thức mới nhằm nâng cao sự hiểu biết để phục vụ cho nghề nghiệp sau này. 3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Du lịch là một đề tài rộng lớn bao gồm nhiều vấn đề. Tài nguyên du lịch là một bộ phận trong hoạt đông du lịch, nó quyết định sự có mặt của các loại hình du lịch.“ TÌM HIỂU TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH AN GIANG” là một đề tài tương đối rộng, đi sâu vào nhiều vấn đề của tài nguyên du lịch một địa phương. Nhưng với khuôn khổ một luận văn, tôi chỉ dừng lại ở mức độ tìm hiểu, thu thập tư liệu và tổng hợp những tiềm năng du lịch của tỉnh An Giang, tập trung đánh giá những tài nguyên đã, đang và sẽ được khai thác đồng thời trình bày một số điểm du lịch đã khai thác vào hoạt động du lịch của tỉnh. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1. Phương pháp thưc tế: Qua những tài liệu thu thập từ những nguồn khác nhau, người nghiên cứu tiến hành xâm nhập vào thực tế để trực tiếp xem xét, nhìn nhận đối tượng cần nghiên cứu một cách khách quan, chính xác. Qua đó giúp cho người nghiên cứu đánh giá được sự chính xác của đề tài và thu thập thêm những chi tiết, những thông tin cần thiết theo mục đích nghiên cứu của mình. 4.2. Phương pháp thu thập, xử lí thông tin, phân tích và tổng hợp tài liệu: Đó là qua trình nghiên cứu thu thập tài liệu có liên quan đến các sự vật hiện tượng thuộc lĩnh vực mà đề tài nghiên cứu. Để hoàn thành được bài viết, người nghiên cứu phải tìm tài liệu khác nhau qua sách, báo, tạp chí và các thông tin trên internet. Sau đó phải phân loại, lựa chọn khái quát những thông tin và rút ra những thông tin phù hợp với phạm vi nghiên cứu của đề tài. Cuối cùng người nghiên cứu phải tổng hợp và sắp xếp lại môt cách logic để viết và cho ra sản phẩm cuối cùng. Phương pháp này giúp cho những sản phẩm nghiên cứu bao giờ cũng mang tính khoa học, logic và sáng tạo. 4.3. Phương pháp bản đồ: Trong quá trình thực hiện đề tài, các bản đồ được xây dựng và sử dụng rất nhiều nhằm cụ thể hóa, hình tượng hóa và có những so sánh chính xác. 5. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU 5.1. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ: Các loại tài nguyên cả tự nhiên và nhân văn đều là những yếu tố hấp dẫn để thu hút và phát triển du lịch, phát triển kinh tế xã hội của một lãnh thổ nhất định. Giữa chúng có mối quan hệ tương hỗ để cùng tồn tại và phát triển trên một lãnh thổ nào đó. Vì thế khi tìm hiểu tài nguyên du lịch tỉnh An Giang tôi dựa trên quan điểm tổng hợp lãnh thổ để thấy được mối quan hệ với các thành phần, yếu tố khác trên lãnh thổ. Trên thực tế các sự vật hiện tương luôn có sự phân hóa trong không gian và thời gian làm cho chúng luôn có sự phân biệt giữa nơi này và nơi khác. Trong nghiên cứu du lịch thì người nghiên cứu phải tìm ra điểm độc đáo của lãnh thổ du lịch, sự hấp dẫn, nét riêng biệt của vùng, của điểm du lịch vùng này với điểm du lịch vùng khác. 5.2. Quan điểm lịch sử: Tất cả các sự vật hiện tượng đều có quá trình xuất hiện và phát triển, vì thế khi nghiên cứu tài nguyên du lịch người nghiên cứu cần phải tìm hiểu nguồn gốc lịch sử dẫn đến sự hình thành tài nguyên du lịch để thấy được những bước khác nhau của nó trong những hoàn cảnh địa lí khác nhau, trong những khoảng thời gian khác nhau. Khi nghiên cứu chúng ta cần đặt theo một cấu trúc logic để lí giải nguyên nhân hình thành và phát triển. Quan điểm này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn động về sự vật, nghĩa là chúng ta phải luôn đặt chúng trong quá trình vận động và từ đó có thể thấy được những bước phát triển trong tương lai. 5.3. Quan điểm viễn cảnh: Quan điểm này giúp người nghiên cứu định hướng được, dự đoán được những bước phát triển kế tiếp của các loại tài nguyên du lịch trong tương lai khi nhìn nhận đầy đủ bản chất cũng như quy luật vận động và phát triển của các loại tài nguyên du lịch ở quá khứ và hiện tại. Trong nghiên cứu du lịch thì quan điểm này kế thừa quan điểm lịch sử, nghĩa là khi áp dụng quan điểm viễn cảnh, người nghiên cứu phải căn cứ vào xu hướng vận động của các sự vật hiện tượng để lập dự báo, căn cứ có khoa học trong tương lai. Quan điểm này đảm bảo tính sáng tạo, tính tích cực của ngành Địa Lý và Du Lịch, đảm bảo tính kế thừa và phát triển trong tương lai. PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG 1.1. KHÁI NIỆM DU LỊCH VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH 1.1.1. Khái niệm du lịch: Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Ngày nay trên phạm vi toàn thế giới, du lịch đã thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa- xã hội và hoạt động du lịch đang được phát triển một cách mạnh mẽ. Mặt dù hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu và phát triển với tốc độ nhanh, song cho đến ngày nay khái niệm du lịch vẫn chưa có sự thống nhất. GS.TS Berneker- một chuyên gia hàng đầu về du lịch thế giới đã nhận định: “Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa vì mỗi hoàn cảnh khác nhau, mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có cách hiểu khác nhau về du lịch”. Năm 1811 định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện ở Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”. Theo ông Kuns (người Thụy Sĩ): “Du lịch là hiện tượng những người ở chỗ khác, ngoài nơi cư trú thường xuyên, đi đến bằng các phương tiện giao thông và sử dụng các xí nghiệp du lịch”. Năm 1930, Clusman (người Thụy Sĩ) cho rằng: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm mà ở đó họ không có nơi cư trú thường xuyên”. Hai GS.TS Hunziker và Kraf là những người đặt nền móng cho lý thuyết du lịch đã đưa ra định nghĩa:“Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc cư trú đó không thành việc cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”. Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, tại hội nghị Liên Hiệp Quốc ở Roma (Italia), các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ hay ngoài nước với mục đích hòa bình. Nơi ho đến cư trú không phải là nơi làm việc của họ”. Dưới góc độ địa lí du lịch, Piroginic (1985) cho rằng: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức-văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về kinh tế, tự nhiên, văn hóa”. Nhìn chung, du lịch có thể được định nghĩa như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. (Điều 10Pháp lệnh du lịch Việt Nam- 1999). Thông qua một số định nghĩa trên, có thể nói rằng du lịch là một dạng hoạt động đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hóa- xã hội. 1.1.2. Khái niệm tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lich hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu, năng lượng và thông tin trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình và được phân loại thành nhiều tài nguyên gắn liền với các nhân tố con người và xã hội. Khái niệm tài ngyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch. Pháp lệnh du lịch Việt Nam (1999) định nghĩa như sau: “Tài nguyên du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch”. Như vậy, tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch. Thực tế cho thấy, tài nguyên du lich càng phong phú, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu. 1.2. VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA DU LỊCH VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH 1.2.1. Vai trò, ý nghĩa của du lịch: Du lịch có những chức năng nhất định. Có thể xếp các chức năng ấy thành bốn nhóm: xã hội, kinh tế, sinh thái và chính trị. Thông qua những chức năng này có thể thấy được vai trò rất lớn của du lịch và hoạt động du lịch. a. Chức năng xã hội: Thể hiện ở vai trò của du lịch trong việc giữ gìn, hồi phục sức khỏe và tăng cường sức sống cho nhân dân. Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người. Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hóa phong phú và lâu đời của các dân tộc, từ đó tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chất tốt đẹp như lòng yêu lao động, tình bạn…. Điều đó quyết định sự phát triển cân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội. b. Chức năng kinh tế: Chức năng này của du lịch thể hiện ở sự liên quan mật thiết với vai trò của con người như là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội. Hoạt động sản xuất là cơ sở tồn tại của xã hội. Việc nghỉ ngơi, du lịch một cách tích cực và được tổ chức hợp lí sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp. Một mặt nó góp phần vào việc phục hồi sức khỏe cũng như khả năng lao động và mặt khác đảm bảo tái sản xuất lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt. Ngoài ra chức năng kinh tế của du lịch còn thể hiện ở khía cạnh khác. Đó là dịch vụ du lịch, một ngành kinh tế độc đáo, ảnh hưởng đến cơ cấu ngành và cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, ngoại thương… và là cơ sở quan trọng tạo đà cho nền kinh tế phát triển. c. Chức năng sinh thái: Tạo môi trường sống ổn định về mặt sinh thái. Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục và tối ưu hóa môi trường xung quanh, bởi vì chính môi trường này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hoạt động của con người. Việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hóa quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch. Lúc này đòi hỏi con người phải tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên, đảm bảo điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên một cách hợp lí. Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có quan hệ chặt chẽ. Một mặt xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của các dòng khách du lịch và việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Như vậy giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối liên quan gần gũi với nhau. d. Chức năng chính trị: Chức năng chính trị của du lịch được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một nhân tố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc. Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau, kêu gọi hàng triệu người quý trọng lịch sử, văn hóa và truyền thống của các quốc gia, giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc. e. Ý nghĩa kinh tế- xã hội của du lịch: Du lịch thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác. Trước hết hoạt động kinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ của các nhiều ngành, yêu cầu về sự hỗ trợ liên ngành, là cơ sở cho các ngành khác phát triển. Đối với nền sản xuất xã hội, du lịch còn mở ra thị trường tiêu thụ hàng hóa . Mặt khác sự phát triển của du lịch tạo ra các điều kiện để khách du lịch tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước, tận dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác. Việc phát triển du lịch ở những vùng sâu vùng xa còn góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thêm thu nhập quốc dân vì hoạt động du lịch quốc tế là nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đát nước. Du lịch góp phần giải quyết việc làm cho người lao động. Theo thống kê năm 2000 của thế giới, du lịch là ngành tạo việc làm quan trọng. Tổng số lao động trong các hoạt động liên quan đến hoạt động du lịch chiếm 10.7% tổng số lao động toàn cầu. Việc phát triển du lịch sẽ làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội của một vùng, giảm đi sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế xã hội giữa các vùng trong cả nước, đồng thời cũng góp phần làm giảm đi sự tập trung dân cư ở những trung tâm dân cư. Du lịch là phương tiện tuyên truyền quảng cáo có hiệu quả cho đất nước chủ nhà mà không phải mất tiền. Du lịch còn làm phong phú thêm khả năng thẫm mỹ của con người khi họ được tham quan các kho tàng mỹ thuật của một đất nước. Thông qua du lịch con người được thay đổi môi trường, có ấn tượng và cảm xúc mới, thỏa mãn được trí tò mò đồng thời mở mang kiến thức, đáp ứng lòng ham hiểu biết do đó góp phần hình thành phương hướng đúng đắn trong mơ ước sang tạo, trong kế hoạch cho tương lai của con người- khách du lịch. Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống của dân tộc. Thông qua các chuyến tham quan nghỉ mát người dân có điều kiện làm quen với cảnh đẹp, với lịch sử và văn hóa dân tộc qua đó thêm yêu đất nước mình. Ngoài ra việc phát triển du lịch còn có ý nghĩa lớn đối với việc khai thác và bảo tồn các di sản văn hóa , thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề thủ công truyền thống, góp phần bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên, môi trường xã hội. 1.2.2. Vai trò, ý nghĩa của tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến cấu trúc và chuyên môn hóa của vùng du lịch. Quy mô hoạt động du lịch của một vùng, một quốc gia được xác định trên cơ sở khối lượng nguồn tài nguyên du lịch quyết định tính mùa vụ, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch. Sự hấp dẫn của vùng du lịch phụ thuộc nhiều vào tài nguyên du lịch. Số lượng tài nguyên du lịch vốn có, chất lượng của chúng và mức độ kết hợp các loại tài nguyên trên lãnh thổ có ý nghĩa đặc biệt trong việc hình thành và phát triển du lịch của một vùng hay một quốc gia. Một lãnh thổ nào đó có nhiều tài nguyên du lịch, các loại có chất lương cao có sức hấp dẫn du khách lớn và mức độ kết hợp các loại tài nguyên phong phú thì sức thu hút khách du lịch càng mạnh. 1.3. ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI TÀI NGUYÊN DU LỊCH 1.3.1. Đặc điểm: Để khai thác và sử dụng tốt nhất các tài nguyên du lịch, trước hết cần tìm hiểu và nghiên cứu các đặc điểm nguồn tài nguyên này. Tài nguyên du lịch có những đặc điểm chính sau: Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi du lịch. Thời gian khai thác xác định tính mùa của du lịch, nhịp điệu của dòng khách. Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó. Vốn đầu tư tương đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao cho phép xây dựng tương đối nhanh chóng cơ sở hạ tầng và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên. Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các quy định về sử dụng tài nguyên một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ chung. Muốn đánh giá tài nguyên du lịch cần phải tổng hợp nhiều tri thức của các lĩnh vực khoa học: sinh lý học, tâm lý học, địa lý tự nhiên và địa lý kinh tế, lịch sử văn hóa và nghệ thuật, kiến trúc và đô thị, kế hoạch hóa lãnh thổ và kế hoạch du lịch. Khía cạnh lãnh thổ của các đánh giá tài nguyên du lich là nhiệm vụ của địa lý du lịch. 1.3.2. Phân loại tài nguyên du lịch: Tài nguyên du lịch có thể chia làm hai nhóm như sau:  Tài nguyên du lịch tự nhiên  Tài nguyên du lịch nhân văn a. Tài nguyên du lịch tự nhiên: Là các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên bao quanh chúng ta và tác động đến người quan sát qua hình dạng bên ngoài của bản thân nó. Các tài nguyên du lịch tự nhiên luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên cũng như lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội và chúng được khai thác đồng thời với các tài nguyên du lịch nhân văn. Các yếu tố tự nhiên được khai thác để phục vụ cho hoạt động du lịch đó là: địa hình, khí hậu, nước, sinh vật.  Địa hình: Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của phong cảnh nơi đó. Đối với du lịch, các dấu hiệu bên ngoài của địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫn du khách. Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằng, chúng được phân biệt bởi độ chênh cao của địa hình. - Địa hình đồng bằng với độ cao tương đối dưới 10 mét, địa hình này tương đối đơn điệu về mặt ngoại hình, ít gây cảm hứng cho khách tham quan du lịch. Song, đồng bằng là nơi thuận lợi cho hoạt động kinh tế, là nơi quần cư đông đúc, tạo ra đặc điểm văn hóa của các dân tộc, các hoạt động gắn liền với cuộc sống của người dân. Địa hình đông bằng có ảnh hưởng gián tiếp đến du lịch. - Địa hình vùng đồi với độ cao từ 10 đến 100 mét thường tạo ra một không gian thoáng đãng bao la… tác động mạnh đến tâm lý của khách ưa thích dã ngoại, rất thích hợp với loại hình cắm trại, tham quan…. - Địa hình vùng núi với độ cao trên 100 mét thường có nhiều ưu thế đối với hoạt động du lịch vì có sự kết hợp của nhiều dạng địa hình, vừa thể hiện vẻ đẹp hùng vỹ và thơ mộng của thiên nhiên, vừa có khí hậu mát mẻ, không khí trong lành. Ở miền núi có nhiều đối tượng cho hoạt động du lịch, đó là các sông, suối, hang động, thác nước, rừng cây với thế giới sinh vật tự nhiên vô cùng phong phú. Miền núi còn là nơi cư trú của các dân tộc ít người với đời sống và nền văn hóa đa dạng, đặc sắc. Ở miền núi với sự kết hợp của địa hình, khí hậu, nước, tài nguyên sinh vật và bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc ít người đã tạo nên tài nguyên du lịch tổng hợp có thể phát triển được nhiều loại hình du lịch khác nhau và có sức hấp dẫn rất lớn đối với du khách. Ngoài các dạng địa hình trên, địa hình karst và địa hình ven bờ cũng có ý nghĩa rất lớn cho tổ chức du lịch. - Địa hình karst là kiểu địa hình được tạo thành do sự lưu thông của nước trong các đá dễ hòa tan (đá vôi, dolomite, đá phấn, thạch cao, muối mỏ…) ở Việt Nam chủ yếu là đá vôi. Hang động karst là một kiểu karst được quan tâm đối với du lịch vì cảnh quan thiên nhiên của các hang động karst rất thu hút khách du lịch. Nhiều hang động có vẻ đẹp lộng lẫy, tráng lệ và rất kỳ ảo do tạo hóa sinh ra. Nhiều hang động chứa những di tích khảo cổ, di tích lịch sử văn hóa. Không ít hang động đã được con người xây dựng thêm các công trình kiến trúc như chùa chiền để thờ tự, tạo nên một thế giới tâm linh đầy bí ẩn…. Như vậy, có thể nói hang động karst là một loại tài nguyên du lịch- một loại hàng hóa đặc biệt có thể sinh lợi cao. Hiện nay ở nước ta đã có nhiều hang động được khai thác để phục vụ du lịch như: Phong Nha, Tam Cốc- Bích Động, Hương Tích, Thiên Cung…. Ngoài hang động karst, còn có kiểu địa hình karst ngập nước tiêu biểu là vịnh Hạ Long- một di sản thiên nhiên thế giới; kiểu địa hình karst đồng bằng tiêu biểu là ở vùng Ninh Bình được mệnh danh là “vịnh Hạ Long cạn” cũng rất có giá trị về du lịch. - Địa hình ven bờ cũng có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch. Nước ta có đường bờ biển dài 3.260 km với nhiều bãi tắm vẫn còn ở dạng sơ khai, chưa bị ô nhiễm, độ dốc trung bình từ 10 đến 30 và một hệ thống đảo ven bờ, trong đó một số đảo có giá trị về du lịch. Từ Móng Cái đến Hà Tiên với rất nhiều bãi tắm đẹp như: Trà Cổ, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Lăng Cô, Đại Lãnh, Nha Trang, Vũng Tàu…. Đây là tiềm năng lớn để tạo nên các khu du lịch biển có thể cạnh tranh được với các nước trong khu vực.  Khí hậu: Khí hậu cũng được coi là một dạng tài nguyên du lịch. Trong các chỉ tiêu về khí hậu, đáng lưu ý nhất là nhiệt độ và độ ẩm không khí. Ngoài ra còn phải tính đến các yếu tố khác như gió, áp suất khí quyển, ánh sáng mặt trời, các hiện tượng thời tiết đặc biệt. Bảng 1.1: Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người Hạng 1 2 3 Ý nghĩa Thích nghi Khá thích nghi Nóng Nhiệt độ trung bình năm (0C) 18-24 24-27 27-29 Nhiệt độ TB tháng nóng nhất (0C) 24-27 27-29 29-32 Biên độ năm của nhiệt độ TB (0C) <6 6-8 8-14 Lượng mưa trên năm (mm) 1250-1900 1900-2550 >2550 4 5 Rất nóng Không thích nghi 29-32 >32 32-35 >35 14-19 >19 <1250 <650 ( Nguồn: Địa lý du lịch- Nguyễn Minh Tuệ) Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động dịch vụ du lịch. Nhìn chung, những nơi có khí hậu ôn hòa thường được du khách ưa thích. Những nơi có nhiều gió cũng không thích hợp cho hoạt động du lịch. Mỗi loai hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Chẳng hạn du khách đi nghỉ biển mùa hè thường chọn những dịp ít mưa, nắng nhiều nhưng không gắt, nước mát, gió vừa phải. Tính mùa của khí hậu ảnh hưởng rất rõ rệt đến tính mùa vụ trong du lịch. Các vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau do ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu. Sự phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng. Mùa du lịch cả năm thích hợp với loại hình du lịch chữa bệnh ở suối khoáng, du lịch trên núi (cả mùa đông và mùa hè). Mùa đông là mùa du lịch trên núi, du lịch thể thao mùa đông. Mùa hè là mùa du lịch quan trọng nhất vì nó có thể phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch biển, các loại hình du lịch trên núi và khu vực đồng bằng, đồi, khả năng du lịch ngoài trời rất phong phú và đa dạng.  Nguồn nước: Đối với du lịch thì nước mặt có ý nghĩa quan trọng. nó bao gồm nước đại dương, biển, song, hồ, suối phun, thác nước…. Tài nguyên nước mặt không chỉ có tác dụng hồi phục trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều dến các thành phần khác của môi trường sống, đặc biệt nó làm dịu đi khí hậu ven bờ. Nước ngầm nhìn chung ít có giá trị đối với du lịch, tuy nhiên cần phải nói đến tài nguyên nước khoáng. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị an dưỡng và chữa bệnh. Những nước có nhiều tài nguyên nước khoáng là: Liên Bang Nga, Bungari, Italia… cũng là những nước phát triển loại hình du lịch chữa bệnh. Ở Việt Nam, theo các nhà địa chất thủy văn có trên 400 điểm nước khoáng có giá trị du lịch như: Vĩnh Hảo, Kim Bôi, Quang Hanh, Hội Vân…  Sinh vật: Con người cũng như mọi sinh vật đều được phát sinh và phát triển trong môi trường tự nhiên- nguyên thủy-một môi trường hàn toàn trong lành và ổn định. Con người đã thích nghi với môi trường đó. Giờ đây, sống trong một xã hội phát triển có những điều kiện thuận lợi do con nguười tạo ra, nhưng đồng thời môi trường lại bị ô nhiễm, biến đổi bất lợi cho cuộc sống của con người, vì vậy con người muốn trở về với thiên nhiên. Như vây có thể nói, cảnh quan thiên nhiên có một vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe con người và là nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái. Động vật là một trong những nhân tố góp phần thu hút khách du lịch. Nhiều loài động vật có thể là đối tượng cho săn bắn du lịch, những động vật quý hiếm là đối tượng để nghiên cứu, có những loài có thể khai thác làm đặc sản phục vụ nhu cầu du lịch. Nước ta đã thành lập được 105 khu bảo vệ tự nhiên, bao gồm 27 vườn quốc gia, 44 khu bảo tồn tự nhiên và 34 khu rừng văn hóa lịch sử, môi trường với tổng diện tích khoảng 2.092 hecta (thống kê năm 2003). b. Tài nguyên du lịch nhân văn: Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sáng tạo ra. Theo quan điểm chung được chấp nhận hiện nay, toàn bộ những sản phẩm có giá trị vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra được xem là những sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên không phải sản phẩm văn hóa nào cũng được xem là tài nguyên du lịch nhân văn, chỉ những sản phẩm văn hóa nào có giá trị phục vụ du lịch mới được xem là tài nguyên du lịch nhân văn. Hay nói cách khác, những tài nguyên du lịch nhân văn chính là những giá trị văn hóa tiêu biểu cho mỗi dân tộc. Thông qua những hoạt động du lịch dựa trên việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, khách du lịch có thể hiểu những đặc trưng cơ bản về văn hóa của dân tộc, địa phương nơi mình đến. Là những sản phẩm văn hóa nên nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên cũng rất đa dạng và phong phú. Chúng có thể được phân thành các dạng chính như sau:  Các di tích lịch sử- văn hóa: Di tích lịch sử-văn hóa là tài sản văn hóa quý giá của mỗi địa phương, mỗi dân tộc, mỗi đất nước và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, cụ thể, xác thực nhất về đặc điểm văn hóa của mỗi nước. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, những trí tuệ, những tài năng, giá trị văn hóa nghệ thuật của mỗi quốc gia. Di tích lịch sử- văn hóa có giá trị rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ, tài năng của con người, phát triển khoa học nhân văn, khoa học lịch sử. Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dan tộc, mỗi đất nước. Như vậy, di tích lịch sử- văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan trong đó chứa đựng những giá trị lịch sử điển hình do tập thể hoặc cá nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại. Theo những thang bậc giá trị khác nhau, những di tích lịch sử- văn hóa được phân thành những dạng khác nhau: các di tích có giá trị đặc biệt được xem là các di sản thế giới, các di tích cấp quốc gia và địa phương. Các di sản văn hóa thế giới: là kết tinh cao nhất của những sáng tạo văn hóa của một dân tộc, nó có giá trị rất lớn đối với nhân loại. Nó là nguồn tài nguyên vô giá có sức thu hút du khách rất cao, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài. Ví dụ như: phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, cố đô Huế…. Các di tích lịch sử- văn hóa danh thắng cấp quốc gia và địa phương: mỗi di tích có nội dung, giá trị văn hóa, lượng thông tin riêng biệt khác nhau. Có thể chia ra thành: - Di tích văn hóa khảo cổ - Di tích lịch sử - Di tích văn hóa nghệ thuật - Các danh lam thắng cảnh Để đánh giá đúng ý nghĩa của các di tích lịch sử văn hóa phục vụ cho mục đích du lịch, cần chú ý số lượng và chất lượng của di tích. Tài nguyên này có thể tận dụng để phát triển nhiều loại hình du lịch cũng như kết hợp các loại tài nguyên du lịch khác tạo ra sức hấp dẫn to lớn đối với du khách.  Lễ hội: Lễ hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, là một kiểu sinh hoạt của tập thể nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc đó còn là một dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại: ngưỡng mộ tổ tiên, ôn lại truyền thống, hoặc là để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được. Các lễ hội đã tạo nên một môi trường mới, huyền diệu giúp cho người tham dự có điều kiện tiếp xúc với bí ẩn của nguồn khởi điểm mọi sinh vật sinh sống. Lễ hội dân tộc trở thành dịp cho con người hành hương về với cội nguồn. Trong kho báu các di sản quá khứ để lại cho hôm nay, các lễ hội dân tộc có lẽ là những thứ quý báu nhất. Và vì thế lễ hội dân tộc lành mạnh không bị mất đi mà ngày càng được nhân rộng, phát triển cả về hình thức lẫn nội dung. Nội dung lễ hội bao gồm hai phần: Phần lễ: đó là những nghi thức nghiêm túc, trọng thể mở đầu cho ngày hội theo không gian và thời gian. Phần nghi lễ mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại, một vị anh hùng lỗi lạc có ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội. Phần nghi lễ nhằm bày tỏ lòng tôn kính đối với các bậc thánh hiền và thần linh cầu mong được thiên thời, địa lợi, nhân hòa và sự phồn vinh hạnh phúc. Nó tạo thành nên móng vững chắc, tạo một yếu tố văn hóa thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đối với toàn thể cộng đồng người đi hội trước khi chuyển sang phần xem hội. Phần hội: là phần tổ chức những trò chơi, thi đấu, biểu diễn…. Mặc dù cũng hàm chứa những yếu tố văn hóa truyền thống, nhưng phạm vi nội dung của nó không khuôn cứng mà hết sức linh hoạt, luôn luôn được bổ sung bởi những yếu tố văn hóa mới. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy nếu nơi nào bảo tồn và phát triển được những nét văn hóa truyền thống trong phần hội với những trò chơi mang tính dân gian thì lễ hội nơi đó có giá trị hơn, có sức hấp dẫn hơn. Thông thường phần hội gắn với tình yêu, giao duyên nam nữ. Cũng có những lễ hội mà ở đó phần lễ và phần hội hòa quyện với nhau, trong đó trọng tâm là phần hội nhưng bản thân phần hội đã mang trong nó ý nghĩa tâm linh của phần lễ. Như vậy, lễ hội là tài nguyên du lịch quan trọng góp phần làm tăng hấp dẫn du khách trong hoạt động du lịch. Ở nước ta có rất nhiều lễ hội của nhiều dân tộc thu hút đông đảo khách du lịch như: lễ hội chùa Hương, lễ hội vía Bà Chúa Xứ An Giang, lễ Cholchnamthmay của người Khơ me…  Nghề và các làng nghề thủ công truyền thống: Đây cũng là tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng. Thông thường nghề thủ công truyền thống với những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện tài khéo léo tinh xảo của nhân dân lao động mà còn thể hiện những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người. Đây cũng chính là đặc tính riêng của nền văn hóa và cũng chính là sức hấp dẫn của các nghề và làng nghề thủ công truyền thống.  Các đối tượng gắn với dân tộc học: Các đối tượng gắn với dân tộc học bao gồm các điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang những sắc thái riêng, địa bàn cư trú nhất định, kinh nghiệm sản xuất…. Các đối tượng gắn với dân tộc học có ý nghĩa du lịch là các tập tục về cư trú, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, các trang phục dân tộc…. Những điều đó đã tạo nên nét văn hóa độc đáo thu hút du khách.  Các đối tượng văn hóa thể thao và các hoạt động nhận thức khác: Những đối tượng văn hóa như các trung tâm khoa học, các trường đại học, các trung tâm thư viện lớn, các nhà bảo tàng,… đều có sức thu hút khách du lịch
- Xem thêm -