Tiểu luận về kinh tế du lịch

  • Số trang: 24 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 23 |
  • Lượt tải: 0
thuvientrithuc1102

Đã đăng 15337 tài liệu

Mô tả:

Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại Chương 1: Cơ sở lí luận về du lịch. 1.1. Những khái niệm liên quan đến du lịch. 1.1.1. Khái niệm du lịch và đặc tính quan trọng của du lịch. Hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hình thành từ rất lâu đời và phát triển với tốc độ rất nhanh, song cho đến ngày nay thì khái niệm “Du lịch” lại được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau dưới nhiều góc độ. Trong bài này người viết không thể đưa ra hết tất cả những khái niệm về du lịch mà chỉ muốn giới thiệu những khái niệm được đánh giá là tin cậy, gần gũi, bao quát và dễ hiểu đến người đọc. Theo Luật du lịch do Quốc hội nước ta ban hành có hiệu lực từ 01/01/2006 thì: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Còn theo Giáo sư, Tiến sĩ Hanziker và Krapf, hai người được coi là những người đặt nền móng cho lí thuyết về cung du lịch thì: Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời (Khái niệm này đã được Đại hội lần thứ 5 của hiệp hội Quốc tế những nhà nghiên cứu khoa học về du lịch chấp nhận và trở thành cơ sở cho môn khoa học du lịch) Còn theo định nghĩa của Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa Canada diễn ra vào 6/1991 thì : Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên, trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm. Trên cơ sở tổng hợp những lí luận và thực tiễn của hoạt động du lịch trên thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây thì khoa Du lịch và Khách sạn trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội đã đưa ra định nghĩa : Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú ăn uống tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp. Trang 1 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại Hay theo Luật du lịch Việt Nam thì : Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Qua xem xét các định nghĩa chúng ta thấy du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội khá phức tạp mà trong quá trình phát triển nội dung của nó không ngừng mở rộng và ngày càng phong phú. Du lịch có một đặc tính quan trọng mà trong nghiên cứu lí luận về du lịch cũng như hoạt động thực tiễn phát triển du lịch chúng ta cần phải chú ý đến đó là tính thời vụ : Tính thời vụ của du lịch là sự dao động lặp đi lặp lại đối với cung cầu với các dịch vụ, hàng hóa du lịch, xảy ra dưới tác động của các nhân tố nhất định (khí hậu, phong tục tập quán, quỹ thời gian nhàn rỗi phân bố không đều của các nhóm dân cư, tâm lí …). Thời vụ du lịch là khoảng thời gian của một chu kì kinh doanh, mà tại đó có sự tập trung cao nhất của cung và cầu của du lịch. 1.1.2. Khái niệm du lịch quốc tế. Du lịch quốc tế là một hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của những quốc gia khác nhau. Ở hình thức du lịch này khách phải đi qua biên giới và chi tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch. Du lịch quốc tế chủ động: Là hình thức du lịch của những người từ nước ngoài đến một quốc gia nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó. Du lịch quốc tế chủ động tương đương với xuất khẩu vì cùng tạo ra nguồn ngoại tệ cho một quốc gia. VD: khách nước ngoài vào Việt Nam du lịch Du lịch quốc tế thụ động: Là hình thức du lịch của công dân một quốc gia nào đó và của những người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ của quốc gia đó đi ra nước khác du lịch và trong chuyến đi ấy họ đã tiêu tiền kiếm ra tại đất nước đang cư trú. Du lịch quốc tế thụ động tương đương với nhập khẩu, vì cùng gây ra hiện tượng xuất ngoại tệ từ một quốc gia ra nước ngoài. Ví dụ: Công dân Việt Nam ra nước ngoài du lịch thông qua ngành du lịch Việt Nam thì lúc này Việt Nam kinh doanh du lịch quốc tế thụ động. Trong bài này chúng ta chỉ tập trung nghiên cứu và phát triển du lịch quốc tế chủ động (Du lịch của người nước ngoài vào Việt Nam). Bởi đó mới chính là tiềm năng, nguồn lực kinh tế thật sự đóng góp to lớn vào việc phát triển đất nước. Trang 2 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại 1.1.3. Khái niệm về khách du lịch. Theo Luật du lịch do quốc hội nước ta ban hành có hiệu lực từ 01/01/2006 thì: khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Và năm 1993 theo đề nghị của tổ chức du lịch quốc tế WTO (World Tourism Organisation). Hội đồng thống kê Liên Hợp Quốc đã công nhận những thuật ngữ sau để thống nhất soạn thảo thống kê du lịch. Khách du lịch quốc tế gồm:  Khách du lịch quốc tế đến : gồm những người từ nước ngoài đến du lịch một quốc gia.  Khách du lịch quốc tế ra nước ngoài: gồm những người đang sinh sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài.  Khách du lịch trong nước: gồm những người là công dân một quốc gia và người nước ngoài đang sinh sống trên lãnh thổ quốc gia đó đi du lịch trong nước.  Khách du lịch nội địa: gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến.  Khách du lịch quốc gia: gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài Theo luật Du lịch Việt Nam thì: Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Qua nghiên cứu các khái niệm về khách du lịch ta dễ dàng thấy rằng chúng đều có một số điểm chưa thống nhất nhưng tất cả đều căn cứ vào việc di chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên và mục đích của việc di chuyển làm tiêu thức để đưa ra khái niệm. 1.1.4. Khái niệm về sản phẩm của du lịch. Theo luật Du lịch Việt Nam thì: Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch. Theo giáo trình Kinh Tế Du Lịch của trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân: Sản phẩm du lịch là các dịch vụ hàng hóa, cung cấp cho khách du lịch, được tạo nên từ việc khai thác các yếu tố tự nhiên xã hội với việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động tại một vùng hay một quốc gia. Sản phẩm du lịch có thể phân thành các nhóm sau:  Dịch vụ vận chuyển. Trang 3 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại  Dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, đồ ăn, thức uống.  Dịch vụ tham quan, giải trí.  Hàng hóa tiêu dùng, đồ lưu niệm và các dịch vụ khác. Sản phẩm du lịch có đặc trưng cơ bản không cụ thể tức là không tồn tại dưới dạng vật thể (Vì dịch vụ chiếm đến 80-90% giá trị). Hàng hóa chiếm trỉ trọng nhỏ và sản phẩm dul lịch được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch vì vậy không thể dịch chuyển được, không thể đem đến nơi có khách du lịch. 1.2. Các loại hình du lịch. Theo giáo trình Kinh Tế Du Lịch của trường ĐH Kinh Tế Quốc Dân thì:Loại hình du lịch là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau hoặc cùng thoả mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự. 1) Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ mà phân chia ra thành : - Du lịch quốc tế : Đã trình bày 1.1.2 - Du lịch nội địa: Là hình thức du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của du khách là cùng nằm trong một quốc gia. 2) Căn cứ vào nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch mà phân chia ra thành: - Du lịch chữa bệnh. - Du lịch nghỉ ngơi, giải trí. - Du lịch thể thao. - Du lịch văn hóa. - Du lịch công vụ. - Du lịch thương gia. - Du lịch tôn giáo. - Du lịch thăm hỏi, du lịch quê hương. - Du lịch quá cảnh… 3) Căn cứ vào đối tượng mà phân chia ra thành: Du lịch thanh thiếu niên, du lịch dành cho những người cao tuổi, du lịch phụ nữ, du lịch gia đình… 4) Căn cứ vào hình thức tổ chức mà phân chia ra thành du lịch theo đoàn, du lịch cá nhân. Ngoài ra, người ta còn căn cứ phương tiện đi lại, phương tiện lưu trú, căn cứ vào thời gian, căn cứ vào vị trí địa lí mà còn phân chia ra thành nhiều hình thức du lịch khác nữa. Trang 4 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch. 13.1. Thời gian rãnh rỗi của người dân. Muốn thực hiện một hành trình du lịch thì đòi hỏi con người phải có thời gian. Quỹ thời gian của mỗi người là có giới hạn và được chia làm nhiều phần cho nhiều hoạt động khác nhau. Khi quỹ thời gian rảnh rỗi nhiều thì con người càng có xu hướng đi du lịch nhiều hơn. 1.3.2. Mức sống về vật chất và trình độ văn hóa của người dân. Di du lịch là một hoạt động khá tốn kém mà lại không sinh ra một khoản lợi nhuận nào chính vì thế mà chỉ khi con người ta có một mức sống vật chất tương đối khá thì nhu cầu du lịch với được đáp ứng. Mức sống càng cao thì xu hướng đi du lịch càng thường xuyên và xa hơn. Nếu trình độ văn hóa chung của một dân tộc được nâng cao thì số người đi du lịch tăng lên rõ rệt do họ có nhiều điều kiện để thực hiện chuyến du lịch của mình hơn và do lòng ham hiểu biết, mong muốn làm quen tìm hiểu tăng lên. Đồng thời việc phát triển du lịch của đất nước đó cũng tăng lên. Theo thống kê của Robert W. Mc Intosh cho thấy mối quan hệ giữa trình độ văn hóa và tỉ lệ du lịch như sau: Trình độ văn hóa của chủ gia đình Chưa có trình độ trung học Có trình độ trung học Có trình độ Cao Đẳng Có trình độ Đại Học Tỉ lệ du lịch 50% 65% 75% 85% 1.3.3. Điều kiện giao thông vận tải. Sự phát triển của du lịch một phần rất lớn là do sự phát triển của giao thông vận tải. Bởi vì giao thông vận tải tốt không những tạo được sự thoải mái cho người đi du lịch mà nó còn đáp ứng được cả những quỹ thời gian rất nhỏ dành cho du lịch. Ví dụ: Ngày ngay, 2-3 ngày có thể du lịch được ở Châu Âu, nhưng ngày xưa đi ngựa hoặc đi tàu thủy để du lịch Châu Âu phải cần hai tháng đến cả năm. 1.3.4. Môi trường chính trị hoà bình ổn định. Môi trường chính trị của thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng đều ảnh hưởng rất lớn đến lượng khách du lịch bởi nó tác động trực tiếp vào mức độ an toàn của du khách. Là người đi du lịch không vị du khách nào muốn dấn thân vào nơi nguy hiểm Trang 5 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại phiền toái hay nhiều rủi ro. Đó là lí do tại sao du lịch ở vùng Trung Đông lại kém phát triển còn ở Châu Âu thì ngược lại. 1.3.5. Tài nguyên du lịch: Theo luật du lịch thì tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch... Tài nguyên du lịch gồm có * Tài nguyên thiên nhiên. Bao gồm địa hình, khí hậu, thực vật, động vật, tài nguyên nước, vị trí địa lí … cũng là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển du lịch bởi chúng là những yếu tố căn bản cấu thành nên tài nguyên du lịch. * Tài nguyên nhân văn. Bao gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể, các thành tựu chính trị, văn hóa… Chúng có sức lôi cuốn hấp dẫn đặc biệt đối với du khách vì vậy nó ảnh hưởng rất nhiều đến việc phát triển du lịch của mỗi vùng hay quốc gia đó. 1.3.6. Các yếu tố về cơ sở vật chất kĩ thuật hạ tầng xã hội. Cơ sở hạ tầng kĩ thuật của một đất nước không chỉ là đòn bẩy thúc đẩy mọi hoạt động kinh tế xã hội mà còn cả đối với ngành du lịch. Nó không chỉ quyết định tốc độ phát triển du lịch mà còn quyết định chất lượng du lịch. 1.3.7. Những yếu tố về điều kiện kinh tế. Phát triển kinh tế và phát triển du lịch có mối quan hệ mật thiết với nhau. Kinh tế phát triển là điều kiện để tăng cường đầu tư khai thác tài nguyên du lịch. Du lịch phát triển sẽ cung cấp vốn trở lại cho nền kinh tế, đồng thời cũng thúc đẩy đầu tư sản xuất kinh doanh. 1.3.8. Chính sách phát triển du lịch của mỗi quốc gia. Chính sách phát triển du lịch không chỉ vạch ra đường lối chiến lược, phương thức phát triển du lịch cho mỗi quốc gia mà còn ảnh hưởng đến quy mô đầu tư của quốc gia vào du lịch, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh doanh du lịch, ảnh hưởng đến sự thuận tiện và thoải mái, thái độ đối với du khách, ảnh hưởng tới quá trình xúc tiến du lịch … Trang 6 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại Chính sách về du lịch của các quốc gia thì khác nhau, một chính sách hợp lí sẽ tạo đà cho phát triển du lịch một cách mạnh mẽ. Ngoài các yếu tố trên thì còn rất nhiều các yếu tố chủ quan và khách quan khác nữa tác động một cách trực tiếp hay gián tiếp đến việc phát triển du lịch như các yếu tố về tổ chức các hoạt động du lịch và kinh doanh du lịch, các sự kiện quan trọng đang và sẽ diễn ra, mức độ hội nhập của quốc gia, các hoạt động xúc tiến du lịch … 1.4. Lịch sử hình thành và phát triển của du lịch. Du lịch đã có từ rất xa xưa và có thể được chia thành các thời kì như sau: 1.4.1. Thời kì cổ đại đến thế kỉ thứ IV. Thời kì này phương tiện đi lại rất thô sơ nên du lịch rất kém phát triển nhưng các hình thức của nó cũng khá phong phú như: du lịch chữa bệnh bằng nước khoáng của người Trung Quốc, Ấn Độ, du lịch nghỉ ngơi giải trí, du lịch công vụ, du lịch tôn giáo, du lịch văn hóa thể thao cũng đã xuất hiện ở Rome và Hy lạp. Ở thành Rome lúc này cũng đã xuất hiện người hướng dẫn đường đi. Đặc biệt là đến thế kỷ IV khi Thiên chúa giáo được tuyên truyền rộng rãi thì du lịch tôn giáo còn phát triển hơn nữa. 1.4.2. Thời kì phong kiến từ thế kỉ V đến thế kỉ XVII. Từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ XI do chiến tranh liên miên, đường xá hư hỏng, giáo điều cản trở mà du lịch trong giai đoạn này không phát triển được. Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVI là thời kỳ hưng thịnh của chế độ Phong Kiến, các đô thị Phong Kiến được hình thành, các ngành nghề thủ công và thương mại phát triển làm cho du lịch cũng phát triển và các hình thức của nó được phục hồi Thời kỳ cuối chế độ Phong Kiến từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII. Giai đoạn này phương thức sản xuất tư bản bắt đầu xuất hiện làm cho du lịch càng phát triển nhất là ở Anh, Pháp, Đức, Ý. Các hoạt động thu hút khách và các ấn phẩm phục vụ cho du lịch cũng bắt đầu xuất hiện. 1.4.3. Thời kì cận đại (Giữa thế kỉ XVII đến chiến tranh thế giới lần thứ I) Sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật trong đó có các cuộc cách mạng giao thông, sự ra đời của đầu máy hơi nước và các phương tiện đi lại làm cho phạm vi du lịch mở rộng, du khách dễ dàng đi đến các châu lục. 1.4.4. Thời kì hiện đại (Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ I đến nay.) Thời kì này kĩ thuật giao thông đã phát triển rất mạnh, việc du lịch bằng ô tô chiếm vị trí quan trọng, số du khách đi máy bay tăng nhanh, các hình thức du lịch mới lạ ra đời Trang 7 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại như du lịch thể thao mùa đông, du lịch nghỉ hè ở biển. Các nước có du lịch phát triển là: Pháp, Thụy Sĩ, Ý, Áo, Hy Lạp, Tây Ban Nha …Các cơ quan quản lí du lịch của Nhà nước ở các quốc gia đã bắt đầu được thành lập. Năm 1925 Liên đoàn thế giới về các tổ chức du lịch quốc gia được ra đời. Kể từ sau 1950 đã có những biến đổi quan trọng về bản chất và cơ cấu của du lịch quốc tế. Vào những năm 1980 thị trường du lịch được chia làm ba đó là du lịch ở các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, du lịch ở các nước Tư Bản Chủ Nghĩa, du lịch ở các nước đang phát triển. Ngày nay, cơ sở vật chất kĩ thuật của du lịch ngày càng phát triển, cạnh tranh trên thị trường du lịch ngày càng sâu sắc, mỗi quốc gia đều có hướng phát triển du lịch của riêng mình. 1.5. Xu thế phát triển của du lịch quốc tế hiện nay Ngày nay du lịch ngày nay trở thành một trong những ngành công nghiệp lớn nhất và năng động nhất của nền kinh tế thế giới. Tổ chức lao động thế giới (ILO) ngày 19/11 cho biết du lịch quốc tế sẽ phát triển mạnh trong thập kỷ tới, dự kiến sẽ tạo ra khoảng 296 triệu việc làm vào năm 2019. Báo cáo của ILO chuẩn bị cho Diễn đàn thảo luận toàn cầu về những diễn biến và thách thức trong lĩnh vực du lịch sẽ được tổ chức vào ngày 23-24/11 tại Geneva, Thuỵ Sỹ, cho biết công nghiệp lữ hành và du lịch đóng góp tới 9% GDP cho nền kinh tế thế giới và tạo ra 235 triệu việc làm trong năm 2010, chiếm 8% việc làm thế giới. Tổng giám đốc ILO Juan Somavia trả lời tại cuộc họp báo thường kỳ tại trụ sở Liên hợp quốc ở Geneva, cho biết du lịch có tiềm năng trở thành khu vực tạo việc làm lớn sau khủng hoảng và thành công phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng dịch vụ du lịch đi cùng với lực lượng lao động có tay nghề và năng động. Du lịch ngày nay trở thành một trong những ngành công nghiệp lớn nhất và năng động nhất của nền kinh tế thế giới. Theo báo cáo, du lịch thế giới bắt đầu suy giảm từ nửa cuối năm 2008 và 2009 sau nhiều năm liên tục phát triển. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã làm giảm tới 4% du lịch quốc tế năm 2009. Khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất là Châu Âu (-5,7%) ,Trung đông (-4,9%) và Mỹ (-4,6%). Tuy nhiên, việc làm trong lĩnh vực công nghiệp du lịch lại tăng 1% trong giai đoạn 2008-09. Công nghiệp du lịch bền vững còn có khả năng giải quyết những vấn đề mà hội nghị G20 tại Seoul vừa qua nêu ra trong đó có tạo việc làm, giảm nghèo, đào tạo dạy nghề và phát triển sinh thái. Trang 8 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại Chương 2: Tình hình du lịch quốc tế ở Việt Nam, thành tựu và triển vọng. 2.1. Vai trò của du lịch quốc tế đối với Việt Nam. Ở nước ta mặc dù du lịch chưa thực sự phát triển tương xứng với tiềm năng của nó nhưng du lịch cũng đã thể hiện được vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước, và được coi là ngành kinh tế mũi nhọn trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng sự nghiệp đổi mới của đất nước hơn 20 năm qua, ngành Du lịch đã có nhiều tiến bộ và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Những chỉ tiêu về khách, thu nhập, tỷ trọng GDP và việc làm đã khẳng định vai trò của ngành Du lịch trong nền kinh tế quốc dân. Không thể phủ nhận, ngành Du lịch đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, bảo vệ môi trường và giữ vững an ninh, quốc phòng. Hàng năm du lịch đóng góp khoảng 4%-5% vào GDP, cụ thể là năm năm 2005 doanh thu ngành du lịch đạt khoảng 32000 tỉ đồng, năm 2006 doanh thu đạt khoảng 36.000 tỉ đồng, đến 2010 sẽ đóng góp khoảng 6,5% GDP đạt khoảng 70 ngàn tỉ đồng,. Du lịch đã không ngừng làm thay đổi diện mạo đất nước từ thành thị đến nông thôn và đời sống cộng đồng dân cư, không ngừng thúc đẩy sản xuất, xuất khẩu, tăng cường thu hút đầu tư. Đồng thời góp phần bảo vệ và cải tạo môi trường cảnh quan và khôi phục phát huy giá trị văn hóa truyền thống, loại hình nghệ thuật, lễ hội, làng nghề. Du lịch còn có vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế và mở mang giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. 2.2. Tiềm năng của du lịch quốc tế tại Việt Nam. “Việt Nam vẻ đẹp tiềm ẩn” là tiêu đề của chương trình hành động quốc gia về lịch du lịch Việt Nam giai đoạn 2006-2010, tiêu đề ấy không chỉ nói đến vẻ đẹp quyến rũ dịu dàng, mộc mạc thân thiện của Việt Nam mà còn hàm ý về một nguồn tài nguyên du lịch vô cùng phong phú và đặc sắc đang chờ được khám phá được khai thác. Chính sự phong phú và đặc sắc về tài nguyên du lịch đã tạo cho Việt Nam một tiềm năng du lịch rất to lớn. Về tự nhiên: Khí hậu Việt Nam thì ôn hòa, đất đai thì phong phú với đủ cấu trúc địa hình : núi, đồng bằng, hải đảo, đầm lầy … hệ sinh thái thì đa dạng. Hệ sinh thái biển, sông hồ, hang động, đầm lầy … lại ở vị trí giao thông thuận tiện cả ba đường bộ, thuỷ và hàng không, bờ biển rộng, nhiều thắng cảnh đẹp: Vịnh Hạ Long, Sapa, Phong Nha Kẻ Bàng … Trang 9 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại Về tài nguyên du lịch nhân văn: Việt Nam với lịch sử hàng ngàn năm đã tạo dựng cho mình hơn 40.000 di tích lịch sử trong đó có nhiều quần thể được Nhà nước và UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới như : Phổ cổ Hội An, di tích Mĩ Sơn, kinh đô Huế… cùng nhiều lễ hội, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian đặc sắc của 54 dân tộc với những nét riêng rất tinh tế. Tất cả đã hoà quyện vào nhau tạo nên tiềm năng du lịch dồi dào cho Việt Nam, những tiềm năng ấy lại gắn liền với một dân tộc cần cù thông minh hiếu khách, một nền chính trị ổn định bền vững, một giai đoạn hội nhập sâu rộng của đất nước càng khiến những tiềm năng du lịch của nước ta càng thêm mạnh mẽ và to lớn, khẳng định được tương lai tốt đẹp hơn, tươi sáng hơn cho ngành du lịch nước nhà. 2.3. Thành tựu của du lịch Việt Nam trong những năm qua. Những năm qua du lịch Việt Nam không ngừng tăng trưởng mạnh bình quân mỗi năm đạt 10%-12% năm, mà cụ thể là năm 2004 doanh thu ngành du lịch đạt khoảng 30 ngàn tỉ đồng Việt Nam, năm 2005 là 32 ngàn tỉ đồng Việt Nam, năm 2006 là khoảng 36 ngàn tỉ đồng Việt Nam. Bên cạnh đó thì lượng khách du lịch quốc tế hàng năm cũng tăng ở mức cao từ 15%-25% mỗi năm. Bảng thống kê số lượt khách quốc tế đến VN mỗi năm Năm Lượt 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Khách 2,3 2,627 2,2 2,93 3,467 3,6 4,17 4,23 3,8 5,0 (Triệu) Đơn vị: Triệu lượt người Nguồn: www. vietnamtourism.gov.vn Ngoài việc lượng du khách tăng cao thì việc chi tiêu của một du khách theo thống kê cũng tăng lên và thời gian lưu lại trung bình của du khách là 10,6 ngày vào năm 2003 lên 16,8 ngày vào năm 2005 đồng thời tỉ lệ du khách qụay trở lại Việt Nam tăng từ 28% năm 2003 lên 34,7% năm 2005 (Nguồn www.gso.gov.vn) Toàn ngành du lịch Việt Nam hiện nay có khoảng 460 hãng lữ hành quốc tế và 10.000 hãng lữ hành nội địa, gần 2700 khách sạn được xếp hạng, gần 45000 hướng dẫn viên du lịch đủ khả năng tiếp đón 3-5 triệu khách du lịch/ năm. Ngành Du lịch đã có nhiều tiến bộ và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Lượng khách du lịch quốc tế và nội địa không ngừng tăng cao. Năm 1995 cả nước đón 1,35 triệu lượt khách quốc tế thì đến 2008 con số lên tới 4,23 triệu lượt (năm 2009 giảm xuống 3,8 triệu lượt do suy Trang 10 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại thoái kinh tế toàn cầu), tỷ lệ tăng trưởng bình quân trên 9,1%/năm. Năm 2010 đã đón lượt khách quốc tế thứ 5 triệu. Theo thống kê chi phí mua sắm của du khách quốc tế tới Việt Nam chiếm khoảng 20% tổng chi phí du lịch (Thái Lan là 50%), tỷ lệ khách quay trở lại Việt Nam lần hai, lần ba chỉ 15% (so với hơn 30% của các nước trong khu vực). Khách du lịch nội địa tăng trưởng đều trên 10,7%/năm từ 5,5 triệu lượt năm 1995 lên 25 triệu lượt 2009. Thu nhập du lịch tăng bình quân 16,8%/năm; năm 2009 đạt trên 69 ngàn tỷ đồng (tương đương 4,1 tỷ USD) và chiếm tỷ trọng khoảng 5,05% GDP (không tính thu nhập gián tiếp du lịch), năm 2010 doanh thu từ du lịch đạt hơn 70 ngàn tỉ đồng (trong khi đó doanh thu của Thái Lan tương đương 432.000 tỉ đồng, Singapore 11 triệu lượt quốc tế, doanh thu 189.000 tỉ đồng). Từ chỗ toàn ngành có 81.000 lao động năm 1995, đến nay ngành Du lịch đã tạo việc làm cho trên 434.240 lao động trực tiếp và trên 1 triệu lao động gián tiếp. Đầu tư của Nhà nước và khu vực tư nhân vào cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, hệ thống khu du lịch và sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống doanh nghiệp du lịch đã làm thay đổi căn bản diện mạo ngành Du lịch. Từ 2001-2010 chúng đã thu hút được 260 dự án đầu tư nước ngoài vào du lịch với tổng số vốn là 4,93 tỉ USD (www.vietnamopentour.com.vn) Đồng thời chúng ta cũng đã tiến hành xây dựng và cải tạo được rất nhiều khu du lịch, trung tâm giải trí, phát triển phong phú các hình thức du lịch như du lịch sinh thái, caravan (du lịch đường bộ bằng phương tiện tự lái) du lịch văn hóa, du lịch làng nghề, du lịch núi, du lịch biển, du lịch xuyên Á, du lịch miệt vườn… Chúng ta cũng đã thực hiện khá thành công các chương trình xúc tiến quảng bá cho du lịch Việt Nam như chương trình : Hội chợ triển lãm du lịch quốc tế ITE 2005, liên hoan văn hóa du lịch Việt Đức 2005, Hội nghị xúc tiến du lịch đường bộ ba nước Việt Nam – Thái Lan – Lào, chương trình những Ngày Việt Nam ở nước ngoài tổ chức hàng năm… Từ chỗ chưa có vị thế trên trường quốc tế ngành du lịch đã tự vươn lên chủ động trong hội nhập, đã thiết lập được mối quan hệ với trên 1000 hãng du lịch của 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, kí 29 hiệp định hợp tác du lịch song phương cấp chính phủ với các nước trong và ngoài khu vực, đã tham gia hiệu quả vào các diễn đàn hợp tác như : Tổ chức du lịch thế giới, hợp tác du lịch ASEAN, chương trình phát triển du lịch tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng … Còn hoạt động du lịch thì ngày càng sôi động trải rộng khắp tất cả các vùng miền địa phương, có bước phát triển vượt bậc và luôn giữa vững được an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với du lịch các Trang 11 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại nước trong khu vực, mang lại hiệu quả kinh tế nhiều mặt, mang lại ngoại tệ về cho đất nước. Thu hút nhiều lao động, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần tích cực vào tiến trình đổi mới, hội nhập của đất nước. Trước những khó khăn du lịch Việt Nam đã nhanh chóng vượt qua và liên tục tăng trưởng. Thực tiễn 46 năm đã có thể khẳng định du lịch nước ta đã trưởng thành đủ điều kiện để trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. 2.4. Những cơ hội và thách thức của hội nhập mang đến cho du lịch quốc tế Việt Nam. Với hai sự kiện quốc tế lớn vào năm 2006 đó là sự kiện Việt Nam tổ chức thành công hội nghị APEC 2006 và sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, sự kiện Việt Nam là ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an LHQ, sự kiện Việt Nam làm chủ tịch ASEAN… đã khẳng định những bước hội nhập sâu rộng, ngày càng mang đến những cơ hội để phát triển ở tất các lĩnh vực ngành nghề mà trước tiên phải kể đến du lịch quốc tế. Cơ hội * Cơ hội đầu tiên đó là sự mở rộng của thị trường khách du lịch quốc tế. Các sự kiện lớn ở trên đã tạo sự lôi cuốn và chú ý của du khách nước ngoài về một Việt Nam mới lạ hấp dẫn, cởi mở và an toàn, nhờ hội nhập chúng ta sẽ có nhiều đối tác hơn, nhiều bạn bè quốc tế hơn. * Cơ hội thứ hai đó là hội nhập đã mang đến cho Việt Nam một nguồn vốn đầu tư nước ngoài khá lớn đổ vào lĩnh vực du lịch để phát triển cơ sở hạ tầng, khai tác tài nguyên du lịch, cải tiến cơ sở vật chất kĩ thuật, nâng cao năng lực phục vụ khách hàng. * Cơ hội thứ ba mang đến cho du lịch Việt Nam đó là hội nhập đã tạo ra một môi trường cạnh tranh buộc các doanh nghiệp trong ngành phải tự hoàn thiện, tự vươn lên một cách chủ động sáng tạo. Đồng thời cũng tạo ra một môi trường tụ do thông thoáng và bình đẳng từ đó khuyến khích được các thành phần kinh tế, huy động được các nguồn lực vào việc phát triển du lịch. * Cơ hội thứ tư là nhờ hội nhập chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm, có thể dễ dàng tiếp cận và tiến hành chuyển giao, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới vào việc phát triển du lịch: VD: công nghệ thông tin, công nghệ du lịch… * Cơ hội thứ 5 là tình hình chính trị tiếp tục không ổn định tại Thái Lan, khủng bố tại Ấn Độ, Indonesia… khách sẽ có xu thế chuyển hướng vào Việt Nam nếu chúng ta có Trang 12 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại chính sách kích cầu hợp lý. Năm 2009 là năm chúng ta đăng cai hội chợ du lịch quốc tế ATF Hà Nội, đây là cơ hội tốt để quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam. Thách thức Hội nhập cũng có tính chất hai mặt của nó, cùng với những thuận lợi và có hội mang đến thì du lịch quốc tế Việt Nam cũng đang phải đứng trước những thách thức không nhỏ đó là : - Sự cạnh tranh trên mọi phương diện ngày càng tăng giữa các nước trong khu vực như: Thái Lan, Trung Quốc, Malaysia ….du lịch Việt Nam vẫn còn có một khoảng cách khá xa với các nước du lịch phát triển trong khu vực, bộc lộ rõ rệt ở các hạn chế về chất lượng dịch vụ; sản phẩm du lịch nghèo nàn, đơn điệu, sức cạnh tranh chưa được cải thiện; còn thiếu sự phối hợp trong điều hành, quản lý, kinh doanh lữ hành; quy hoạch; đầu tư cơ sở hạ tầng; đào tạo nhân lực và xúc tiến, quảng bá du lịch, cạnh tranh khiến các doanh nghiệp phải vươn lên và hoàn thiện thì đồng thời nó cũng sẽ đè bẹp nếu chúng ta cứ mãi chần chừ ỷ lại, cạnh tranh giúp ta mở rộng thị trường thì cũng có thể khiến chúng ta phải thu hẹp lại. Cùng với hàng loạt những thách thức khác nữa như thách thức về phát triển du lịch với việc giữ gìn môi trường tự nhiên xã hội, thách thức về việc phát triển du lịch với việc đảm bảo công bằng xã hội, thách thức về những biến động khôn lường của thiên tai, bệnh dịch, khủng bố, thách thức về việc thiếu vốn đầu tư, cơ sở vật chất và nhân lực để đáp ứng nhu cầu và quy mô của lượng khách quốc tế ngày một tăng nhanh chóng. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã làm ảnh hưởng đến “thị trường gốc” của ngành du lịch Việt Nam. Đó là thị trường Châu Âu. Trước đây, khi dịch Sars và cúm gà bùng phát, ngành du lịch Châu Á trong đó có Việt Nam cũng trải qua giai đoạn khủng hoảng. Tuy nhiên, dịch bệnh chỉ tập trung và tấn công thị trường Châu Á còn thị trường gốc vẫn không bị tổn thương, lượng khách nhanh chóng được phục hồi và thoát khỏi khủng hoảng. Thế nhưng đợt khủng hoảng lần này lại có tính toàn cầu và tác động đến hầu hết các Châu lục. Vì vậy, nó gây nên một tâm lý ngại, không muốn đi du lịch. Điều này, dẫn đến lượng khách ngày càng giảm. Bên cạnh đó, giá cả dịch vụ, giá tour của Việt Nam vẫn còn cao nếu so sánh với các nước trong khu vực. “Giá cả Việt Nam quá đắt đỏ!”, nên đây là một trong những lý do khiến du khách ngần ngại khi tìm đến Việt Nam. Trang 13 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại Ngoài ra, “Suy giảm kinh tế khiến mọi tầng lớp đều tập trung vào việc tháo gỡ khó khăn trong kinh doanh, hoặc tiết giảm chi phí tiêu dùng. Giá dịch vụ ở Việt nam kém cạnh tranh so các nước lân cận, chất lượng dịch vụ chưa hoàn thiện. Giá phòng khách sạn, giá vé máy bay, dịch vụ ăn uống cộng thêm một số chi phí phụ khác tăng cao kéo theo giá tour ở năm nay tăng từ 15 – 30% so với năm 2007. Giá tour đến Việt Nam tăng từ 15 – 30%, tức tăng gấp đôi giá tour đến các nước Thái Lan, Malaysia, Singapore, mà mức độ hấp dẫn vẫn còn ở tình trạng tiềm ẩn”.). Vì vậy, trước tình hình hiện nay, ngành du lịch cần một vị trọng tài đủ uy tín để “điều hòa” giá cả đạt mức hợp lý và có khả năng cạnh tranh, giúp các công cụ quảng bá “vẻ đẹp tiềm ẩn” hoạt động hiệu quả hơn. Cơ hội và thách thức là những yếu tố khách quan tác động vào sự phát triển của du lịch quốc tế ở Việt Nam nhưng người viết có thể khẳng định đó không phải là những yếu tố quyết định bởi hiệu quả của những tác động khách quan ấy lại hoàn toàn phụ thuộc vào những hành động chủ quan của con người. Tranh thủ cơ hội vượt qua khó khăn hạn chế thách thức đây chính là hành động, cái quyết định sự phát triển. 2.5. Những điểm mạnh yếu của du lịch quốc tế ở Việt Nam. 1. Điểm mạnh - Việt Nam có một tiềm năng du lịch to lớn rất nhiều cái chưa được khai thác hết. Việt Nam là một đất nước có nhiều tiềm năng du lịch với nhiều cảnh quan tự nhiên đẹp, phong phú và đa dạng khắp trên mọi miền đất nước, có sức hấp dẫn đối với du khách. Hơn nữa, Việt Nam đã từng trải qua các cuộc kháng chiến thần kỳ để lại cho lịch sử dân tộc những dấu ấn hào hùng có sức lôi cuốn du khách muốn tìm hiểu về lịch sử Việt Nam. Đặc biệt, dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu khách – đây là một trong những yếu tố gây hứng thú đối với du khách. - Có nền chính trị ổn định, an toàn, xã hội tốt, con người cần cù thông minh thân thiện và đông đúc. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm tới việc tạo môi trường đầu tư thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các thành phần kinh tế có thể tham gia đầu tư vào lĩnh vực du lịch, cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng trước pháp luật. Đảng và Nhà nước cũng đã và đang quan tới phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, trong đó đặc biệt là hạ tầng giao thông vận tải, thông tin, dịch vụ du lịch, nơi vui chơi giải trí, văn hóa… đây chính là sự quan tâm tạo những điều kiện cần thiết để phát triển du lịch. - Có chi phí du lịch và phí lao động thấp, giá hàng hoá thấp. Trang 14 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại - Được xem là điểm đến mới mẻ đối với khách quốc tế, được chú ý bởi những sự kiện WTO, tổ chức hội nghị APEC 2006, là nước có tốc độ phát triển kinh tế cao. - Có những hình thức du lịch rất độc đáo: du lịch làng nghề, du lịch miệt vườn, du lịch mùa nước nổi, du lịch văn hóa … Các hình thức du lịch của Việt Nam có xu hướng thân thiện với môi trường và có rất nhiều những vẻ đẹp nguyên sơ tự nhiên đang chờ khám phá. 2. Điểm yếu - Chất lượng dịch vụ du lịch còn thấp. - Thiếu các loại hình du lịch và sản phẩm du lịch thì chưa phong phú. - Đội ngũ lao động trong ngành du lịch còn yếu về kĩ năng, thiếu trình độ chuyên nghiệp, năng lực quản lí thấp, mù mờ luật quốc tế, hạn chế về ngoại ngữ - Công nghệ du lịch, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật du lịch còn rất yếu kém, ngành giao thông còn thiếu các đường bay trực tiếp tới các thị trường du lịch trọng điểm. - Thủ tục hành chính còn rườm rà chưa tạo được sự thuận lợi cho du khách. - Việc xúc tiến du lịch còn chưa sâu rộng chỉ mang tính chất giới thiệu là chủ yếu chưa tạo được yếu tố kích thích. Giá trị thương hiệu du lịch của nước ta còn thấp. - Năng lực cạnh tranh còn thấp, thực lực còn yếu dễ bị đánh gục khả năng và dễ bị tổn thương bởi các yếu tố rủi ro khó lường, khủng bố, khủng hoảng thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh … Bảng chỉ số năng lực cạnh tranh du lịch của một số nước Đông Nam Á Tên nước Giá cả Singapore 23,07 Malaysia 74,86 Thái Lan 83,12 Philippines 67,13 Việt Nam 84,75 Nguồn WTTC DL Cơ sở Môi nhân hạ tầng văn 77,45 82,80 62,90 13,81 na 92,27 na 49,93 49,08 36,92 Công Nguồn Mở Xã trường nghệ nhân cửa hội 1,72 62,85 44,06 61,11 45,56 lực 71,60 50,70 57,80 65,76 48,51 79,65 72,20 71,40 35,03 46,90 70,03 54,43 47,93 43,89 35,76 99,89 96,22 72,45 82,86 17,38 1,00 : cạnh tranh kém nhất 100,00 : cạnh tranh tốt nhất na : dữ liệu không có Trang 15 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại Nhìn vào bảng cho thấy chúng ta chỉ có lợi thế về giá cả trong cạnh tranh du lịch. Nhưng thực tế thì lợi thế này trong cạnh tranh cũng không phát huy được hết tác dụng của nó có lẽ bởi cái mà du khách mong muốn là chất lượng của hàng hóa dịch vụ hơn là mong muốn giá rẻ, họ sẵn sàng trả giá cao hơn nhiều để có chất lượng tốt, hơn là chất lượng thấp nhưng rẻ tiền. Còn cái yếu nhất của chúng ta là công nghệ, có lẽ hàng hóa dịch vụ của chúng ta rẻ là do hàm lượng khoa học kĩ thuật công nghệ trong sản phẩm quá ít và vì vậy mà tính cạnh tranh về giá của hàng hóa đã bị giảm đi rất nhiều. Số liệu trong bảng đã phần nào giải thích được sự yếu kém trong lĩnh vực du lịch của nước ta so với các nước bạn trong khu vực, bởi hầu hết những yếu tố cấu thành sức cạnh tranh của du lịch chúng ta đều kém hơn. Như vậy thì để có thể thu hút được nhiều du khách hơn chúng ta không còn cách nào khác là phải nỗ lực để thay đổi một cách toàn diện tất cả mọi mặt mà trong đó việc cải tiến công nghệ phải được đặt lên hàng đầu. 3. Thuận lợi - Trong thế kỉ 21 khoa học công nghệ kĩ thuật tiến bộ với những bước nhảy vọt cùng với xu thế toàn cầu hóa hoà bình hợp tác lan rộng là một điều kiện rất tốt chúng ta cần tranh thủ nắm bắt để phát triển nhanh. - Xu hướng du lịch quốc tế đang chuyển dần sang khu vực Đông Nam Á. - Đảng Nhà nước và nhân dân đang hết lòng quan tâm, chỉ đạo tạo điều kiện cho sự phát triển du lịch của đất nước. - Kinh tế của đất nước đang phát triển mạnh, kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội luôn được nâng cấp, cải tạo và xây dựng mới tạo điều kiện thuận lợi để khai thác mạnh tài nguyên du lịch. 4. Khó khăn - Du lịch Việt Nam còn quá non trẻ, điểm xuất phát còn quá thấp so với nhiều nước trong khu vực, hoạt động du lịch còn chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên. - Được Nhà nước đầu tư quá ít so với tiềm năng và so với đầu tư của các nước trong khu vực vào du lịch. (Trong năm 2006, nhà nước đã đầu tư khoảng 620 tỷ đồng cho du lịch, và trong 5 năm qua tổng cộng là 2.146 tỷ đồng) - Tài nguyên du lịch, môi trường đang trên đà suy giảm do khai thác thiếu hợp lí và thiên tai diễn ra càng nhiều. - Nhận thức xã hội về du lịch còn hạn chế - Vị trí của du lịch Việt Nam trên trường quốc tế còn quá nhỏ bé. Trang 16 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại - Ssự phát triển của cơ sở hạ tầng không đáp ứng kịp sự phát triển của du lịch. - Hệ thống chính sách còn thiếu đồng bộ cơ chế chưa thông thoáng khiến sự phát triển của ngành du lịch còn gặp nhiều vướng mắc. 2.6. Chủ trương, chính sách và quan điểm của Nhà nước về phát triển du lịch quốc tế ở Việt Nam. Đảng và Nhà nước đã xác định : Trong chỉ thị 46/CT-TW của ban bí thư TW Đảng khóa VII 10/1994 có viết “ Phát triển du lịch là một chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”. Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX cũng khẳng định: “Phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn …” và còn cụ thể hơn trong nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X “Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn và có các ngành dịch vụ du lịch. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch”. Từ Năm 1998 Chính phủ đã bắt đầu xây dựng hẳn một chương trình hành động quốc gia về về du lịch. Còn Chương trình Hành động quốc gia về du lịch giai đoạn 2006 - 2010 thì đã được Chính phủ phê duyệt từ tháng 5/2006, nhằm góp phần duy trì bước phát triển mạnh mẽ và bền vững cho Du lịch Việt Nam, khẳng định vai trò là một ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân; phấn đấu để đến năm 2010, Việt Nam trở thành quốc gia phát triển về du lịch trong khu vực, có cơ sở vật chất, kỹ thuật tương xứng, với nhiều sản phẩm du lịch độc đáo, mang bản sắc văn hóa Việt Nam; đưa Du lịch Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn của du lịch thế giới. Mục tiêu cụ thể của Chương trình: Đảm bảo cho sự tăng trưởng cao của ngành trong giai đoạn 2006 - 2010; lượng khách quốc tế tăng mỗi năm từ 10-20%, đạt 5,5 đến 6 triệu lượt vào năm 2010; khách nội địa tăng trung bình 15% - 20%/năm, đạt 25 triệu lượt vào năm 2010. Phấn đấu thu nhập du lịch năm 2010 đạt 4 - 5 tỷ USD. Nâng cao hình ảnh của Việt Nam nói chung và xác định vị trí xứng đáng của du lịch Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế trên cơ sở đẩy mạnh xúc tiến du lịch và nâng cao nhận thức xã hội về du lịch. Phấn đấu trong giai đoạn 2006-2010, du lịch Việt Nam sẽ được xếp trong nhóm quốc gia có ngành du lịch phát triển trong khu vực. Nhiệm vụ cụ thể của Chương trình: - Phát triển đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch. Trang 17 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại - Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch, nâng cao uy tín thương hiệu quốc gia, tạo hình ảnh về điểm đến Việt Nam an toàn, hấp dẫn hàng đầu khu vực. - Khai thác trên cơ sở quy hoạch phát triển du lịch bền vững, bảo tồn, tôn tạo và phát triển các di sản văn hoá, thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại các điểm du lịch. - Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, phát triển khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ du lịch. - Nâng cao hiệu lực công tác quản lý Nhà nước về du lịch và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch. Nguyên tắc và chính sách phát triển du lịch của Nhà nước được thể hiện rõ trong Luật du lịch Việt Nam có hiệu lực từ 01-01-2006 với các nội dung sau. Nguyên tắc phát triển du lịch 1. Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hoà giữa kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hoá - lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch. 2. Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. 3. Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh, an toàn cho khách du lịch, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch. 4. Bảo đảm sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trong phát triển du lịch. 5. Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. 6. Phát triển đồng thời du lịch trong nước và du lịch quốc tế, tăng cường thu hút ngày càng nhiều khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam. Chính sách phát triển du lịch 1. Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển du lịch để bảo đảm du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. 2. Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực sau đây: Trang 18 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại a) Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch; b) Tuyên truyền, quảng bá du lịch; c) Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch; d) Nghiên cứu, đầu tư, xây dựng sản phẩm du lịch mới; đ) Hiện đại hoá hoạt động du lịch; e) Xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, nhập khẩu phương tiện cao cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch hạng cao và khu du lịch quốc gia; g) Phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm sử dụng lao động, hàng hoá và dịch vụ tại chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xoá đói, giảm nghèo. 3. Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác quy hoạch; hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch; hỗ trợ công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch. 4. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch. 5. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư tham gia hoạt động du lịch, mở rộng giao lưu hợp tác giữa du lịch Việt Nam với du lịch khu vực và quốc tế. 6. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện hình thành quỹ hỗ trợ phát triển du lịch từ nguồn đóng góp của các chủ thể hưởng lợi từ hoạt động du lịch, nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài. Qua tìm hiểu chúng ta thấy Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề phát triển du lịch, luôn luôn tạo những điều kiện tốt nhất để du lịch phát triển một cách nhanh chóng và bền vững. 2.7.Triển vọng của du lịch quốc tế ở nước ta: Mục tiêu và triển vọng trong phát triển trong Chiến lược du lịch đến 2020, tầm nhìn 2030 thể hiện kỳ vọng phấn đấu của toàn ngành Du lịch. Đến năm 2020 đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, có đẳng cấp trong khu vực; ngành du lịch thực sự trở thành Trang 19 Tiểu luận Kinh Tế Đối Ngoại ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, hiện đại, có chất lượng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh, mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam và thân thiện môi trường. Đến năm 2020 đón 7-8 triệu lượt khách quốc tế; 32-35 triệu lượt khách nội địa; thu nhập trực tiếp du lịch đạt 10-11 tỷ USD, đóng góp 5,5-6% GDP, tạo ra 2,2 triệu việc làm trong đó 620.000 việc làm trực tiếp; đến năm 2020 phấn đấu đón 11-12 triệu lượt khách quốc tế; 45-48 triệu lượt khách nội địa; thu nhập trực tiếp du lịch đạt 18-19 tỷ USD, đóng góp 6,5-7% GDP, tạo ra 3 triệu việc làm, trong đó 870.000 việc làm trực tiếp. 3. Một vài giải pháp góp phần nâng cao hơn nữa hoạt động du lịch quốc tế ở VN. Mặc dù được xác định là có tốc độ tăng trưởng cao, thu hút được nhiều khách đóng góp lớn vào nền kinh tế nước nhà nhưng khi chúng ta nhìn sang ngành du lịch của các nước trong khu vực thì rõ ràng phải thừa nhận rằng du lịch nước ta vẫn còn quá yếu kém. Năm 2006 vừa qua chúng ta thu hút được khoảng 3,6 triệu khách, thu nhập khoảng 36.000 tỷ đồng tương đương với khoảng 2,25 tỉ USD trong khi đó Thái Lan bên cạnh đón hơn 13 triệu khách quốc tế, Singapore hơn 7 triệu khách, Malaysia hơn 11 triệu khách, thu nhập mỗi nước từ du lịch lên đến hàng chục tỉ đôla. Trong khi tiềm năng du lịch của chúng ta thì không hề thua bất kì quốc gia nào trong khu vực. Qua đó cho thấy chúng ta cần phải nỗ lực hơn nữa, không lúc nào như lúc này chúng ta cần những giải pháp toàn diện và hiệu quả nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch, thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững chính vì vậy mà thông qua bài nghiên cứu này người viết muốn đưa ra vài giải pháp như sau: 3.1. Giải pháp từ phía Nhà nước: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật chuyên ngành du lịch, tổ chức tốt việc thực hiện Pháp lệnh Du lịch, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết để xây dựng Luật Du lịch, tạo môi trường pháp lý cho việc quản lý hoạt động du lịch, thu hút mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển du lịch phù hợp với tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế của cả nước. Đồng thời đẩy mạnh cải cách hành chính đơn giản hóa các thủ tục liên quan đến khách du lịch và doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Tăng cường vai trò quản lí của Nhà nước cần tập trung tiến hành quy hoạch một cách tổng thế các vùng du lịch, từ đó huy động mạnh các nguồn lực nhằm phát triển những sản phẩm du lịch có lợi thế tuyệt đối. Đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng tại các địa bàn trọng điểm du lịch, các khu du lịch quốc gia, các điểm du lịch có tiềm năng phát triển du lịch ở miền núi, vùng sâu, Trang 20
- Xem thêm -