Tiểu luận-tìm hiểu suy giảm miễn dịch do hiv

  • Số trang: 41 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 125 |
  • Lượt tải: 0
quangtran

Đã đăng 3720 tài liệu

Mô tả:

Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan MỤC LỤC SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 1 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan Trang 2 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan DANH MỤC HÌNH ẢNH SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 3 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan MỞ ĐẦU SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 4 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan Chương 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ HIV 1.1. HIV/AIDS 1.1.1. Khái niệm về AIDS - AIDS do 4 chữ đầu của tên bệnh bằng tiếng Pháp (Syndrom d'Immuno Déficience Acquise) có nghĩa là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải. Tiếng Anh gọi là AIDS (Acquired - Immuno - Deficiency - Syndrome). o Hội chứng: Tập hợp nhiều triệu chứng và dấu hiệu bệnh. o Suy giảm miễn dịch: Suy giảm chức năng bảo vệ cơ thể chống lại sự tấn công của các mầm bệnh (vi trùng, virus, vi nấm...) o Mắc phải: Không phải do di truyền mà do bị lây lan từ bên ngoài - Thực chất của AIDS là một căn bệnh nhiễm trùng do vi rú HIV gây ra. Virus HIV phá hủy các tế bào của hệ thống miễn dịch, khiến cơ thể không còn khả năng chống lại các virus, vi khuẩn và các nấm gây ra. - Thuật ngữ AIDS được dùng để chỉ giai đoạn muộn hơn của bệnh. Như vậy thuật ngữ HIV/AIDS được dùng để chỉ những giai đoạn khác nhau của cùng một bệnh 1.1.2. Sự hình thành và phát triển bệnh AIDS - Nhiễm HIV không phải là thành AIDS ngay mà nó diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định, có thể lên đến hàng chục năm và trong khoảng thời gian này, người nhiễm HIV hoàn toàn khỏe mạnh, họ vẫn sống, lao động và học tập bình thường, nhưng họ lại có thể làm lây truyền bệnh từ người này sang người khác vì HIV đang tồn tại và “sinh sôi nảy nở” trong cơ thể họ. - Quá trình từ nhiễm HIV thành AIDS dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như sức đề kháng của người nhiễm, lối sống và sinh hoạt của họ sau khi nhiễm bệnh, sự chăm sóc của gia đình, người thân, mức độ kỳ thị phân biệt đối xử của xã hội... - Theo các nhà nghiên cứu thì quá trình phát triển từ nhiễm HIV thành AIDS có thể trải qua một số giai đoạn và sự phân chia giai đoạn này có thể khác nhau trong các tài liệu khác nhau, nhưng nhìn chung có thể chia làm 03 giai đoạn chính như sau: * Giai đoạn 1: Là nhiễm HIV cấp (hay còn gọi thời kỳ cửa sổ - thời kỳ chuyển đổi huyết thanh). Người nhiễm HIV hầu như không có biểu hiện gì hoặc chỉ có ít những triệu chứng thông thường giống như cảm cúm, nhưng sau đó các triệu chứng này qua đi một cách tự nhiên, nên ngay bản thân người nhiễm cũng không “để ý” tới. Giai đoạn này thường kéo dài từ 2 tuần đến 3 tháng, đôi khi tới 6 tháng. SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 5 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan Vào đầu giai đoạn này cơ thể chưa kịp sinh ra kháng thể chống lại HIV (gọi tắt là kháng thể HIV) hoặc lượng kháng thể HIV còn ít nên các xét nghiệm thông thường (tìm kháng thể) không phát hiện được và kết quả trả lời là "âm tính". Do vậy các nhà chuyên môn còn gọi giai đoạn này là “thời kỳ cửa sổ”. Đây là giai đoạn “nguy hiểm”, bởi không phát hiện được người nhiễm HIV qua các xét nghiệm máu thông thường (tìm kháng thể), mặc dù họ thật sự đã bị nhiễm HIV và họ hoàn toàn có thể "vô tình" truyền bệnh cho người khác mà không hề biết. * Giai đoạn 2: Là Nhiễm HIV không có triệu chứng, có thể kéo dài nhiều năm, trung bình là từ 8-10 năm và có thể lâu hơn. Trong giai đoạn này, sức chống đỡ của cơ thể còn mạnh nên số lượng HIV trong máu còn thấp. Người mang HIV hầu như không có triệu chứng gì thể hiện ra bên ngoài và hoàn toàn khỏe mạnh như người không nhiễm HIV, do vậy họ vẫn sống, làm việc, học tập và sinh hoạt bình thường, tuy nhiên họ có thể làm lây truyền HIV sang người khác. * Giai đoạn 3: Là AIDS, đây chính là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV trong cơ thể, với một số biểu hiện triệu chứng bệnh ra bên ngoài. Giai đoạn này thường kéo dài từ 6 tháng đến 2 năm nếu không được điều trị bằng thuốc kháng virus thì kết thúc bằng tử vong. Như vậy chúng ta cần phân biệt rõ sự khác nhau giữa nhiễm HIV và AIDS: - Nhiễm HIV là khi người ta có mang HIV trong cơ thể nhưng vẫn hoàn toàn khỏe mạnh và không có bất kỳ một triệu chứng bệnh nào liên quan đến HIV. Người nhiễm HIV chưa phải là người ốm, chưa phải là bệnh nhân, họ vẫn sống, lao động, học tập và sinh hoạt như mọi người bình thường khác. - Bệnh AIDS là giai đoạn cuối cùng của nhiễm HIV. Người nhiễm lúc này có các biểu hiện lâm sàng nặng của nhiều loại bệnh do suy giảm miễn dịch liên quan đến HIV. Người nhiễm HIV ở giai đoạn AIDS là người bệnh, họ cần được chăm sóc và điều trị thích hợp như mọi người bệnh khác. Người bị nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS có một vài đặc điểm chung, nhưng về cơ bản là khác nhau. Ta có thể phân biệt người bị nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS dựa trên các đặc điểm dưới đây: SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 6 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan Bảng 1.1 So sánh đặc điểm của người nhiễm HIV và người bị AIDS Đặc điểm so sánh Có virus trong máu, tinh Người bị nhiễm HIV Có Người bị AIDS Có các dịch thể khác? Có khả năng lây bệnh cho Có Có người khác không? Nếu xét nghiệm máu Có khả năng kết quả Chắc chắn có kết quả âm tính: khoảng 2 – 3 HIV dương tính ngay dịch, dịch âm đạo và tháng đầu (giai đoạn cửa sổ).Hết giai đoạn cửa sổ, xét nghiệm lại kết quả Nhìn bề ngoài dương tính Hầu như không có biểu Có biểu hiện của các hiện gì, trông khoẻ mạnh nhiễm khuẩn cơ hội như: như người bình thường. sốt kéo dài, sút cân trên 10% trọng lượng cơ thể trong vòng 1 tháng, ỉa chảy hoặc ho kéo dài, lao Diễn biến Nhiều tháng đến nhiều phổi, ung thư... Trong thời gian ngắn. năm Thường từ 1-2 năm nếu không được điều trị bằng ARV * Những dấu hiệu cho biết một người nhiễm HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS - Do bị HIV làm suy yếu hệ thống miễn dịch nên người nhiễm HIV có thể mắc nhiều chứng bệnh khác nhau nên ở họ có thể có rất nhiều các biểu hiện (triệu chứng) bệnh khác nhau. - Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng, nhiễm HIV được coi như đã chuyển sang giai đoạn AIDS khi ở người nhiễm xuất hiện ít nhất 02 triệu chứng chính cộng 01 triệu chứng phụ sau: Nhóm triệu chứng chính: - Sụt cân trên 10% trọng lượng cơ thể. SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 7 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan - Tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng. - Sốt kéo dài trên 1 tháng. Nhóm triệu chứng phụ: - Ho dai dẳng trên một tháng. - Nhiễm nấm Candida ở hầu họng. - Ban đỏ, ngứa da toàn thân. - Herpes ( Nổi mụn rộp ), Zona ( Giời leo ) tái phát. - Nổi hạch ở nhiều nơi trên cơ thể ... 1.1.3. Tình hình bệnh AIDS ở Việt Nam và Thế Giới + Năm 1981 phát hiện tại Mỹ, sau đó lan rộng khắp thế giới. Hiện nay, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, đã có 14 triệu người mắc bệnh HIV, 2 triệu rưỡi người bị AIDS và con số này sẽ được nhân lên gấp 3 vào cuối thập niêm này. + Riêng ở Việt Nam các bệnh đầu tiên phát hiện cuối năm 1990, càng về sau phát hiện càng nhiều. Trong đó, đối tượng tiêm chích ma túy chiếm 90% số cas mắc bệnh, thứ đến là mãi dâm, bệnh hoa liễu ... Tuổi nhỏ nhất mắc bệnh là 14 tuổi, cao nhất mắc bệnh là 64 tuổi. Vì con số luôn biến động nên chỉ nêu ra đây con số mắc vào tháng 7.1992 là 76 người thì đến tháng 7.1993 (sau 1 năm) đã là 600 người ở nhiều tỉnh thành trong cả nước. Và đến đầu năm 1994 con số nhiễm HIV đã hơn 1.000 người. + Riêng Lâm Đồng đến đầu năm 1994, đã có 16 trường hợp nhiễm HIV ở những người có nguy cơ nhiễm HIV cao (xì ke, ma túy, gái mãi dâm) bao gồm 3 địa bàn Đà Lạt, Đức Trọng và Bảo Lộc. Nếu chúng ta không tích cực phòng chống thì nguy cơ lây lan căn bệnh này tại địa phương rất lớn. 1.2. Virut HIV - HIV là chữ viết tắt của virus gây AIDS bằng tiếng Anh Human-ImmunoDeficiency-Virus, có nghĩa là virus làm suy giảm miễn dịch ở người, ta quen gọi là virus AIDS. - Nguồn gốc của nó hiện nay vẫn chưa xác định một cách dõ ràng. Chỉ biết rằng có 2 loại Virus là HIV1 và HIV2. Cả hai đều gây bệnh cho người. - Trong khi HIV1 là loại phổ biến nhất của sự căng thẳng, ảnh hưởng đến các quần thể trên tất cả các nơi trên thế giới tức là HIV2 ngày càng trở thành một mối đe dọa tương tự. SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 8 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan - Mặc dù cả hai HIV1 và HIV2 rất nhiều tương tự, theo như phương thức truyền dẫn, cũng như các triệu chứng có liên quan, có một vài sự khác biệt lớn. Sau đây là một số sự khác biệt lớn giữa hai chủng: + Sự khác biệt lớn đầu tiên giữa hai chủng nằm trong số các trường hợp được báo cáo mỗi căng thẳng. Trong khi HIV1 là dòng phổ biến nhất và được tìm thấy trong phần lớn các trường hợp nhiễm HIV, HIV2 là sự căng thẳng ít phổ biến hơn và không tìm thấy rất thường xuyên. + Một sự khác biệt lớn giữa HIV1 và HIV2 là liên quan đến các khu vực có tỷ lệ nhiễm. Trong khi HIV1 có thể được tìm thấy trên tất cả các nơi trên thế giới, HIV2 ít phổ biến hơn là tập trung chủ yếu đến các khu vực Tây Phi. HIV2 thường được tìm thấy chủ yếu ở các nước như Senegal, Nigeria, cũng như Bờ Biển Ngà. Ngoài ra, nó cũng đã lây lan sang các nước như Pháp và Bồ Đào Nha, như là một kết quả của mối quan hệ kinh tế với các quốc gia này. + Ngoài ra, HIV2 đã được tìm thấy để được làm chậm trong tiến trình và đã được tìm thấy để làm suy yếu hệ thống miễn dịch với một tốc độ chậm hơn nhiều, so với chủng HIV1. Nó cũng được cho biết rằng, HIV2 là ít lây nhiễm trong giai đoạn trước đó và cũng được cho là ít dễ dàng lây truyền. + Tuy nhiên, trong giai đoạn sau này nó là HIV2 mà không thiệt hại nhiều hơn. Nó đã được tìm thấy là nhiễm trùng ở các giai đoạn sau, gây ra một số bệnh trong một khoảng thời gian rất ngắn. + Người bị nhiễm HIV2 sống lâu hơn người bị nhiễm HIV 1 và khả năng lây truyền của HIV 2 từ mẹ sang con là rất hiếm. - Mặc dù có thể có một vài sự khác biệt giữa hai HIV1 và HIV2 cả hai chủng đều nguy hiểm. Vì vậy, cả hai cần tránh ở bất cứ giá nào. Các chế độ dự phòng giống nhau trong cả hai trường hợp. Vì vậy, không phân biệt trong đó căng thẳng nào, tốt nhất không để cho HIV dưới bất kỳ hình thức nào ảnh hưởng đến bạn. 1.2.1. Nguồn gốc của virut HIV + Virus HIV, trước đây được giới khoa học cho là được lây truyền từ loài khỉ sang con người vào những năm 1930, nhưng nó chỉ được chính thức thừa nhận sự tồn tại vào năm 1981, bởi các nhà khoa học Mỹ. + Tuy nhiên, thực tế nó đã xuất hiện ở người cách đây khoảng 100 năm. Đó là kết luận của các nhà nghiên cứu trường đại học Arizona (Mỹ). SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 9 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan + Qua phân tích các mẫu tế bào được bảo quản từ năm 1959 bởi các bác sĩ ở nước CHDC Congo từ thời kỳ thuộc địa của Bỉ, dòng virus làm suy giảm hệ miễn dịch người (HIV) đã bắt đầu lây lan từ người sang người trong khoảng thời gian từ năm 1884 đến 1924, trước khi bùng nổ dịch AIDS. AIDS căn bệnh do virus HIV phá hủy các tế bào miễn dịch gây ra, lần đầu tiên được cộng đồng biết đến vào năm 1981, khi các bác sĩ Mỹ chú ý đến những trường hợp tử vong bất thường của một nhóm người đồng tính ở California và New York. Từ đó đến nay, căn bệnh này đã giết chết ít nhất 25 triệu người, và 33 triệu người khác đang mang virus HIV. + Ban đầu, virus HIV lây lan rất chậm thông qua đường tình dục, nhưng chúng có điều kiện và môi trường sống rất thuận lợi, nhờ vào quá trình đô thị hóa trong suốt thời kỳ thuộc địa. Dựa vào sự gia tăng các nhà nước thuộc địa và trung tâm thương mại như Kinshasa (nay là thủ đô nước CHDC Congo), cũng góp phần đưa khu vực Trung-Tây Phi trở thành nơi phát sinh đại dịch HIV/AIDS. + Kinshasa được thành lập vào năm 1881, Brazzaville (nay là thủ đô nước CH Congo) thành lập năm 1883, Yaounde (Cameroon) năm 1890, và Bangui (CH Trung Phi) năm 1899. Tất cả các thành phố trên đều ra đời trước hoặc trong khoảng thời gian mà dòng virus HIV-1 bắt đầu xâm nhập vào con người. Những thành phố này phát triển rất chậm, cho đến năm 1910, không có thành phố nào đạt dân số trên 10.000 người. + Theo giả thuyết, có một con tinh tinh bị nhiễm virus đã cắn vào người, sau đó nó bị bắt và bán để giết thịt. Từ đó, virus HIV đi vào máu người thông qua những vết đứt trên tay trong quá trình làm thịt con vật. Khi những thành phố này phát triển mạnh, kéo theo sự nở rộ của nạn mại dâm, đã tạo điều kiện cho virus có cơ hội lây lan nhanh chóng. 1.2.2. Đặc điểm của Virus HIV 1.2.2.1. Cấu tạo của Virus HIV Cấu tạo của virus HIV gồm: Hạt virus là một khối cầu, bờ ngoài gồ ghề có vỏ bên ngoài, trong là chất nền protein bao quanh lõi có mặt cắt dạng nón. Trong lõi có genome gồm 2 sợi RNA giống nhau gắn với enzyme DNA polymerase là reverse transcriptase. Trong quá trình nhiễm, virus HIV bám và nhiễm lõi của nó vào tế bào hệ thống miễn dịch của người. Tiếp theo chúng sử dụng enzyme reverse transcriptase để sao RNA genome của chúng thành phân tử DNA sợi kép trong bào chất của tế bào chủ. Phân tử xoắn kép này chuyển đến nhân, gắn vào nhiễm sắc thể tế bào chủ nhờ một enzyme khác. Một khi đã gắn vào nhiễm sắc thể của tế bào chủ, genome của virus có thể thực hiện một SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 10 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan trong 2 quá trình. Nó có thể trưng dụng bộ máy tổng hợp protein của tế bào chủ để có thể tạo ra hàng trăm hạt virus mới sinh sản bằng nảy chồi, tách khỏi màng tế bào và đôi khi làm chết tế bào chủ. Nó cũng có thể tiềm tàng trong nhiễm sắc thể của tế bào chủ, rồi sao chép và truyền genome virus sang 2 tế bào mới khi tế bào phân chia. Ngoài ra sinh học hiện đại còn phát hiện ra hai dạng sống đặc biệt là các viroid và prion Phần vỏ Áo protein Glucoprotein Phần lõi ARN Enzym phiên mã ngược Hình 1.1. Sơ đồ cấu tạo của virus HIV 1.2.2.2. Đặc điểm lý hóa của Virus HIV - Vỏ của HIV được cấu tạo bởi lớp lipid kép. Chính lớp vỏ kép này giúp cho HIV giữ được sức bền của bề mặt để có thể tồn tại lâu hơn khi khi nó ở ngoài cơ thể. Nhờ đó HIV có thể tồn tại ngoài môi trường từ vài ngày đến một tuần, nhất là khi nó nằm trong các mẫu máu dính trong các bơm kim tiêm đã sử dụng. - HIV có thể tồn tại ở trong xác chết bệnh nhân AIDS trong vòng 24 giờ. - Nhiệt độ dưới 0oC, tia X, tia cực tím không giết được HIV. - Tuy nhiên, khi ở ngoài cơ thể, dưới tác động của nhiệt độ và các chất sát trùng thông thường HIV lại bị tiêu diệt. Ví dụ: + HIV bị tiêu diệt sau 30 phút ngâm trong cồn 70 độ, dung dịch Cloramin 1%, nước Javen 1%... Do vậy, nếu ta ngâm dụng cụ tiêm, chích trong cồn 70 độ hoặc quần áo, đồ vải có dính máu nhiễm HIV vào dung dịch Cloramin 1%, nước Javel 1% trong 30 phút... là có thể tiêu diệt được HIV. SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 11 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan + Nếu bị đun sôi trong 20 phút (kể từ khi nước sôi) thì HIV sẽ bị chết. Do vậy, nếu chúng ta luộc các dụng cụ phẫu thuật, tiêm, chích... (bằng thuỷ tinh hay kim loại) 20 phút kể từ khi nước sôi trước mỗi khi sử dụng thì đã có thể diệt được HIV... Các đặc điểm lý hóa trên của HIV chính là cơ sở khoa học để chúng ta xác định các biện pháp xử lý và dự phòng được sự lây nhiễm HIV, như xử lý các dụng cụ, đò vải... có dính máu và dịch sinh học của người nhiễm HIV cũng như xác định các biện pháp xử lý khi bị phơi nhiễm HIV. 1.3. Vòng đời của virus HIV + Dưới đây là một số bước trong vòng đời của virus HIV - Virus luân chuyển tự do trong cơ thể. - HIV tấn công vào một tế bào. - HIV làm rỗng tế bào (lây nhiễm tế bào). - Sử dụng enzyme phiên mã ngược biến đổi mã gen của virus HIV là RNA thành DNA. - Enzyme integrase đã giúp cho DNA của virus HIV được hình thành trong DNA của tế bào bị nhiễm - Khi tế bào bị nhiễm tái sinh, nó kích hoạt DNA của virus HIV, cái mà làm nguyên liệu thô cho những virus HIV mới - Các gói nguyên liệu cho việc hình thành các tế bào mới xuất hiện. - Các virus non chui ra khỏi tế bào nhiễm trong một quá trình gọi là quá trình sinh sôi. - Các virus chưa trưởng thành ngăn cản sự hoạt động của tế bào bị nhiễm. - Đối với một viurs trưởng thành: các nguyên liệu thô được cắt bởi enzyme protease và được tổng hợp thành 1 virus đầy đủ chức năng. + Để cho virus tái sinh, chúng phải lây nhiễm vào một tế bào. Để tạo ra những virus mới chúng phải tấn công vào một tế bào và sử dụng nó để tạo ra những virus mới. Giống như là cơ thể của ta liên tục tạo ra những tế bào da mới hoặc những tế bào máu mới, mỗi một tếbào thường tạo ra những protein mới đểsống và tự nó tái sinh. những con virus giấu DNA của chúng trong DNA của tế bào và sau đó khi tế bào cố gắng tạo ra các protein mới thì nó cũng SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 12 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan ngẫu nhiên tạo ra các con virus mới và như vậy HIV hầu như lây nhiễm vào các tế bào trong hệ miễn dịch. + Sự lây nhiễm: Một số loại tế bào khác nhau có các protein trên bề mặt của nó, nó gọi là các cơ quan nhân cảm CD4. Virus HIV tìm kiếm các tế bào có các cơ quan nhận cảm bề mặt CD4, bởi vì protein đặc biệt này có khả năng làm cho virus kết hợp với tế bào. Mặc dù HIV lây nhiễm một loạt các tế bào, nhưng mục tiêu chính của nó vẫn là tế bào lympho T4 (còn được gọi là tế bào trợ giúp T), một loại tế bào bạch cầu có nhiều cơ quan nhận cảm CD4. Tế bào T4 có trách nhiệm cảnh báo cho hệ miễn dịch của bạn rằng đang có kẻ xâm lược trong cơ thể + Sự tái tạo: Mỗi khi virus HIV kết hợp được với một tế bào, nó giấu DNA của nó vào bên trong DNA của tế bào, điều này biến tế bào vô tình trở thành một nhà máy sản xuất HIV + Định nghĩa: Dưới đây có vài điều mà bạn cần biết để hiểu về sự lây nhiễm HIV - DNA: giống như là “bản thiết kế” để hình thành nên những tế bào sống. - Enzyme: giống như những công nhân của một tế bào. Chúng hình thành những protein mới, vận chuyển nguyên liệu xung quanh tế bào và thực hiện các chức năng tế bào quan trọng khác - RNA: giống như chủ nhân của kiến trúc. Các tế bào sử dụng RNA để nói với các enzyme làm thế nào để xây dựng 1 phần đặc biệt của 1 tế bào. để tạo ra 1 protein mới, enzyme sẽ sao chép 1 phần đặc biệt của DNA vào 1 mảnh cua RNA. RNA này sau đó được 1 enzyme khác sử dụng để hình thành 1 protein hoặc 1 enzyme mới. - Protein: là 1 khối nguyên liệu có sẵn được sử dụng để tạo ra những thứ sống - Nhân: là 1 gói nhỏ nằm bên trong tế bào nơi lưu giữ nguyên liệu gen Chương 2. SUY GIẢM MIỄN DỊCH DO HIV 2.1. Cơ chế xâm nhập vào tế bào vật chủ của virut HIV + Gồm các bước sau: 1. Virus xâm nhiễm vào tế bào 2. Phiên mã RNA của virus thành DNA sợi đơn nhờ enzyme phiên mã ngược SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 13 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan 3. Quá trình tổng hợp DNA sợi đôi từ DNA sợi đơn 4. Sự gắn DNA retrovirus vào genome tế bào chủ 5. Sự phiên mã DNA retrovirus tạo thành mRNA virus và RNA genome virus 6. Tổng hợp vỏ protein virus 7. Lắp ráp RNA genome virus vào vỏ protein 8. Sự nẩy chồi của virus, giải phóng virus khỏi tế bào Hình 2.1. Chu trình sinh sản của virus HIV + Bước 1: Gắn kết (xâm nhiễm) - Một virus bao gồm 1 vỏ bọc protein, chất béo, đường ở bên ngoài bao phủ một bộ gen (trong trường hợp của HIV, thông tin gen được mang theo là RNA thay vì là DNA) và những enzyme đặc biệt HIV có các protein trên vỏ bọc, nó cuốn hút mạnh mẽ cơ quan nhận cảm bề mặt CD4+ ở bên ngoài tế bào T4. Khi HIV kết hợp với 1 cơ quan nhận cảm SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 14 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan bề mặt CD4+, nó kích hoạt các protein khác trên bề mặt của tế bào, cho phép vỏ bọc HIV làm ngừng hoạt động ở bên ngoài của tế bào. Hình 2.2. Virus HIV gắn kết vào tế bào + Bước 2: Sao chép ngược - Các gen của virus HIV đưa vào 2 sợi của RNA, trong khi nguyên liệu gen của tế bào người đươc tìm thấy ở trong AND. để virus có thể lây nhiễm vào tế bào, 1 quá trình được gọi là”sao chép ngược” tạo ra 1 phiên bản DNA của RNA của virus Sau quá trình kết hợp, nhân của virus được đưa vào trong tế bào chủ. Một enzyme virus gọi là sao chép ngược tạo ra 1 phiên bản DNA của RNA. DNA mới này được gọi là DNA tiềm virus Hình 2.3. Virus HIV tiến hành sao chép ngược + Bước 3: Sự hoà nhập DNA của virus sau đó được đưa vào trong nhân của tế bào, đó là nơi cất giữ DNA của tế bào. Sau dó 1 enzyme virus khác được gọi là men tổng hợp “integrase” dấu DNA tiềm virus vào trong DNA của tế bào. Sau đó khi tế bào cố gắng tạo ra các protein mới thì nó ngẫu nhiên tạo ra các con virus HIV mới SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 15 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan Hình 2.4. Virus HIV hòa nhập vào tế bào vật chủ + Bước 4: Sự sao chép - Mỗi khi nguyên liệu gen của virus được đặt vào bên trong nhân của tế bào, nó điều khiển tế bào sản xuất ra virus HIV mới. - Những sợi DNA đã nhiễm virus trong nhân riêng và các enzyme đặc biệt tạo ra 1 sợi nguyên liệu gen bổ sung được gọi là sứ giả RNA hay mRNA (chỉ thị để tạo ra virus mới) Hình 2.5. Virus HIV tiến hành sao chép SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 16 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan + Bước 5: Sự biến đổi mRNA đưa chỉ thị tạo ra các protein nhiễm mới từ nhân tế bào tới 1 loại phân xưởng trong tế bào. mỗi một phần của mRNA tương ứng với 1 khối protein có sẵn để tạo ra 1 phần của virus khi mỗi một sợi mRNA được xử lý thì 1 chuỗi các protein tương ứng cũng được tạo ra. Quá trình này tiếp tục cho đến khi sợi mRNA bị biến đổi hoặc “chuyển” tới các protein bị nhiễm mới cần để tạo ra những virus mới. Hình 2.6. Sự biến đổi mARN + Bước 6: Tổ hợp virus và trưởng thành. - Bước cuối cùng bắt đầu với sự tổ hợp của virus mới. Các chuỗi dài protein được cắt bởi 1 enzyme virus được gọi là protease thành các protein nhỏ hơn. Các protein này phục vụ 1 loạt các chức năng, 1 số trở thành các nguyên tố cấu trúc của virus mới, trong khi các số khác trở thành các enzyme, giống như là enzyme sao chép ngược mỗi khi các mảnh nhỏ virus mới được tổ hợp lại, chúng chui ra khỏi tế bào chủ và tạo ra 1 virus mới. Sau đó virus bước vào giai đoạn trưởng thành, nó lien quan đến chu trình của các protein virus. trưởng thành là bước cuối cùng trong chu trình và là lúc virus trở thành có thể lây nhiễm Với sự tổ hợp thành công và trưởng thành, virus có khả năng lây nhiễm cho 1 tế bào mới. Và mỗi 1 tế bào nhiễm mới có thể sản sinh ra nhiều virus mới. SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 17 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan Hình 2.7. Tổ hợp virus và trưởng thành 2.3. Nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm miễn dịch - Hệ miễn dịch của con người với thành phần chủ lực là bạch cầu, là lực lượng bảo vệ cơ thể chống lại sự tấn công của các loại tác nhân gây bệnh xâm nhập từ bên ngoài hoặc mầm bệnh ung thư phát sinh từ một số tế bào trong cơ thể. - Người ta có thể ví bạch cầu như những người lính luôn đi “tuần tra” khắp cơ thể để phát hiện và chiến đấu chống lại các mầm bệnh xâm nhập từ bên ngoài hoặc phát sinh từ bên trong cơ thể. - Trong đội ngũ bạch cầu, có một loại đặc biệt gọi là lympho bào T có điểm thụ cảm CD4 (gọi tắt là tế bào CD4), đóng vai trò như một “Tổng chỉ huy”, có nhiệm vụ điều phối, huy động hay “rút lui” toàn bộ hệ thống miễn dịch của cơ thể. - Sau khi xâm nhập cơ thể, HIV tấn công ngay vào các bạch cầu, nhất là lympho bào T-CD4. HIV sử dụng chính chất liệu di truyền của các tế bào bạch cầu này để nhân lên, để sinh sôi nảy nở. Như vậy, bạch cầu không những không bao vây, tiêu diệt được HIV, mà còn bị HIV biến thành “kẻ tòng phạm” và cuối cùng bị HIV phá huỷ. - HIV phá huỷ bạch cầu ngày càng nhiều, dẫn đến hệ miễn dịch của cơ thể bị suy giảm dần, cuối cùng là bị “vô hiệu hóa” và điều đó có nghĩa là cơ thể con người không còn được bảo vệ nữa. Lúc đó, mọi mầm bệnh khác như vi trùng, siêu vi trùng nhân cơ hội gây bệnh (nhiễm trùng cơ hội) và cả tế bào ung thư “mặc sức hoành hành” gây nên nhiều bệnh nguy hiểm... và dẫn đến tử vong. - Ngoài ra, sau khi xâm nhập cơ thể HIV còn có thể trực tiếp phá hoại tế bào thần kinh đệm khiến người bệnh lú lẫn, mất trí... hoặc xâm nhập vào các cơ quan thần kinh, dạ SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 18 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan dày, ruột, da... gây nên một số bệnh cho các cơ quan này, làm cho bệnh cảnh của AIDS vì thế mà trở nên hết sức đa dạng và phức tạp, khó chẩn đoán. 2.3.1. Hoạt động của virus HIV - HIV tấn công lympho làm mất khả năng miễn dịch của hệ miễn dịch do đó người bệnh không có khả năng tiêu diệt virus. Đó là nguyên nhân phát sinh nhiều bệnh nhiễm virus cơ hội - Sau khi xâm nhập vào tế bào mang cụm biệt hóa CD4, HIV liên tục nhân lên tạo ra hàng loạt virus mới. Sự thiếu hụt miễn dịch mắc phải về nguyên tắc do sự giảm các lympho CD4, tuy nhiên về cơ chế cho đến nay vẫn chưa được hiểu biết một cách rõ ràng. Dưới đây là một số giả thuyết về sự hoạt động của HIV 2.3.2. Giết trực tiếp tế bào - Sau khi HIV tấn công vào tế bào T-CD4 sẽ sinh sôi nảy nở và phá hủy màng tế bào và gây ra hiện tượng giết tế bào - HIV cũng có thể phá vỡ bộ máy bên trong của tế bào và gây chết tế bào - Khi gắn vào tế bào T-CD4, cũng kích thích hoạt hóa T-CD8 gây độc và giết những tế bào nhiễm, do vậy sẽ giảm tế bào lympho T 2.3.3.Gắn với thụ thể CD4 - HIV không làm biến dạng tế bào lympho T4 nhưng lại ức chế sinh sản tế bào lympho. Chúng làm rối loạn tế bào bằng cách gắn thành phần gp120 của HIV lên các thụ thể của tế bào lympho T4 làm cho tế bào T giảm chức năng miễn dịch - Khi bị nhiễm HIV các siêu kháng nguyên tương tác và gắn vào T-CD 4 và CD4 bị cảm ứng thành không đáp ứng miễn dịch, cuối cùng là dẫn đến cái chết của tế bào T - Hệ lympho bị nhiễm HIV suy sụp cả về số lượng lẫn chất lượng. Ở người bình thường có khoảng 450-1280 lymphoT/ µ l máu thì bệnh nhân AIDS chỉ có 200 lymphoT 2.3.4. Sự tương tác của HIV với phân từ CD4 - Khi HIV xâm nhập vào tế bào, thành phần gp120 của phức hợp glucoprotein của virus có ái lực với bề mặt của tế bào CD4. Theo cách đó, glucoprotein này kéo virus vào tế bào T-CD4, tế bào tua, đại thực bào và tất cả những tế bào biểu hiện thụ thể CD 4 cũng có thể liên kết với HIV nhưng thấp hơn đối với tế bào lymphoT-CD4 SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 19 Tìm hiểu suy giảm miễn dịch do HIV GVBM:ThS. Nguyễn Thị Lan - Trước khi dung hợp, gp120 của virus phải gắn với một co-receptor trên màng của tế bào chủ. Có một vài phần tử khác hoạt động như co-receptor cho HIV đi vào, hầu hết trong số chúng là các thụ thể chemokine. Trong đó chemokine quan trọng tương tác với HIV là CCR5, biểu hiện ở tế bào tua, đại thực bào và tế bào T-CD 4 và CXR4 biểu hiện trên các tế bào T đã được hoạt hóa 2.4. Điều kiện thích hợp cho virus HIV phát triển - Virus HIV cũng như bao nhiêu loại virus khác đều phải cần 1 môi trường sống thích hợp. - Đặc điểm của virus HIV thì môi trường thích hợp nhất với chúng tất nhiên là máu ( nhưng lưu ý là chỉ có trong máu người ). - Tất nhiên trong các môi trường khác thì cũng tồn tại được nhưng chỉ trong 1 thời gian nhất định. Môi trường sống của HIV : + Trong 1 cơ thể sống của người có HIV tồn tại thì sau khi người đó qua đời, virus HIV cũng sẽ chỉ tồn tại trong xác của người đó trong vòng 24h và cũng qua đời theo. + Virus HIV nếu tồn tại trong không khí với nhiệt độ từ 32 - 36 độ thì tồn tại không quá ... 5 phút ( còn tùy thuộc theo số lượng virus nữa ) + Tất nhiên với nhiệt độ trên nhưng nếu tồn tại trong 1 giọt máu ( rơi trên đường hoặc trong kim tiêm ) thì : * Trên đường : 24h - 48h. Trừ trường hợp tia nắng mặt trời mà rọi trực tiếp trong 30 phút thì virus không chịu nổi chết sớm. Còn trong chỗ tối, khe ẩm ướt thì có thể được 48h 1 tuần. * Trong kim tiêm : 48h - 7 ngày ( tùy trường hợp ). Vì trong kim tiêm giọt máu được lưu trữ tốt hơn, và kim tiêm sau khi được sử dụng (đang nói về những người nghiện chích ma túy) thì thường hay được giấu vào khe tối hoặc bụi rậm nơi không khí ẩm ướt nên có cơ hội tồn tại lâu hơn, chính vì điều này lời khuyên cho mọi người là không nên đi vào các bụi cỏ, bụi rậm cũng như để trẻ em chạy nhảy trong đó. + Virus HIV không tồn tại lâu được trong môi trường nước. * Thường môi trường nước HIV trú ẩn là ao, sông, suối , hồ hoặc phổ biến nhất là trong trong các vũng nước thì lượng virus HIV sống trong đấy rất ít, không đủ khả năng lây nhiễm (thậm chí là máu người có HIV rơi vào trong đó, nhưng cũng tùy vào lượng máu nhiều hay ít). SVTH: Nhóm 7 _ Lớp 11SHLT Trang 20
- Xem thêm -