Tiểu luận thị trường tài chính giao dịch quyền chọn trên thị trường ngoại hối

  • Số trang: 17 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH KHOA SAU ĐẠI HỌC Đề tài nhóm: Môn học THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN TRÊN THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG DỜN Học viên thực hiện: (Nhóm 09) 1. 2. 3. 4. 5. 6. Lê Thị Vân Anh Lê Thị Hồng Minh Ngô Thị Thùy Trang Đinh Thị Trang Phạm Thị Cẩm Tú Lê Thụy Tứ Lớp: Cao học Ngân Hàng Đêm 2 Khóa: 16 Tp Hồ Chí Minh 12/2007 1 A. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN 1. Các khái niệm về Option Giao dịch quyền chọn (Options) là giao dịch mua bán ngoại tệ có kỳ hạn, theo đó người mua có quyền, chứ không phải nghĩa vụ, mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ cụ thể với một mức giá thực hiện đã được ấn định tại thời điểm giao dịch trong một thời hạn cụ thể trong tương lai sau khi đã trả một khoản phí (gọi là premium) cho người bán Option ngay lúc ký hợp đồng. Tỷ giá thực hiện (Exercise Price): Là tỷ giá thỏa thuận theo đó Bên mua của giao dịch quyền chọn sẽ có quyền thực hiện giao dịch tại mức tỷ giá đó trong thời hạn giao dịch hoặc vào ngày đến hạn trong tương lai của giao dịch quyền chọn Phí quyền chọn (Option premium): Là số tiền mà Bên mua trong giao dịch quyền chọn phải trả cho Bên bán để có được quyền chọn của mình trong giao dịch quyền chọn. Phí option phụ thuộc vào nhiều nhân tố: tỷ giá giao ngay (Spot rate), tỷ giá thỏa thuận trên hợp đồng (Strike), thời hạn thỏa thuận (maturity), tỷ giá kỳ hạn (Forward rate), lãi suất, tỷ giá dự đoán,... Thời điểm chấm dứt hợp đồng quyền lựa chọn:  Với quyền lựa chọn kiểu Mỹ: Là thời điểm (trong thời hạn hết hiệu lực của hợp đồng quyền lựa chọn) hợp đồng Option được thực hiện theo yêu cầu của người mua quyền, hoặc khi hợp đồng Option hết hạn.  Với quyền lựa chọn kiểu Châu Âu: khi hợp đồng Option hết hạn. Các trạng thái quyền chọn: Một quyền chọn được thực hiện và đem lại lợi nhuận (chưa trừ phí quyền chọn) với tỷ giá hiện hành được gọi là cao giá ITM (in the money). Ngược lại, một quyền chọn được thực hiện và bị lỗ với giá hiện hành gọi là giảm giá O TM (out of the 2 money). Trong khi đó, một quyền chọn được thực hiện mà giá thực hiện bằng với tỷ giá giao ngay được gọi là ngang giá ATM (at the money). 2. Đặc điểm Người mua quyền chọn không bị ràng buộc bởi hợp đồng quyền chọn. Họ có thể thực hiện hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã ký. Quyền chọn chỉ dành cho 1 phía đó là khách hàng. Còn ngân hàng là nhà kinh doanh tiền tệ bắt buộc phải thực hiện hợp đồng, bù lại ngân hàng được thu phí quyền chọn khi hợp đồng được ký kết. 3. Phân loại quyền chọn 3.1 Phân loại theo đối tác mua quyền chọn.  Quyền chọn mua (Call option): Đây là quyền chọn cho phép khách hàng được quyền mua ngoại tệ theo các điều khoản của hợp đồng hoặc huỷ bỏ hợp đồng (không mua) nếu điều đó là có lợi cho mình. Nếu tỷ giá thực tế > tỷ giá hợp đồng: Thực hiện quyền chọn mua. 3 Nếu tỷ giá thực tế < tỷ giá hợp đồng: Bỏ quyển chọn mua và mua ngoại tệ theo tỷ giá thực tế sẽ có lợi hơn. Lợi nhuận (% USD) + 2.00 “At the money” Tỷ giá thực hiện “O ut of the money” “In the m oney” + 1.00 0 Không giới hạn lợi nhuận 15480 15520 15560 Giới hạn mức lỗ - 1.00 15600 15640 Tỷ giá giao ngay (VND/USD) Điểm hoà vốn - 2.00 Loss BẢNG 1: CƠ CẤU LỢI NHUẬN/ RỦI RO KHI MUA QUYỀN CHỌN MUA  Quyển chọn bán (Put option): Đây là quyền chọn cho phép khách hàng được quyền bán ngoại tệ theo các điều khoản của hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng (không bán) nếu điều đó là có lợi cho mình. Nếu tỷ giá thực tế > tỷ giá hợp đồng: thực hiện quyền chọn bán. Nếu tỷ giá thực tế < tỷ giá hợp đồng: bỏ quyển chọn bán và bán ngoại tệ theo tỷ giá thực tế sẽ có lợi hơn. 4 BẢNG “At the money” Tỷ giá thực hiện Lợi nhuận (% EUR) + 2.0 + 1.0 0 “In the m oney” Tỷ giá giao ngay (VND/USD) Lợi nhuận đến 19400 19200 19300 1: CẤU LỢI NHUẬN/ RỦI RO KHI MUA “O ut of the m oney” QU YỀN 19400 19500 19600 Giới hạn mức lỗ - 1.0 CƠ Điểm hoà vốn Tỷ giá giao ngay (VND/EUR) CHỌN BÁN - 2.0 Mục đích sử dụng. Mua quyền chọn mua: Khách hàng có nhu cầu thanh toán ngoại tệ (chẳng hạn như thanh toán hàng nhập khẩu, trả nợ vay bằng ngoại tệ, thanh toán học phí v.v…) có thể có nhu cầu mua ‘Quyền chọn mua’ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá tăng lên vào thời điểm thanh toán ngoại tệ trong tương lai. Mua quyền chọn bán: Khách hàng có nguồn thu bằng ngoại tệ (chẳng hạn như nhận thanh toán xuất khẩu, nhận tiền kiều hối, chuyển tiền v.v…) có thể có nhu cầu mua ‘Quyền chọn bán’ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá giảm xuống vào thời điểm nhận ngoại tệ trong tương lai. 3.2 Phân loại theo tính chất quyền chọn.  Quyền chọn theo kiểu Châu Âu (European option style) chỉ cho phép người mua quyền chọn (khách hàng) thực hiện hợp đồng vào ngày đáo hạn của hợp đồng. 5  Quyền chọn kiểu Mỹ (American option style) cho phép người mua quyền chọn (khách hảng) thực hiện hợp đồng vào bất kỳ một ngày nào trong thời hạn của hợp đồng quyền chọn. Với 2 kiểu quyền chọn trên (Quyền chọn theo kiểu Châu Âu; Quyền chọn kiểu M ỹ), người mua quyền sẽ căn cứ vào mục tiêu ưu tiên của mình để lựa chọn kiểu quyền nào cho phù hợp. Chẳng hạn, nếu muốn ưu tiên cho mục tiêu phòng ngừa rủi ro tỷ giá, người ta sẽ mua hợp đồng quyền lựa chọn kiểu châu Âu. Ngược lại, nếu muốn tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động đầu cơ, người ta lại mua hợp đồng quyền lựa chọn kiểu Mỹ. 4. Tiện ích của Option. - Nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu không còn lo ngại về biến động tỷ giá nữa vì họ có quyền ấn định trước mức tỷ giá thực hiện theo tính toán và kỳ vọng của mình. - Chỉ bỏ ra một khoản phí hữu hạn nhưng được ký hợp đồng có giá trị lớn hơn. - Loại hình kinh doanh, đầu tư sinh lợi hiệu quả dựa trên những phán đoán về xu hướng tỷ giá. - Cho phép khách hàng lựa chọn phương án giao dịch ngoại tệ tối ưu, đảm bảo nhu cầu ngoại tệ trước mắt và trong tương lai cho khách hàng một cách chắc chắn. - Công cụ phòng ngừa rủi ro hối đoán vừa là công cụ kinh doanh ngoại tệ linh hoạt có hiệu quả, với rủi ro hạn chế - Chi phí biết trước, thích hợp nhất trong việc phòng tránh rủi ro cho các nhà đầu tư. 6 B. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ NÀY Ở VIỆT NAM 1. Cơ sở phát triển nghiệp vụ quyền chọn tiền tệ tại Việt Nam a. Cơ sở pháp lý Tháng 2/1999 Chính phủ công bố quyết định 64/1999/QĐ-NH NN 7 công bố chế độ tỷ giá hối đoái của Việt Nam là thả nổi có quản lý đã mở ra một cột móc quan trọng cho chế độ tỷ giá ở Việt Nam xóa bỏ phương thức quản lý tỷ giá mang nặng tính hành chính, chủ quan trước đây. Tỷ giá giữa VND và USD từ đó cũng trở nên linh hoạt hơn, được hình thành dựa trên tỷ giá bình quân liên ngân hàng trong các ngày giao dịch gần nhất và dao động trong biên độ theo quy định của nhà nứơc. Tuy nhiên để thích ứng với diễn biến thị trường ngoại hối và mở rộng tự do hoá tài chính khi hội nhập, biên độ dao động này cũng thay đổi ngày càng linh hoạt từ mức 0,1% đã tăng lên ngày  0,25% (1/7/2002 ), +/0.5% (1/1/2007) và hiện nay là 0.75%. Tuy nhiên ở Việt Nam, nghiệp vụ Quyền chọn tiền tệ chỉ được chính thức đưa vào vận hành trên thị trường ngoại hối Việt Nam kể từ khi Thống đốc NH NN ban hành Quyết định 1452/2004/QĐ-NHN N ngày 10/11/2004 về các giao dịch hối đoái nhằm tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho các giao dịch ngoại tệ, trong đó đặc biệt bổ sung thêm loại hình giao dịch mới là giao dịch Quyền lựa chọn tiền tệ giữa các loại ngoại tệ với nhau. b. Diễn biến thị trường Đvt: Triệu USD Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 Xuất khẩu 14482.7 15029.2 16706.1 20149.3 26485.0 32447.1 Nhập khẩu 15636.5 16218.0 19745.6 25255.8 31968.8 36761.1 Hiện nay các đối tác xuất nhập khẩu hàng hóa với Việt Nam thường thuộc 3 khu vực chính: Mỹ, Châu Âu và Châu Á (tiêu biểu là Nhật Bản). Như vậy, các loại ngoại tệ chủ yếu được sử dụng trong thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam là đồng Dollar M ỹ (USD); đồng tiền chung Châu Âu (EUR) và đồng Yên Nhật (JPY). Về cơ cấu, 7 có trên 80% kim ngạch xuất nhập khẩu được thực hiện qua đồng USD; khoảng 20% bằng các ngoại tệ khác: EUR, JPY, SGD, CHF, AUD … và trong số 20% này thì có tới 90% là đồng EUR. Qua số liệu ta thấy doanh thu ngoại tệ từ hoạt động xuất nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu của các doanh nghiệp trong nước cũng ngày càng tăng, đánh dấu sự lớn mạnh của các doanh nghiệp Việt Nam trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên giá trị thu nhập và chi phí của một doanh nghiệp xuất nhập khẩu , hiện đã và đang chịu ảnh hưởng nhiều của biến động tỷ giá nhất là trong điều kiện tỷ giá ngày một linh hoạt không cứng nhắc hay dao động trong biên độ nhỏ như trước đây nữa. Với mục tiêu phấn đấu tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt khoảng 20%; và chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chế biến, chế tạo cho thấy cần có nhiều hơn nữa các công cụ bảo hiểm rủi ro cho những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Ngoài ra với quá trình tự do hoá tài chính đang diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp cá nhân ở Việt Nam ngày càng tăng nhất là mảng đầu tư kinh doanh ngoại tệ- một nghiệp vụ vốn đã rất phát triển trên thị trường ngoại hối thế giới. Như vậy, sự phát triển của thị trường ngoại hối trong thời gian vừa qua cùng những chuyển biến tích cực trong chính sách điều hành NH NN , sự phát triển của nền kinh tế là cơ sở cho sự ra đời của nghiệp vụ quyền lựa chọn tiền tệ ở Việt Nam bởi đây là một sản phẩm phái sinh mà nền tảng của nó phải được xây dựng trên cơ chế tự do lãi suất và tự do tỷ giá.Có thể nói cùng với các nghiệp vụ hối đoái khác, đã và đang được giao dịch trên thị trường hối đoái Việt Nam, như giao dịch hối đoái trao ngay (SPOT), giao dịch hối đoái kỳ hạn (FORWARD), giao dịch hoán đổi ngoại tệ (SWAP); việc đưa vào áp dụng sản phẩm quyền lựa chọn tiền tệ (CURRENCY OPTION) là một biểu hiện của quá trình, đa dạng hoá các sản phẩm, trên thị trường hối đoái. Trên cơ sở đó, góp phần hoàn thiện và phát triển thị trường hối đoái Việt Nam; từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập, trên lĩnh vực thị trường tài chính – tiền tệ nói riêng, với các nước trong khu vực và trên thế giới. 2. Q uá trình triển khai thực hiện hoạt động quyền chọn tiền tệ 8 2.1 Q uyền chọn ngoại tệ Để có thể đưa vào áp dụng nghiệp vụ Quyền chọn ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) cũng đã thí điển nghiệp vụ này tại một số ngân hàng cụ thể. Tuy nhiên trong giai đoạn này chỉ là thí điểm Option giữa ngoại tệ với ngoại tệ, thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tổng doanh số mua bán ngoại tệ qua các ngân hàng năm 2003 đạt khoảng 36 tỷ USD, trong đó hoạt động ngoại tệ giao ngay chiếm tới 95% tổng số giao dịch. Tình hình thí điểm cụ thể như sau: * Ngân bàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) là ngân hàng đầu tiên được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) chấp nhận đề nghị thực hiện thí điểm nghiệp vụ quyền lựa chọn (option) trong kinh doanh ngoại hối (12/02/2003) Để có thế thí điểm nghiệp vụ này, ngân hàng nhà nước quy định nghiệp vụ này được áp dụng với các ngân hàng đã được phép kinh doanh ngoại hối, vốn tự có ít nhất 200 tỷ đồng Việt Nam; kinh doanh ngoại tệ có lãi trong năm gần nhất; doanh số mua bán ngoại tệ/VND năm 2002 tối thiểu 1 tỷ USD; có đề án chi tiết và qui định của ngân hàng về quy trình nghiệp vụ option trong đó gồm các biện pháp phòng ngừa rủi ro. Eximbank sẽ là ngân hàng đầu tiên thí điểm nghiệp vụ này. Riêng việc áp dụng thí điểm tại Eximbank phải có quy định về quy trình thực hiện, trong đó bao gồm các biện pháp phòng ngừa rủi ro. Quá trình giao dịch chỉ dùng ngoại tệ tự do chuyển đổi, không được giao dịch bằng VND . Giới hạn số dư cao nhất là 500.000 USD hoặc ngoại tệ khác có giá trị tương đương, chỉ thực hiện với các doanh nghiệp đóng tại Việt Nam. Trường hợp thanh toán ngoại tệ cho nước ngoài, doanh nghiệp phải xuất trình cho ngân hàng chứng từ theo các quy định quản lý ngoại hối hiện hành. Thời hạn của giao dịch từ 7 ngày đến tối đa 3 tháng. Thời gian thí điểm là 6 tháng kể từ ngày 12/2/2003. * Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam là ngân hàng thứ 2 được triển khai nghiệp vụ option ngoại tệ * Citibank là ngân hàng đầu tiên trong số hơn 20 ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam vừa được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ Quyền lựa chọn vào 09/07/2003 9 * Ngày 01/08/2003 Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NHNN&PTNT) là ngân hàng thứ 3 tại Việt Nam được thực hiện nghiệp vụ Option NHN N&PTNT cũng chỉ được thực hiện nghiệp vụ này với các D N Việt Nam và các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã được SBV cho phép thí điểm thực hiện Option. Nếu thanh toán ngoại tệ cho DN nước ngoài, DN tại Việt Nam phải xuất trình cho ngân hàng chứng từ theo các quy định quản lý ngoại hối hiện hành. Thời hạn cho một giao dịch từ 7 ngày đến tối đa 3 tháng. * Ngày 23/09/2003 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận cho Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCB) được thí điểm thực hiện nghiệp vụ quyền lựa chọn trong 2 lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ và lãi suất (hiện các ngân hàng đang chỉ thực hiện lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ). Điểm đáng chú ý là giới hạn tổng lượng ngoại tệ không có giao dịch đối ứng được quy định cho VCB trong việc thực hiện nghiệp vụ quyền lựa chọn được tăng gấp đôi so với các ngân hàng trước đó, và tối đa bằng 1 triệu đôla M ỹ. * Đến nay đã có thêm NH TM CP Quốc tế, NH TM cổ phần Á Châu, NHTMCP Kỹ thương, NH TMCP Quân đội, HSBC chi nhánh TP.HCM được thực hiện nghiệp vụ quyền chọn ngoại tệ (Option ngoại tệ). Hiện nay Option ngoại tệ được thực hiện với các ngoại tệ mạnh có khối lượng giao dịch lớn như USD, EUR, GBP, JPY, AUD, CHF 2.2 Q uyền chọn tiền đồng Nghiệp vụ Quyền chọn tiền đồng hiện nay chỉ dừng lại ở thí điểm triển khai và chưa có quy định chính thức của ngân hàng nhà nước về nghiệp vụ này Đầu năm 2005 NHN N đã bắt đầu cho phép thực hiện thí điểm option tiền đồng ở 5 NH lớn là BIDV, ACB, Tecombank, Vietcombank và VIB Bank. Tuy nhiên dịch vụ opiton tiền đồng có đặc thù là không có vế đối ứng (ngân hàng không thể tái bảo hiểm sản phẩm của mình ở một đơn vị thứ 3, vì vậy rủi ro đối với bên bán là rất lớn). Điều này khiến các NH phải tự tính toán cân đối thu nhập, chi phí và tự bảo hiểm bằng đồng tiền nào cho phù 10 hợp. Khảo sát mới đây của Vietcombank cho biết, đến nay 3 dịch vụ này cũng chỉ tập trung chủ yếu phục vụ các DN kinh doanh XN K và phần lớn làcác DN có vốn ĐTNN. 2.3 Nghiệp vụ tiền gửi kết hợp quyền chọn tiền tệ- Dual currency Deposit: Nghiệp vụ này có thể được mô tả như sau: + Khách hàng và TCTD thoả thuận với nhau về một giao dịch tiền gửi thông thường kèm theo một hợp đồng quyền chọn, theo đó đến ngày đáo hạn, nếu tỷ giá đồng tiền thấp hơn (hoặc cao hơn) tỷ giá thoả thuận ban đầu thì người gửi tiền sẽ nhận được tiền gốc và tiền lãi bằng đồng tiền đã gửi ban đầu; nếu tỷ giá lớn hơn (hoặc thấp hơn) mức tỷ giá thoả thuận ban đầu thì người gửi tiền sẽ nhận tiền gốc và tiền lãi bằng đồng tiền khác theo tỷ giá và loại đồng tiền do khách hàng và TCTD thoả thuận ban đầu. + Có kỳ hạn cố định và thường là ngắn hạn; + Lãi suất của loại tiền gửi này có thể cao hơn lãi suất tiền gửi thông thường cùng kỳ hạn và gắn với quyền chọn tiền tệ có thể p hát sinh rủi ro Thống đốc NHNN đã chấp thuận cho phép Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) được thực hiện nghiệp vụ tiền gửi kết hợp quyền chọn tiền tệ (Dual Currency Deposit) đối với khách hàng. Đây là Ngân hàng thương mại thứ hai sau Deutsche Bank chi nhánh TP HCM được Thống đốc NHN N cho phép triển khai thực hiện nghiệp vụ mới này vào hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Theo Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng này đã đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép triển khai thực hiện nghiệp vụ tiền gửi kết hợp quyền chọn tiền tệ trên cơ sở nhận được đề nghị của một số khách hàng, trong đó có Công ty tài chính Công nghiệp Tàu thuỷ, mong muốn được thực hiện nghiệp vụ này để đa dạng hoá các hình thức đầu tư trong quá trình sử dụng nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi, tạo ra cơ hội gia tăng lãi suất tiền gửi đồng USD, đồng thời có khả năng đáp ứng nhu cầu chi trả ngoại tệ khác trong tương lai ở mức tỷ giá hợp lý. Theo văn bản chấp thuận của Thống đốc NHN N, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam được thực hiện nghiệp vụ tiền gửi kết hợp quyền chọn tiền tệ với khách hàng nếu hai đồng tiền tham gia giao dịch là ngoại tệ hoặc đồng tiền gửi ban đầu là 11 ngoại tệ, đồng tiền còn lại là tiền Việt Nam. Trong trường hợp đồng tiền Việt Nam là tiền gửi ban đầu và đồng tiền còn lại là ngoại tệ thì Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam thực hiện nghiệp vụ tiền gửi kết hợp quyền chọn tiền tệ với điều kiện khách hàng phải chứng minh mục đích sử dụng ngoại tệ như một giao dịch mua ngoại tệ được quy định tại Khoản 1, Điều 9, Quyết định số 1452/2004/QĐ-NHNN ngày 10/11/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. 3. Quy định các đối tượng tham gia - Nghiệp vụ Option ngoại tệ được áp dụng chính thức tại tất cả các ngân hàng thương mại được phép kinh doanh ngoại tệ. - Thời hạn giao dịch : từ 3 ngày đến 365 ngày; - Đồng tiền giao dịch: Giao dịch giữa ngoại tệ tự do chuyển đổi với ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc đồng Việt Nam; - Chỉ thực hiện với Doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam; - Trường hợp thanh toán ngoại tệ cho nước ngoài, doanh nghiệp phải xuất trình cho Ngân hàng chứng từ theo các qui định quản lý ngoại hối hiện hành; - Các tổ chức kinh tế chỉ được phép tham gia nghiệp vụ Option với tư cách là bên mua trong Hợp đồng Quyền chọn, tức là được phép mua Hợp đồng Quyền chọn mua (Call Option) và mua Hợp đồng Quyền chọn bán (Put Option), chứ không được bán các Hợp đồng Quyền chọn mua hay Quyền chọn bán. 4. Đánh giá tổng quát hoạt động quyền chọn tiền tệ ở Việt Nam 4.1 Ý nghĩa Sự ra đời sản phẩm Option góp phần chắc hơn cho lộ trình phát triển thị trường ngoại hối và tiến tới xây dựng cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn, nhằm đáp ứng yêu 12 cầu tự do hóa thị trường theo tiến trình hội nhập, vừa tránh gây những cú sốc trong nền kinh tế. Bên cạnh đó sản phẩm này ra đời sẽ giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam rất nhiều tự bảo vệ trước những biến động tỷ giá. Vì thực tế hiện nay, phần lớn doanh nghiệp ở Việt Nam chủ yếu chỉ hoạt động trên một mảng thị trường và thường là một chiều, chứ không phải nhiều chiều (chỉ chuyên nhập khẩu hoặc xuất khẩu, ít doanh nghiệp vừa nhập vừa xuất). Nói cách khác, nhu cầu thanh toán, chi trả, hay sử dụng nguồn thu của họ chủ yếu dựa trên các giao dịch giữa một cặp đồng tiền, bao gồm một đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi như USD, Euro hay Yên Nhật và VND . Cho nên rủi ro rất lớn xảy ra khi có biến động tỷ giá và có những rủi ro hối đoái đối với các khoản doanh thu từ xuất nhập khẩu. Doanh thu càng lớn thì rủi ro hối đoái mà doanh nghiệp có thể gặp phải càng cao. 4.2 Khó khăn a. Về phía các doanh nghiệp Tuy nhiên, các nghiệp vụ Option: quyền lựa chọn phòng ngừa rủi ro chưa được đông đảo doanh nghiệp chấp nhận: Thứ nhất, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chưa có giám đốc tài chính như thông lệ thế giới. Tức là chưa có người chuyên lo, tính toán và dự báo biến động của thị trường, biến động của lãi suất, tỷ giá và giá cả để xử lý, chuyên lo về tài chính trong hoạt động kinh doanh. Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn làm theo lối kinh doanh truyền thống, khi nào cần USD, cần vàng thì mua, khi nào có nhu cầu thì bán…… Thứ hai, mức phí giao dịch Option các ngân hàng thương mại Việt Nam đưa ra cho các doanh nghiệp còn cao. Cụ thể mức phí quyền lựa chọn trong giao dịch tỷ giá loại kỳ hạn 1 tháng tới 1,3%, kỳ hạn 2 tháng tới 2,2% và kỳ hạn 3 tháng tới 2, 8%; trong khi tỷ giá VND/USD biến động thấp, năm 2004 chỉ tăng dưới 1,0%. Thứ ba, công tác tuyên truyền quảng cáo, tiếp thị của các ngân hàng thương mại chưa tốt, chưa hiệu quả. Do đó một mặt doanh nghiệp chưa biết đến nghiệp vụ này, một mặt đã biết nhưng chưa thấy lợi ích của nghiệp vụ Option, nên chưa lựa chọn. 13 Thứ tư, một cản trở với các nghiệp vụ phái sinh đặc biệt là O ption, đó là văn hoá trách nhiệm trong các doanh nghiệp. Đa số các DN Việt Nam hiện không cho người lãnh đạo quyền và chính sách thoả đáng, rõ ràng. Một số công ty đa quốc gia họ có chính sách quản lý rủi ro rất cụ thể. Họ luôn khoanh vùng cho một vị trí lãnh đạo được chịu rủi ro tài chính đến mức bao nhiêu và nếu tới bao nhiêu thì lãnh đạo phải làm các giao dịch phòng chống. Còn ở Việt Nam thì chưa có. Ngoài ra hiện nay hạch toán phí options ngoại tệ cũng là một vấn đề với doanh nghiệp. Thực tế để có quyền chọn ngoại tệ doanh nghiệp phải trả một mức phí cho các NHTM. Mức phí này tùy thuộc vào từng thời điểm mà xu hướng ngoại tệ có biến động mạnh hay không, thời gian thực hiện hợp đồng dài hay ngắn. Trong thời gian đó nếu tỉ giá biến động có lợi cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp thực hiện hợp đồng, còn nếu tỉ giá gây bất lợi thì DN được quyền hủy bỏ cam kết và họ đi mua, bán ngoại tệ bên ngoài cho hiệu quả hơn. Đương nhiên, tiền phí đã đóng DN phải chịu mất. Do chính sách tài chính quy định chưa đầy đủ nên khoản phí mất này DN rất khó hạch toán. Nếu bị kiểm tra DN sẽ được “hỏi thăm” về khoản tiền mất này nên options ngoại tệ chưa hấp dẫn doanh nghiệp b. Về phía ngân hàng Trong thời gian trước mắt, thị trường giao dịch Option tiền đồng ở Việt Nam còn rất hẹp do tiền Việt Nam chưa phải là đồng tiền tự do chuyển đổi nên các thị trường giao dịch giữa các ngân hàng còn hạn chế. Tuy chỉ là thí điểm thực hiện nhưng các ngân hàng phải thể tìm kiếm được đối tác là các ngân hàng nước ngoài để thực hiện giao dịch đối ứng phòng ngừa rủi ro cho các hợp đồng Option giữa ngoại tệ với VND ở trong nước như với các hợp đồng Option giữa các loại ngoại tệ. Ngoài ra có thể nói sự biến động tỷ giá trên thị trường thế giới chưa gây tác động mạnh đến doanh nghiệp, các công ty cũng phải đối mặt với rất nhiều sức ép khác trong kinh doanh mà tạm thời bỏ qua tác động của tỷ giá. Hơn nữa, USD là ngoại tệ được giao dịch chủ yếu trên thị trường Việt Nam nhưng tỷ giá USD/VND lại được Ngân hàng Nhà nước bảo đảm, biến động trong biên độ là +/- 0.5%. Ngoài ra ngay trong quyết định 1452/QĐ-NH NN , ký ngày 10/11/2004 về giao 14 dịch ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép kinh doanh ngoại tệ, một quyết định được cho là rất thông thoáng, cởi mở trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối, thì cũng chỉ có dịch vụ option ngoại tệ (ấn định tỷ giá mua - bán một loại ngoại tệ bằng một ngoại tệ khác) là các NH TM được chủ động thực hiện. Trong khi đó thì option ngoại tệ thực ra không có nhiều ý nghĩa lắm đối với các doanh nghiệp Việt Nam do các ngoại tệ mạnh trên thế giới đều là ngoại tệ tự do chuyển đổi, vì vậy mà mức độ biến động giá nhỏ hơn nhiều so với mức độ biến động giá giữa đồng Việt Nam và các ngoại tệ. Do đó, dịch vụ option tiền đồng mới thực sự hữu hiệu đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong vai trò là một công cụ bảo hiểm. Tuy nhiên dịch vụ cho phép mua bán ngoại tệ trong mối tương quan giá với đồng Việt Nam thì vẫn phải xin phép N HN N. 15 C. ĐỀ XUẤT Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước cần nghiên cứu để sớm quyết định cho phép tất cả các ngân hàng thương mại có hoạt động kinh doanh quốc tế, được thực hiện giao dịch quyền lựa chọn. Trên cơ sở có nhiều NHTM cùng thực hiện nghiệp vụ này sẽ tạo điều kiện thực hiện hoạt động tái bảo hiểm trên thị trường giữa các NH TM trong nước cũng như trên thị trường quốc tế. Đồng thời cũng tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, phấn đấu giảm phí hợp đồng. Thứ hai, không nên quy định giới hạn đồng tiền giao dịch trong hợp đồng như hiện nay. Nghĩa là chỉ bao gồm quan hệ giữa các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi với nhau, làm hạn chế tính linh hoạt của các giao dịch. NHN N cần nghiên cứu, để cho phép mở rộng phạm vi đồng tiền giao dịch, kể cả đối với VND. Bởi lẽ, hầu hết các doanh nghiệp, đều luôn hết sức quan tâm đến tỷ giá VND, đối với các loại ngoại tệ tự do chuyển đổi. Trong điều kiện hiện nay, tuy VND chưa phải đồng tiền tự do chuyển đổi, song, việc tái bảo hiểm tỷ giá vẫn có thể được tiến hành, giữa các NHTM, được phép thực hiện giao dịch QLC trên thị trường hối đoái trong nước. Thứ ba, các NHTM nên quy định giá hợp đồng quyền chọn ở mức “mềm” một chút. Điều đó cũng có nghĩa là, NH nên sẵn sàng giảm bớt phần nào lợi nhuận từ hoạt động này, nhằm mục đích, kích thích lợi ích vật chất đối với khách hàng, trong giai đoạn thử nghiệm hiện nay. Thứ tư, các NHTM cần có biện pháp thích hợp, tuyên truyền phổ biến trên phương tiện thông tin đại chúng, nhằm thu hút khách hàng với quy mô rộng lớn hơn. Trên cơ sở đó, góp phần tạo khả năng, mở rộng hoạt động của thị trường hối đoái. Thứ năm, ngân hàng nhà nước cần sớm mở rộng phạm vi cho các ngân hàng thí điểm tham gia thực hiện nghiệp vụ Option tiền đồng, và từ đó sớm ban hành văn bản chính thức quy định về nghiệp vụ này vì thực tế Option tiền đồng hữu hiệu hơn với các doanh nghiệp và các ngân hàng thương mại trong nước cũng đang khó khăn trong triển khai nghiệp vụ này. 16 Cuối cùng các ngân hàng cần giảm số tiền tối thiểu cho mỗi hợp đồng quyền chọn đối với nhà đầu tư cá nhân để thu hút một kênh đầu tư hấp dẫn và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. 17
- Xem thêm -