Tiểu luận phân tâm học về nhân cách

  • Số trang: 21 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 513 |
  • Lượt tải: 1
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

TIỂU LUẬN PHÂN TÂM HỌC VỀ NHÂN CÁCH Họ và tên: Hoàng Thị Yến Lớp: K63B-Tâm Lý Giáo Dục Trường: Đại học Sư phạm Hà Nội MSV: 635614030 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU……………………………………………………………... 3 CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ TRIẾT HỌC VÀ NGUỒN GỐC NẢY SINH CỦA PHÂN TÂM HỌC…………………………………………………... 4 CHƯƠNG HAI: PHÂN TÂM HỌC VỀ NHÂN CÁCH………………... 7 2.1. Quan niệm của Freud về vô thức và ý thức trong đời sống tinh thần con người…………………………………………………………………… 7 2.2. Cấu trúc của nhân cách theo Freud.……………………………………. 8 2.2.1. Cái ấy (Id)………………………………………………………... 9 2.2.2. Cái tôi (Ego)……………………………………………………... 10 2.2.3. Cái siêu tôi……………………………………………………….. 11 2.3. Đối tượng nghiên cứu của Freud………………………………………. 12 2.3.1. Căn bệnh Hysteri………………………………………………… 12 2.3.2. Giấc mơ………………………………………………………….. 13 2.3.3. Lý thuyết tính dục(Libido)………………………………………. 14 2.4. Sự hình thành và phát triển của nhân cách theo Freud……………….... 15 2.4.1. Sự hình thành của nhân cách…………………………………….. 15 2.4.2. Sự phát triển của nhân cách……………………………………… 16 CHƯƠNG BA: NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA PHÂN TÂM HỌC………………………………………………………………………... 18 3.1. Ưu điểm………………………………………………………………... 18 3.2. Hạn chế………………………………………………………………… 19 CHƯƠNG BỐN: ỨNG DỤNG PHÂN TÂM HỌC……………………... 20 4.1. Ứng dụng trong đời sống………………………………………………. 20 4.2. Ứng dụng trong giảng dạy……………………………………………... 21 4.3. Ứng dụng trong công tác tham vấn…………………………………..... 21 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………... 22 Phân tâm học về nhân cách LỜI NÓI ĐẦU Tâm lí học là một môn khoa học trừu tượng và vô cùng bí ẩn, khó chứng minh cụ thể qua những phương pháp khoa học, kĩ thuật như những môn khoa học khác. Bởi tâm lí học nghiên cứu về đời sống tâm lí con người, đó là những hư hư thực thực, đó là những gì ẩn sâu bên trong tâm hồn mỗi con người. Vì vậy, các học thuyết tâm lí học của các nhà tâm lí luôn luôn có những quan điểm bất đồng, những ý kiến trái chiều gây nên những tranh cãi lớn nhằm bảo vệ những nghiên cứu của mình. Một học thuyết vô cùng nổi tiếng cũng đã làm nổi lên bao tranh luận bão táp, đó chính là học thuyết phân tâm học của Sigmund Freud. Học thuyết của Freud ra đời mặc dù bị rất nhiều các nhà tâm lí học khác phản đối, thậm chí họ còn cho rằng những gì Freud nói trong học thuyết này là nhảm nhí, điên rồ và không thể đúng được nhưng cũng có rất nhiều người đã thật sự vô cùng tôn sùng phân tâm học của ông, họ đã đi theo ông để tiếp tục tìm ra những bí ẩn mới của học thuyết này. Cũng chẳng có gì chứng minh được rằng phe nào là đúng, tuy nhiên học thuyết này đã có những ảnh hưởng vô cùng lớn đến tư duy hiện đại, tác động đến rất nhiều các ngành khoa học khác, và có những ứng dụng vô cùng lớn vào đời sống con người, sự phát triển của loài người, đặc biệt là sự hình thành và phát triển nhân cách. 3 Phân tâm học về nhân cách CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ TRIẾT HỌC VÀ NGUỒN GỐC NẢY SINH CỦA PHÂN TÂM HỌC Sigmund Freud sinh ngày 6/5/1856 tại Freiberg thuộc Đức, nay là Pribor thuộc Cộng hoà Séc. Bố ông là một người Do thái buôn vải nhưng không có nhiều vốn, chỉ sau 1860, khi gia đình rời về thành Vienna, thủ đô của nước Áo, kinh tế gia đình mới khấm khá lên. Bà mẹ Freud sống tới năm 59 tuổi, bà rất thông minh và nhanh nhẹn. Sigmund Freud là đứa con cưng đầu lòng của bà. Vì truyền thống gia đình là không trọng tín ngưỡng nên ngay từ thời trẻ, Freud đã là một người vô thần nhiệt thành. Từ học thuyết của Darwin, Freud hi vọng vào những điều kỳ diệu, phi thường từ học thuyết ấy mang lại. Vì thế ông đã luôn mong muốn sẽ trở thành một thầy thuốc, vì vậy, ông đã quyết định thi vào trường Đại học Y khoa ở thành Vienna. Từ nhỏ ông đã học rất giỏi, đến khi học đại học, ông vẫn luôn phát huy những thành tích tốt đẹp đó của bản thân. Ông đã trở thành bác sĩ trẻ của một bệnh viên đa khoa vào năm 1881. Tại đây, ông đảm nhiệm chữa tất cả các loại bệnh và tiếp tục nghiên cứu thêm về chuyên ngành thần kinh bệnh học và giải phẫu thần kinh. Là một bác sĩ giỏi, tên tuổi của ông đã vang lừng khắp thể giới. Đến khi có một người đồng nghiệp của ông sang Paris, ông đã theo bạn mình sang thành phố này. Tại đây, ông đã được học cách dùng phương pháp thôi miên để điều trị bệnh loạn thần kinh từ Jean Charcot, là một nhà bệnh lý học và thần kinh học người Pháp nổi tiếng. Freud đã thoả mãn khi thấy Charcot chứng minh được "bệnh loạn thần kinh thật mà và loạn thần kinh giả do dùng 4 Phân tâm học về nhân cách thôi miên tạo ra. Khi trở về, ông đã truyền đạt lại cho những người đồng nghiệp của mình nhưng không thể thuyết phục được họ. Thậm chí các ý tưởng của ông truyền đạt lại cho họ đã bị trừng phạt bằng cách đuổi ông ra khỏi phòng thí nghiệm giải phẫu thần kinh. Từ đó, ông đã rời khỏi trường đại học, ông mở một phòng mạch riêng và tiếp tục dùng phương pháp thôi miên để thí nghiệm trong nhiều năm nữa, nhưng dần dần ông đã không phương pháp điều trị này nữa vì phương pháp này không có hiệu quả cho người bệnh trong khoảng thời gian dài và cũng không thể điều trị dứt điểm cho người bệnh được. Thay vào đó, Freud bắt đầu phát triển một phương pháp mới, ông đặt tên là "tự do liên tưởng", kỹ thuật này đã được trở thành một tiêu chuẩn thực hành của khoa học phân tâm học. Năm 1886, ông lấy vợ. Ở phòng mạch của mình, ông đã cố gắng tìm hiểu bệnh nhân, đặc biệt là các bệnh nhân cũ với các giấc mơ của họ. Ông nghiên cứu ý nghĩa của nó, dùng phân tâm học để giải thích giấc mơ và hiểu bệnh thần kinh phân lập. Năm 1900, ông công bố một trong các tác phẩm đầu tay: “Ý nghĩa của giấc mơ”, ông lấy đó làm khuôn mẫu để giải thích giấc mơ theo góc độ phân tâm học, rồi điều trị các chứng bệnh phân liệt. Năm năm sau, cuốn tiếp theo về phân tâm học: “Ba luận văn về lý thuyết tình dục” được ra đời. Sách được chỉnh sửa và tái bản nhiều lần. Ông giải thích các “sai lệch” không qua góc độ đạo đức học, mà đưa nó vào các thành phần của đời sống tình dục “bình thường”. Đó cũng là cái giá mà Freud trả cho dục năng (libido). Kể từ đó, ông không còn sao nhãng các đề tài tình dục nữa. Năm 1923, Freud bị mắc bệnh ung thư vòm họng. Hơn 16 năm trời, ông liên tục bị dày vò bởi bệnh tật và đã trải qua rất nhiều cuộc phẫu thuật. Kết 5 Phân tâm học về nhân cách quả là ông đã bị cắt bỏ một phần của vòm họng. Mặc dù như vậy, nhưng Freud vẫn tiếp tục gặp gỡ học trò, bệnh nhân và các nghiên cứu của mình. Freud đã học hỏi và lĩnh hội kinh nghiệm, tư tưởng của rất nhiều những nhà khoa học, những bậc tiền bối đi trước trong các lĩnh vực như y học, sinh học, triết học….trong quá trình nghiên cứu về thần kinh học và hoàn chỉnh học thuyết phân tâm học. Có thể kể đến một số tư tưởng của một số nhà khoa học nổi tiếng như: Tư tưởng của nhà sinh lý học người Đức E. W. Brucke, đây là người đã đưa những lý thuyết hóa học, lý thuyết bảo toàn năng lượng vào giải thích các hiện tượng sinh lý người. Tư tưởng của bác sĩ người Pháp Philip Pinel, một người có quan điểm nhân đạo và sáng suốt hơn với các rối nhiễu tâm lý. Các nghiên cứu và thực hành chữa bệnh của bác sĩ người Áo Franz Anton Mesmer là người đầu tiên sử dụng thôi miên làm lôi cuốn sự chú ý của rất nhiều nhà khoa học đối với phương pháp này. Ngoài ra, còn có một số ảnh hưởng khác đã tác động đến sự phát triển của phân tâm học như: Các học thuyết triết học về vô thức, các khoa học tự nhiên và đời sống xã hội thế kỉ XIX. Điển hỉnh như: Học thuyết của Darwin đã ảnh hưởng lớn đến quan điểm của Freud về sự phát triển trẻ em. Đó là tính chất liên tục trong sự phát triển cảm xúc từ bé đến lớn của một cơ thể. Những ham muốn sinh dục xuất hiện ở những đứa trẻ ngay từ 7 tuần tuổi sau khi chào đời. Vấn đề này đã trở thành vấn đề trung tâm trong phân tâm học của Freud. Châu Âu thế kỉ XIX là xã hội đầy mâu thuẫn và căng thẳng với thói đạo đức giả tràn lan. Tính dục và các nhu cầu sinh lý khác của cơ thể một mặt không được kiểm soát, một mặt không được thừa nhận chính thức của ngon luận và hành vi ứng xử xã hội. Nên xã hội Châu Âu bấy giờ có hai xã hội, xã 6 Phân tâm học về nhân cách hội của đời sống sục sôi được diễn ra trong sự “đồng tình ngầm” của các thành viên và “xã hội bề ngoài” với sự lên mặt của “cái tôi thanh cao, kiêu hãnh”. Tiếp đến là sự bùng nổ những tư tưởng gợi tình, nạn mại dâm và những ấn phẩm khiêu dân bùng nổ… CHƯƠNG HAI: PHÂN TÂM HỌC VỀ NHÂN CÁCH 2.1. Quan niệm của Freud về vô thức và ý thức trong đời sống tinh thần con người. Trong tâm lí học đương thời, tồn tại những quan niệm về vô thức trong đời sống tinh thần con người, đó là: Hành vi vô thức là hành vi có ý thức nhưng đã bị lãng quên, đã bị chìm vào trong quá khứ và ngủ im trong đời sống tinh thần. Chỉ trong những trường hợp đặc biệt thì hành vi đó mới được khơi dậy bởi ý thức. Đời sống tinh thần hằng ngày của con người là do ý thức điều khiển. Hành vi vô thức chỉ là tiêu cực, thụ động, tĩnh lặng, không hoạt động. Còn hành vi ý thức sẽ có tác động trực tiếp đến cảm nghĩ và điều khiển hành động của cá nhân trong hiện tại. Nhưng Freud lại có thái độ ngược lại. Trong quan niệm của ông, vô thức và ý thức được biểu hiện rằng: Thứ nhất: Đời sống tâm lí cá nhân diễn ra hằng ngày không phải là do ý thức điều khiển mà là do vô thức. Thứ hai: Hành vi vô thức và ý thức chỉ là hai tính chất của cùng một hành vi tinh thần. Sự phân biệt giữa hai yếu tố này thuộc về nguồn gốc, cơ chế và vai trò của chúng. Thứ ba: Về nguồn gốc thì mọi hành vi bắt đầu từ vô thức, trước khi trở Thành ý thức thì hành vi đó phải là hành vi vô thức. Vì vậy, mọi hành động tinh thần bao giờ cũng thuộc hệ thống vô thức, do vô thức tiến hành, rồi qua 7 Phân tâm học về nhân cách đó có thể một số được ý thức hóa trong những trường hợp riêng. Thứ tư: Về cơ chế, trong đời sống tinh thần của cá nhân thường xuyên có sự vận động của các hành vi vô thức để được ý thức hóa. Thứ năm: Về vai trò, vô thức có vai trò quyết định trong đời sống tâm lí hằng ngày. 2.2. Cấu trúc của nhân cách theo Freud. Theo Freud thì mọi hoạt động tâm trí đều bắt đầu từ vô thức và tùy theo tương quan lực lượng giữa những lực thôi thúc và ngăn cản mà xuất hiện. Khi nói đến những hiện tượng vô thức, Freud đã dùng hình tượng những cảm nghĩ vô thức luôn rảo quanh ngoài cửa căn phòng chứa đựng ý thức, vô thức luôn tìm cách để được lọt vào căn phòng ý thức. Nhưng trước cửa căn phòng có những người gác cửa, họ chỉ cho lọt vào căn phòng ý thức những gì không có vẻ là nguy hại. Còn những vô thức không được cho vào thì sẽ phải ngụy trang, thay đổi hình dạng hoặc thừa lúc ông gác cửa lơ đãng thì sẽ lọt vào, đó là những giấc mộng, những bất lực như trong các trường hợp bệnh lý. Ở đây, Freud đã đưa ra cấu trúc của bộ máy tâm thần bao gồm ba thành phần là vô thức, tiền ý thức và ý thức. Cái vô thức đó là những thành phần nằm trong một căn phòng rộng, tiền ý thức đó là những người gác cửa, nằm trung gian giữa căn phòng rộng rãi chứa vô thức kia với căn phòng đang chứa những gì gọi là ý thức, còn ý thức đó là những gì nằm trong căn phòng nhỏ hẹp, đó là những gì mà hằng ngày được biểu hiện trong cuộc sống đời thường. Qua đó cũng thể hiện được ba cấu trúc tương ứng của nhân cách là: Cái ấy, cái tôi và cái siêu tôi. 8 Phân tâm học về nhân cách 2.2.1.Cái ấy (Id) Theo Freud, cái ấy tuân theo nguyên tắc thỏa mãn và đòi hỏi, bằng cách ngay lập tức tìm kiếm sự thỏa mãn cho những nhu cầu bản năng. Nó bao gồm các bản năng vô thức như: ăn uống, tình dục, tự vệ, trong đó bản năng tình dục giữ vai trò trung tâm quyết định toàn bộ, đời sống tâm lý và hành vi của con người. Theo mô hình nhân cách trên thì nó là phần dưới nước của tảng băng trôi. Cái ấy là thành phần sinh học (biological component) của tư duy. Nó là bản năng tính dục, có ngay từ lúc mới sinh, chỉ năng lượng nguyên thủy của sự sống, Các hành động của nó đều dựa trên nguyên tắc khoái lạc (pleasure principle). Cái ấy tượng trưng cho phần vô thức và thể hiện sự chống đối xã hội của cá nhân. Theo Freud, phạm vi của cái ấy trong vô thức là phần nhân cách tối tăm, không thể đi đến được, nó rất mù quáng và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thỏa mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm trong con người mà không cần biết đến các hậu quả. Cái ấy bao gồm tất cả những gì trong di truyền, có sẵn ngay từ khi sinh ra. Cái ấy là phần nhân cách cá nhân tối tăm, ta chỉ hiểu được nó một chút ít qua nghiên cứu các giấc mộng và sự biểu hiện của các căn bệnh tâm thần. Ví dụ điển hình như ta có thể sung sướng nhét vào bụng đủ thứ hoa quả bằng sáp để thỏa mãn cơn đói, với lấy một chai nước giải khát trống rỗng khi khát, hoặc hướng những năng lượng tính dục vào các tạp chí đặc sắc, những con búp bê bơm căng hay những hoạt động mang tính giải tỏa khác. 9 Phân tâm học về nhân cách 2.2.2. Cái tôi (Ego) Là nhân tố nảy sinh sau cái ấy. Nó nằm ở trên cái ấy, bao hàm cả ý thức, tiền ý thức và một phần vô thức, nó nằm ở phần nổi và một phần chìm của tảng băng trôi, cái tôi là thành phần tâm lý (psychological component) của bộ máy tư duy. Cái tôi nhận thức được thế giới xung quanh, nó được hình thành do sự tác động của môi trường vào cái ấy đã làm cái ấy tiến triển lên, tạo ra một tổ chức đóng vai trò trung gian giữa cái ấy với bên ngoài. Cái tôi nhận ra rằng phải kiềm chế, ngăn chặn những ham muốn không phù hợp với chuẩn mực của cái ấy để ngăn ngừa mọi sự mâu thuẫn và phạm pháp với luật lệ xã hội. Cái tôi tuân theo nguyên tắc hiện thực. Cái tôi luôn hướng tới giải quyết các làm sao cho những nhu cầu của cái ấy được thỏa mãn nhưng vẫn không vượt quá chừng mực của các chuẩn mực đạo đức, các luật lệ xã hội. Như vậy, cái tôi vượt khỏi sự thống nhất sinh vật của thân xác để đạt tới một sự thống nhất cao hơn là sự tự chủ. Cái tôi tượng trưng cho phần ý thức và ý chí của cá nhân. Ví dụ điển hình như khi ta bị bỏ đói, khi đến dự một bữa tiệc, cảm giác có thể ngồi lên bàn ăn và ăn ngấu nghiến hết cả đống thức ăn trên bàn, nhưng ta sẽ không thể làm điều đó nếu ta đang ngồi ăn cùng rất nhiều người khác mà ta không quen biết hoặc chỉ là quen biết xã giao. Khi đó, cái ấy sẽ là ham muốn được ăn, cái ấy sẽ mách bảo con người rằng hãy ăn ngấu nghiến để thỏa mãn cơn đói cồn cào của bản thân. Nhưng cái tôi sẽ kiềm chế lại và tự nhắc nhở rằng: “Không thể làm vậy được, sẽ có rất nhiều ánh mắt và suy nghĩ không tốt của người khác về mình”. Chính cái tôi đã kiềm chế được cái ham muốn của cái ấy cho phù hợp với hoàn cảnh, địa điểm, từ đó đã điều chỉnh được hoạt động của cá nhân ấy. 10 Phân tâm học về nhân cách 2.2.3. Cái siêu tôi (Superego) Là một nhân tố đạo đức trong nhân cách, bao gồm mọi khái niệm về cái đúng, cái sai, cái tốt, cái xấu. Nó nằm trong cả ba lát cắt vô thức, tiền ý thức và ý thức, nó nằm cả trong phần chìm và phần nổi của tảng băng trôi. Nó được hình thành từ cái tôi, là sự phát triển tinh thần cao hơn cả mà con người hướng tới, cố gắng đạt được tới sự hoàn thiện thay vì thỏa mãn những ham muốn thực tại. Cái siêu tôi bao gồm mọi sự cấm đoán, mọi quy tắc ứng xử cho cha mẹ tạo ra và ép buộc đứa trẻ phải làm theo. Đó là các chuẩn mực xã hội ở bên ngoài “được phóng chiếu vào bên trong”, nghĩa là chúng được đưa vào bên trong đứa trẻ ở trình độ vô thức. Cái siêu tôi buộc cái tôi phù hợp không chỉ về thực tế mà còn về lý tưởng của mình về đạo đức. Do đó, các siêu tôi khiến người ta cảm thấy tội lỗi khi họ đi ngược lại quy tắc của xã hội. Ví dụ như khi một đứa trẻ được cha mẹ dạy dỗ rằng không được ăn trộm đồ của người khác, đứa trẻ đó nhận thức được rằng ăn trộm đồ là xấu và là một hành động không nên làm nên đứa trẻ quyết tâm không bao giờ có hành động xấu đó. Trong trường hợp vô tình đứa trẻ nhìn thấy một chiếc ví của một người mà đứa trẻ quen biết để ở trước mắt, điều kiện rất dễ dàng để nó có thể thực hiện hành vi ăn trộm chiếc ví đó. Cái ấy sẽ xui khiến đứa trẻ lấy chiếc ví đó, vì sẽ có rất nhiều tiền để mua đồ chơi, để chơi game. Trong trường hợp đó, cái tôi không thể thực hiện vai trò trung gian của mình là vừa thỏa mãn nhu cầu, lại vừa phù hợp với chuẩn mực. Chính vì vậy, cần đến sự có mặt của cái siêu tôi để ngăn cản lại cái hành động ăn trộm ví tiền đó của đứa trẻ. Từ đây, ta có thể suy ra bản chất sinh học của nhân cách đó là: Bản chất của nhân cách là thuộc tính sinh vật hay sinh vật hóa thuộc tính nhân cách. 2.3. Đối tượng nghiên cứu của Freud 11 Phân tâm học về nhân cách 2.3.1. Căn bệnh Hysteri Freud đã nghiên cứu về các hành vi rối nhiễu tâm thần và có một căn bệnh điển hình được ông nghiên cứu tiên phong và mô tả chi tiết, rõ ràng, đó là căn bệnh Hysteri. Ông coi đó là phương tiện để giúp ông tìm hiểu ra những cái vô thức ẩn chứa đằng sau các hành vi rối nhiễu. Đây là một căn bệnh tâm thần ở phụ nữ. Đó là một loại bệnh xuất hiện từng cơn, tự nhiên xuất hiện, rồi lại tự nhiên biến mất với những biểu hiện rất đa dạng như tự cười phá lên, tự nhiên bị câm, tự nhiên bị liệt một bên… rồi lại trở thành bình thường. Freud đã cùng Breuer nghiên cứu về căn bệnh này và chỉ rõ ra rằng: Chứng Hystêri thông thường không có một tác động gây chấn thương duy nhất mà có nhiều chấn thương bộ phận. Triệu chứng này sẽ mất khi người bệnh hiểu rõ ký ức về tác động khởi phát đánh thức được mối xúc động của người bệnh có liên quan trực tiếp đến ký ức này. Trong các ca bệnh, người bệnh khó nhớ lại những điều thực sự gây bệnh vì hoạt động tâm thần của con người có những qui luật riêng đã bị thay đổi, điều chỉnh. Trí nhớ của người bệnh không hề giữ lại một dấu vết nào của những tình tiết đã trải qua hoặc chỉ giữ lại ở dạng sơ sài nhất. Còn ký ức về những điều nhục nhã mà họ gặp phải trước đây sẽ được thay đổi bằng một sự cải chính các sự kiện, bằng ý thức cá nhân về phẩm giá. Khi người bệnh sực nhớ lại những điều đã thực sự trải qua thì chính họ là người khổ sở trước hết. Ví dụ về một nghiên cứu về các cô gái mà biết rằng trong quãng đời họ đã trải qua có một kí ức đau buồn trong họ rằng họ bị xâm hại tình dục. Người ta đã yêu cầu các cô gái kể lại tuần tự những sự kiện lớn mình đã trải qua, để lại ấn tượng trong họ thì ta nhận thấy rằng, cứ đến cái giai đoạn mà họ bị xâm hại thì hoặc là sẽ bị bỏ qua, hoặc là sẽ chen lấn một sự kiện khác vào. Bởi họ đang cố lẩn tránh những kí ức làm đau buồn đến họ. Freud cũng đã phát hiện ra rằng trong các căn bệnh Hystêri, vai trò của những xung lực tình dục rất lớn, nhưng Breuer 12 Phân tâm học về nhân cách không đồng tình với quan điểm đó của ông và điều này dẫn đến hai người không còn tiếp tục cùng nghiên cứu, đồng thời khẳng định tính độc lập của các công trình nghiên cứu hình thành học thuyết phân tâm học của Freud. Ông cho rằng để chữa trị được các căn bệnh nhiễu tâm, đặc biệt là Hysteri thì phải đi tìm cho được cái nguyên nhân gây bệnh nằm ở bên dưới các triệu chứng bệnh, đó là những nguyên nhân nằm trong vô thức. Muốn tìm được các nguyên nhân đó thì cần phải tiến hành phân tích tâm lý người bệnh để tìm những nguồn gốc gây bệnh ẩn dấu sâu trong vô thức người bệnh. Vì vậy, ông đã sử dụng phương pháp thôi miên để giúp người bệnh nhớ lại những gì mà họ đã trải qua. Sau đó, ông đã sử dụng một kỹ thuật riêng của bản thân là kỹ thuật ép cùng với phương pháp liên tưởng tự do nhằm giúp người bệnh xóa đi những tắc nghẽn trong những liên tưởng bằng lời. Ông phân loại các chứng nhiễu tâm: Nhiễu tâm tức thời và loạn nhiễu tâm. 2.3.2. Giấc mơ Có một người đã từng hỏi Freud rằng: “Thưa ngài! Làm thế nào để tôi có thể trở thành một nhà phân tâm học?” Freud đã trả lời rằng: “Hãy tìm hiểu nhũng giấc mơ của chính mình.”. Điều đó đã thể hiện rằng, giấc mơ có một sức hấp dẫn đặc biệt, mà mỗi con người ai cũng tò mò đến nó. Theo Freud, từ việc phân tích giấc mơ, chúng ta có thể nhìn thấy rõ hơn cấu trúc tâm thần con người, rõ hơn về cái vô thức trong con người. Ông có các quan niệm về giấc mơ như sau: Thứ nhất: Giấc mơ là hiện tượng quan sát được ở mọi người (bình thường và bệnh). Nó là một chứng cứ giúp cho việc tìm hiểu tâm thần con người. Vì vậy, giấc mơ phải là đối tượng khảo sát của phân tâm học. Thứ hai: Giấc mơ là hoạt động tinh thần có ý nghĩa, như mọi hoạt động tinh thần khác, nó luôn đi kèm với hoạt động ngủ của con người. Khi mơ, người mơ biết rõ về giấc mơ của mình. Trong nội dung của giấc mơ có hai phần: phần nội dung rõ ràng và phần ý tưởng tiềm tàng, ẩn náu trong những giấc mơ. Thứ ba: Giấc mơ của người lớn về bản chất giống với giấc mơ của trẻ em, nhưng có sự biến dạng phức tạp hơn. Ví dụ, một đứa trẻ muốn ăn kem giữa trời lạnh, nhưng mẹ nó không cho, tối về, trong giấc mơ nó nằm mơ rằng mình được ăn kem, như thế là thỏa mãn mong muốn của nó trong giấc mơ. Còn đối với giấc mơ của người lớn, có thể kể một giấc mơ rằng một người phụ nữ muốn nấu một bữa ăn để thiết đãi một người bạn. Nhưng khi nấu, cô phát hiện ra rằng bếp bị hết gas, khi cô gọi gas đến và tiếp tục nấu thì lại phát hiện ra rằng cà chua trong tủ lạnh đã bị thối rữa hết, mà trời thì đang mưa, cô không thể ra 13 Phân tâm học về nhân cách chợ mua cà chua được. Chính vì vậy, bữa tiệc của cô đã không thành hiện thực mặc dù trong giấc mơ cô mong muốn điều đó. Tuy nhiên, chỉ xét theo nội dung giấc mơ thì không thể giải thích được. Mà ta phải xét cả thực tế rằng, trưa ngày hôm đó, người phụ nữ ấy đã đến thăm một cô gái khác, và cô biết rằng cô gái này đang có ý định với chồng của cô. Thế nhưng cô gái này đang rất gầy, mà người chồng của cô chỉ thích những người phụ nữ béo. Khi đó, cô gái kia có hỏi người phụ nữ rằng: “Tôi đang muốn béo lên và tôi biết rằng những món ăn của chị rất ngon. Tôi cũng rất thích chúng. Khi ăn chúng, tôi cảm thấy ăn nhiều hơn và điều đó chắc chắn sẽ giúp tôi béo lên. Vậy chị có thể nấu một bữa ăn thiết đãi tôi vào ngày mai được không?” Và trong suy nghĩ của người phụ nữ này, cô không hề muốn nấu một bữa cho cô gái kia, vì nếu không cô ta sẽ có thể trở thành đối thủ của mình. Đó chính là lí do mà đêm hôm đó cô lại mơ những điều như vậy. Thứ tư: Sự biến dạng của giấc mơ là do sự kiểm soát và chống đối của cái tôi đối với các ham muốn của cái ấy. Trong lúc tỉnh, sự dồn nén và trấn áp đủ mạnh để trấn an các ham muốn vô thức không được vào phần ý thức. Khi ngủ, sự kiểm soát và dồn ép không còn như lúc tỉnh, nhưng vẫn đủ mạnh để áp đặt lên các ham muốn, không cho các ham muốn đó lộ nguyên hình. Đây thể hiện rõ sự phức tạp của giấc mơ ở người lớn. Freud gọi đó là ký ức- màn che. Thứ năm: Việc xây dựng giấc mơ được thực hiện theo một số cơ chế nhất định: Cô đặc nội dung các ý tưởng ham muốn vô thức, di chuyển nội dung thỏa mãn từ đối tượng này sang đối tượng khác, kịch hóa, tượng trưng hóa, chế biến lần thứ hai… 2.3.3. Lý thuyết tính dục(Libido) Lý thuyết tính dục hay còn gọi là lý thuyết nhục dục là một khái niệm khác được ghép chung với cái ấy. Freud cho rằng tất cả những xúc cảm của cái ấy đều là hình thức thể hiện của năng lực tính dục. Mọi sáng tạo văn hóa của con người như: pháp luật, nghệ thuật, tôn giáo…. đều được coi là sự phát triển của tính dục. Freud quan niệm như vậy bởi lúc đầu, tính dục ở một đứa trẻ thể hiện bằng hành động bú, mút, cắn…, dần dần năng lượng tính dục được truyền cho người khác qua hôn nhân hoặc thể hiện qua các hoạt động sáng tạo nghệ thuật, văn chương, hội họa, âm nhạc…. Đó là phương pháp dịch chuyển. Điều này chứng tỏ rằng đời sống tính dục của con người không phải vào tuổi dậy thì mới xuất hiện mà biểu hiện ngay cả từ khi con người mới sinh ra. Khái niệm tính dục được thể hiện với nghĩa rộng hơn so với khái niệm sinh dục, nó bao hàm rất nhiều hoạt động khác không liên quan đến sinh dục. Đời sống tính dục bao hàm chức năng cho phép thu được khoái cảm từ những vùng khác nhau của cơ thể, có thể liên quan đến chức năng sinh đẻ, duy trì giống nòi hoặc không liên quan gì. Các vùng cơ thể gây khoái cảm cho con người, Freud gọi là các vùng kích dâm, đầu tiên là miệng; sau đó là 14 Phân tâm học về nhân cách hậu môn, tiếp theo là toàn bộ những bí mật của cơ thể do bị trẻ tự khám phá ở thân thể của nó… Từ những phân tích khá sâu sắc về tình dục, Freud đã đi đến xem xét những sự loạn dâm, thói phô bày, ác dâm, khổ dâm….đều là những hiện tượng có thật trong đời sống tính dục của con người. Đặc biệt Freud đã phân tích khá sâu những biến đổi tính dục ở tuổi dậy thì, chấm dứt thời kỳ tiềm ẩn của đời sống tính dục. Theo Freud, đam mê tình dục giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong đời sống tâm lý, đó là cội nguồn của mọi cội nguồn tinh thần con người, tất cả đều thấy đam mê tình dục hoàn thành. Đó là nguyên nhân của bệnh tâm thần kể cả những sáng tạo văn hóa, văn học nghệ thuật. Đam mê đó trong học thuyết Freud là trung tâm của các bản năng và được gọi là mặc cảm Oedip. 2.4. Sự hình thành và phát triển của nhân cách theo Freud 2.4.1. Sự hình thành của nhân cách Nhân cách con người được xây dựng qua sự tương tác phức hợp giữa các xung lực tâm lí với những kinh nghiệm thời niên thiếu của cá nhân. Sự trưởng thành của xung lực tính dục để lại những dấu vết riêng trong sự phát triển tinh thần, nhân cách. Xung lực theo Freud là toàn bộ những sức mạnh tác động ở phía sau những nhu cầu cấp bách của cái ấy và biểu hiện những yêu cầu thuộc loại thể chất trong tâm thần. Theo ông, những xung lực này có bản chất sinh học và rất đa dạng. Nói cách khác, xung lực bắt nguồn từ những nhu cầu cơ thể. Nhân cách là kết quả của cách dạy dỗ, đối xử của bố mẹ đối với cá nhân đó đặc biệt trong 5 năm đầu tiên thời thơ ấu. Freud đã quá nhận mạnh vào sự phát triển của giai đoạn ấu thơ, nhấn mạnh vào bản năng và coi rằng những gì mà con người trải qua thời thơ ấu có tác động rất lớn đối với sự phát triển nhân cách của con người sau này. Vì thế cách nuôi dạy của bố mẹ thời ấu thơ đã ảnh hưởng rất lớn đối với nhân cách của đứa trẻ sau này. Ví dụ như: Một đứa trẻ mà khi lớn nó có bản tính là nói rất nhiều thì người ta sẽ cho rằng hồi 15 Phân tâm học về nhân cách bé đứa trẻ đó không được bú sữa mẹ nhiều, nó không được thỏa mãn hết cái nhu cầu môi miệng của mình hồi bé, chính vì vậy, khi lớn lên nó sẽ phải bù đắp cho những ham muốn của mình hồi bé bằng cách nói nhiều. Chính vì vậy, Freud đã đưa ra khẳng định rằng những kinh nghiệm ban đầu có thể ảnh hưởng lâu dài đối với sự phát triển nhân cách về sau, nếu không được thỏa mãn thì sẽ để lại các hậu quả về sau mà biểu hiện của nó rõ nhất trong các hiện tượng như thăng hoa, ám ảnh, thoái lui cá nhân. 2.4.2. Sự phát triển của nhân cách Trên cơ sở nguyên tắc đầu tư xung lực khát dục của trẻ em, Freud xác định 5 giai đoạn phát triển nhân cách như sau: Giai đoạn 1: Giai đoạn môi miệng (từ lúc sinh ra đến lúc 1 tuổi): Trong giai đoạn này, trẻ thỏa mãn các nhu cầu của bản thân mình bằng các động tác như phì bọt, nhai, bú mút và cắn vào các đối tượng được đưa vào miệng chúng, có thể là đồ chơi, ngón tay và các bộ phận trên cơ thể mẹ của chúng. Những hành động môi miệng của trẻ được ông cho rằng đó là phương pháp tạo ra khoái cảm ở trẻ, thỏa mãn những xung lực tính dục của trẻ, ngay cả khi chúng không hề đói hoặc khát. Giai đoạn 2: Giai đoạn hậu môn (từ lúc 1 tuổi đến 3 tuổi): Khoái cảm của trẻ lúc này sẽ tập trung vào hậu môn, khi cơ vòng bắt đầu trưởng thành, trẻ bắt đầu biết kiềm chế để giữ những chất cặn bã trong cơ thể mình hay thải chúng ra ngoài. Giai đoạn này biểu hiện rõ nhất ở năm 2 đến 3 tuổi. Ví dụ như khi trẻ còn nhỏ, trẻ sẽ không có khả năng kiềm chế được, nhưng đến giai đoạn 2 đến 3 tuổi, qua sự hướng dẫn, dạy dỗ của cha mẹ, trẻ đã biết cách gọi cha mẹ mỗi khi có nhu cầu về tiêu hóa chứ không còn tự tiện như trước nữa. Giai đoạn 3: Giai đoạn dương vật (từ lúc 3 tuổi đến 5 tuổi): Giai đoạn này, trẻ tìm thấy sự thỏa mãn bằng cách vuốt ve, mơn trớn những bộ phận sinh dục của chúng. Đặc biệt, ở chúng có một sự thèm khát loạn luân đối với người cha hoặc mẹ khác giới của mình. Freud gọi đây là giai đoạn dương vật 16 Phân tâm học về nhân cách bởi ông cho rằng cả bé trai vè bé gái đều coi trọng dương vật. Bé trai thì mong muốn giữ nó, còn bé gái thì mong muốn có được nó. Theo Freud thì mỗi giai đoạn phát triển đều phải trải qua một thời kì khó khăn nhất định. Trong giai đoạn này, khó khăn đó là phức cảm Oedip. Phức cảm này có tên của một vị vua trong lịch sử đã vô tình giết vua và lấy hoàng hậu để lên ngôi thay người mình đã giết, nhưng không ngờ rằng đó lại chính là cha ruột của Oedip và hoàng hậu mà ông lấy lại chính là mẹ ruột của mình. Điều này cũng có thể dùng để lí giải về xu hướng của những người con khi trưởng thành thường chọn những người vợ hoặc chồng giống với người mẹ hoặc người cha của chính mình. Ông cũng đưa ra một cách giải quyết phức cảm Oedip ở giai đoạn này như sau: Những bé trai lúc đầu sẽ coi cha mình là đối thủ của mình để chiếm tình cảm từ người mẹ. Nhưng chúng lại rất sợ người cha sẽ tức giận và làm hại đến dương vật của nó vì sự cạnh tranh này. Chính vì vậy chúng đã kìm nén những thèm khát loạn luân với người mẹ của mình và đồng nhất hóa với người cha. Từ đó chúng sẽ bắt chước những đặc tính riêng biệt của người đối thủ cũng chính là người cha đáng kính của nó để có thể trở thành một người đàn ông về phương diện tâm lý. Ở đây cũng đã có sự xuất hiện của cái ấy là những ham muốn loạn luân của đứa trẻ với người mẹ, dần dần chúng đã thích nghi được và chọn giải quyết phù hợp nhất, tạo ra một khả năng tiếp xúc trực tiếp với cái siêu tôi, đó là kìm nén những điều cấm kị kia và tuân theo chuẩn mực đạo đức. Phức cảm Oedip ở nữ gọi là phức cảm Electra. Lúc bé, cả bé trai và bé gái đều yêu thích người mẹ. Bé gái luôn hướng đến mong muốn có được dương vật. Nhưng đến khi bé gái phát hiện ra người mẹ không hề có dương vật thì nó lại hướng tình cảm đó đến người cha của mình. Chúng cũng cho rằng chúng đã bị mất dương vật, là do hành động tàn ác của người mẹ. Nhưng 17 Phân tâm học về nhân cách dần dần, đứa bé sẽ đối mặt với thực tế rằng nó không thể có được cái của người cha. Từ đó, phức cảm Electra lắng xuống. Giai đoạn 4: Giai đoạn tiềm ẩn (từ lúc 5 tuổi đến tuổi dậy thì): Lúc này, xung lực tính dục của trẻ tương đối bình lặng. Toàn bộ những xung lực khoái cảm sẵn có đã được chuyển hóa vào những hành động được xã hội chấp nhận như học tập, những trò chơi thể lực, các hoạt động xã hội. Giai đoạn 5: Giai đoạn sinh dục (từ tuổi dậy thì đến khi trưởng thành): Cơ thể trẻ phát triển mạnh mẽ cùng với sự sản sinh của các tuyến nội tiết, sự phục hồi của các cơ quan sinh dục. Thanh niên có thể công khai bộc lộ libido đối với một người khác giới. Lúc này cá nhân đã có thể xác định được vai trò của giới tính và các mối quan hệ xã hội. CHƯƠNG BA: NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA PHÂN TÂM HỌC 3.1.Ưu điểm Freud đã luôn nghiên cứu với tư tưởng, quan điểm và lập trường vững vàng. Sự ra đời của phân tâm học đã thúc đẩy tâm lí học phát triển, đồng thời ảnh hưởng đến rất nhiều các ngành khoa học khác. Freud cũng đã đưa ra một lí thuyết trọn vẹn về nhân cách, nó đầy đủ và cho phép giải quyết nhiều vấn đề tâm lý có ứng dụng thực tế mà đến nay vẫn còn được ứng dụng. Qua những nghiên cứu, những thực hành của ông trong thực tế đã đem lại cho thế giới loài người nói chung và tâm lý học nói riêng những thành tựu, những ứng dụng vô cùng mới mẻ, một khám phá vô cùng lớn về mảng vô thức mà cho đến nay vẫn chưa ai có thể vượt qua được những thành tựu nghiên cứu đó của ông. 18 Phân tâm học về nhân cách Từ những nghiên cứu đó, ông đã đưa ra một phương pháp mà hiện nay rất nhiều bệnh viện tâm thần đang áp dụng để chữa trị các bệnh về rối loạn thần kinh, tâm thần… 3.2.Hạn chế. Do nhấn mạnh đến mặt vô thức trong con người, Freud đã không nhận thấy được mặt bản chất trong ý thức của con người, không thấy được bản chất xã hội – lịch sử của các hiện tượng tâm lý người. Phân tâm học đã đối lập hoàn toàn với các nguyên tắc cơ bản của tâm lý học duy vật biện chứng. Nó tách biệt nhân cách với những điều kiện xã hội của sự hình thành nhân cách, đề cao cái vô thức, cái sinh vật lên hàng đầu. Yếu tố sinh học thuần túy là bất biến. Đây là chủ nghĩa sinh vật điển hình, hạ thấp vai trò của ý thức, không xem ý thức là đối tượng của tâm lý học. Khoa học thần kinh không ủng hộ quan niệm giấc mơ là con đường chủ yếu để khám phá vô thức. Nói chung trên 80% số người được hỏi mơ thấy bị treo hay bị săn đuổi. Lẽ nào bị treo lại là ước vọng vô thức của con người? Vì thế giải đoán giấc mơ của Freud sai là chính. Không thể đồng ý với ông rằng, ngôi nhà mặt tiền nếu bằng phẳng thì biểu tượng cơ thể nam, xù xì thì ứng với cơ thể phụ nữ; vật dụng dài như cành cây tượng trưng cho bộ phận sinh dục nam, còn vật đóng như bao diêm thì cho bộ phận sinh dục nữ. Càng vô lý hơn nếu quan niệm khi mơ thấy leo cầu thang, lái xe, cưỡi ngựa, đi qua cầu, đó chính là lúc ta mong sinh hoạt tình dục. Freud không đả động đến những bẩm chất tác động tâm lý của trẻ em, cũng không nói đến sự thành thục dần dần của hệ thần kinh làm cho trẻ em rất khác với người lớn và không thể quan niệm như Freud là cơ chế tâm lý đều giống nhau ở người lớn và trẻ em. Freud cũng lạm dụng những từ ngữ nói về tính dục của người lớn vào tâm lý học trẻ em. Như tính trẻ em nhiều khi hành hạ súc vật, phá phách đồ đạc thì gọi là ác dâm (sadisme). Trẻ em chơi với một vài bộ phận trong cơ 19 Phân tâm học về nhân cách thể thì gọi là ái kỷ (narcissisme). Lúc trẻ em tự hào khoe cái chim của mình thì gọi là chứng phô bày (exhibitionisme) tất cả những từ ngữ ấy ở người lớn đều mang tính bệnh lý. Hẳn rằng đấy là một phát hiện quan trọng và Freud đã dùng cảm xúc xé toạc cái màn đạo đức giả của xã hội,nhưng sai lầm khi đồng nhất tâm lý trẻ em và người lớn. Về mặt chính trị - xã hội, một cách khách quan, phân tâm học của Freud đã trở thành cơ sở cho một thứ triết lý sống không tích cực, luôn có xu hướng đối lập với xã hội trong các tầng lớp xã hội, đặc biệt là trong giới trẻ ở các nước phương Tây: Sống chỉ quan tâm đến nhu cầu của bản thân mình, đòi hỏi sự thỏa mãn từ người khác, từ xã hội đến nhu cầu của mình chứ không biết sống vì người khác, không biết phục vụ nhu cầu của người khác. CHƯƠNG BỐN: ỨNG DỤNG PHÂN TÂM HỌC 4.1.Ứng dụng trong đời sống. Phân tâm học của Freud đã mang lại cho chúng ta những phương pháp mới để chữa trị những căn bệnh tâm thần mà trước đây ta không có khả năng chữa trị được, hoặc đưa ra những phương pháp có hiệu quả, phù hợp hơn so với các phương pháp trước đây. Giúp ta khám phá chiều sâu vô tận của tiềm thức, những thứ bí ẩn trong vô thức mà bình thường ta không thể nhận ra được qua những giấc mơ, giải đáp cho chúng ta những thắc mắc về các mâu thuẩn, các vấn đề chưa được giải quyết trong đời sống hàng ngày. Giúp ta hiểu sấu sắc hơn về chiều sâu đời sống, thế giới của tất cả các căn nguyên, động cơ bí ẩn của ý thức và nhân cách của chúng ta. Áp dụng phương pháp thôi miên vào trong chữa trị các bệnh nhân tâm thần, các tội phạm… 4.2.Ứng dụng trong giảng dạy. 20
- Xem thêm -