Thuyết khế ước xã hội

  • Số trang: 11 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 70 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Thuyết khế ước xã hội Phần 1. PHẦN MỞ ĐẦU Có rất nhiều học thuyết giải thích nguồn gốc ra đời của Nhà nước: 1. Các học thuyết phi Mác xít về nguồn gốc nhà nước a) Thuyết gia trưởng: Nhà nước là kết quả phát triển của gia đình, là hình thức tổ chức tự nhiên của cuộc sống con người b) Thuyết Thần Học: Nhà nước là lực lượng siêu nhiên, quyền lực là vĩnh cửu và sự phục tùng là tất yếu. c) Thuyết hợp đồng (khế ước): Nhà nước ra đời thông qua một khế ước được ký kết giữa các thành viên trong XH. Khi nào nhà nước không thực hiện được vai trò của mình thì nhân dân có quyền lật đổ d) Thuyết bạo lực: bộ lạc, thị tộc chiến thắng sẽ nghĩ ra một hệ thống cơ quan đặc biệt để cai trị kẻ chiến bại e) Thuyết tâm lí : Tâm lí của người nguyên thuỷ muốn phụ thuộc vào các thủ lĩnh, các giáo sỹ, các tù trưởng… d) Thuyết kỹ trị : Cho rằng nhà nước là do những người thuộc tầng lớp trên của xã hội, họ có học vấn, có trình độ khoa học – kỹ thuật cao thành lập nên và thực hiện quản lí đối với xã hội. Các học thuyết trên đây giải thích nguồn gốc nhà nước như là một hiện tượng xã hội, tách rời nhà nước với quá trình vận động và phát triển của đời sống vật chất, không nhìn thấy nguyên nhân vật chất của sự ra đời của nhà nước. Họ cho rằng nhà nước là bất biến, vĩnh cữu, và nhà nước là của mọi thành viên trong xã hội. 2. Học thuyết Mác-Lênin Theo học thuyết Mác – Lênin về nguồn gốc nhà nước, Nhà nước không phải là một hiện tượng xã hội bất biến, vĩnh cửu, mà nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định, và khi xã hội không còn những điều kiện khách quan cho nhà nước tồn tại nữa thì nhà nước sẽ bị tiêu vong. Mặc dù học thuyết Khế ước xã hội giải thích nguồn gốc nhà nước trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm nhưng những nguyên tắc pháp lý của nó đã chi phối sâu sắc đến sự phát triển của nhà nước và pháp luật hiện đại. Hôm nay nhóm 10 sẽ trình bày về thuyết khế ước xã hội và những biểu hiện của nó trong học cách thức tổ chức bộ máy nhà nước ở các nước tư sản. Phần 2. GIỚI THIỆU THUYẾT KHẾ ƯỚC XÃ HỘI 1. Bối cảnh ra đời của thuyết Khế ước xã hội Chế độ phong kiến tồn tại ở Phương Tây trong một thời gian dài cùng với chính sách ngu dân của giáo hội đã kìm hãm con người trong vòng ngu tối và trở thành một chướng ngại cho sự phát triển của xã hội. Giai cấp tư sản lớn mạnh dần và mâu thuẩn giữa tư sản với phong kiến ngày càng gay gắt và các cuộc đấu tranh chống phong kiến diễn ra trên toàn châu Âu chống lại sự chuyên chế độc đoán của của nhà nước phong kiến, nhu cầu về thiết lập một trật tự xã hội mới với nền tảng cơ bản là giải phóng con người, tôn trọng quyền tự do của con người được đặt ra. Theo Thuyết khế ước xã hội cho rằng con người không thể sống trong trạng thái tự nhiên vô chính phủ , vì vậy họ cần tự giác ký kết với nhau một khế ước để giao cho tổ chức trung gian , trọng tài nhằm đảm bảo an ninh , quyến tư hữu, và quyền cá nhân khác . Vì vậy một tổ chức ra đời trên khế ước ấy : chính là Nhà nước . 2. Các học giả tiêu biểu Các nhà tư tưởng tiêu biểu của thuyết Khế ước xã hội là - Jean Bodine( 1530-1596) với “Phương pháp luận về lịch sử và pháp luật của Bodin” - Thomas Hobbes (1588-1679) với “Leavithan”, - Jonh Locke (1632-1704) với “Hai Chuyên Luận về Nhà nước” - Charles Louis Montesquieu (1689-1775) với “Bàn về tinh thần pháp luật” - Jean Jacques Rousseau (1712-1778) với “Bàn về khế ước xã hội” - Denis Dirdeot (1713-1784)…. 3. Nội dung Thuyết Khế ước xã hội - Học thuyết xây dựng trên cơ sở thuyết quyền tự nhiên, thuyết cho rằng: con người không thể sống trong trạng thái tự nhiên vô chính phủ, vì vậy họ cần tự giác ký kết với nhau một khế ước để giao cho tổ chức làm trung gian, trọng tài nhằm đảm bảo an ninh quyền tư hữu và các quyền cá nhân khác. Tổ chức đó chính là nhà nước. - Học thuyết về chủ quyền tối thượng của nhân dân: Thể chế chính trị hợp lý là khi con người liên kết với nhau thành xã hội thì vẫn không mất đi quyền tự nhiên và duy trì được tự do. - Về quyền lực nhà nước, các ông đã có sự phân biệt rạch ròi giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Quyền lập pháp được quy định do khế ước xã hội. Quyền lập pháp chỉ có thể là của nhân dân, còn quyền hành pháp được thành lập bởi văn bản của quyền lực lập pháp có chủ quyền, tức là nhân dân có quyền quyết định hình thức chính phủ. Chính phủ phải phụ thuộc vào quyền lập pháp. - Thuyết khế ước xã hội đã chứa đựng yếu tố tiến bộ xã hội đủ để phá vỡ tư tưởng thần quyền về sự ra đời của nhà nước (cho rằng tất cả vạn vật trên thế giới đều do Thượng đế sáng tạo ra và để duy trì trật tự thế giới Thượng đế đã sáng tạo ra nhà nước và trao cho nhà nước quyền lực vô biên, siêu hạng. Quyền lực nhà nước là vĩnh cửu, bất biến và sự phục tùng quyền lực đó là cần thiết và tất yếu), đồng thời nhìn nhận quyền lực nhà nước như sản phẩm hoạt động của con người 4. Ý nghĩa của thuyết Khế ước xã hội: - Sự ra đời của khế ước xã hội đánh dấu bước phát triển nhận thức mới của con người về nguồn gốc nhà nước: sự ra đời của Nhà nước là kết quả của một khế ước được ký kết giữa những con người sống trong trạng thái tự nhiên không có nhà nước, nhà nước phản ánh lợi ích của các thành viên trong xã hội và mỗi thành viên đều có quyền yêuu cầu nhà nước phục vụ họ, bảo vệ lợi ích của họ. Tư tưởng này nhằm chống lại sự chuyên quyền độc đoán của chế độ phong kiến, đòi hỏi sự bình đẳng cho giai cấp tư sản mới ra đời trong việc tham gia nắm chính quyền nhà nước. - Về mặt lịch sử, thuyết khế ước xã hội về nguồn gốc nhà nước chứa đựng yếu tố tiến bộ xã hội: nó phủ nhận thuyết thần học về sự ra đời của nhà nước, đồng thời coi quyền lực của Nhà nước là sản phẩm hoạt động của con người. - Thuyết khế ước xã hội là cơ sở cho thuyết dân chủ cách mạng, nó hướng tới tự do, dân chủ cho con người, đồng thời nó cũng là lý luận vững chắc của cách mạng tư sản lật đổ các nhà nước phong kiến trên thế giới. Giá trị này có thể giải thích: Việc ký kết hợp đồng thành lập nhà nước, các cá nhân chuyển một số quyền tự nhiên của mình cho nhà nước, do đó nhà nước có quyền bảo về sở hữu, an toàn tính mạng, tài sản cho các công dân, trong trường hợp nhà nước không giữ được vai trò của mình, các quyền tự nhiên bị vi phạm thì khế ước xã hội sẽ bị mất hiệu lực và nhân dân có quyền lật đổ nhà nước và ký kết khế ước mới. - Hạn chế lớn nhất của thuyết này là giải thích nguồn gốc nhà nước trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm, chưa mang tính khoa học toàn diện khi coi sự ra đời của nhà nước hoàn toàn trên cơ sở ý muốn chủ quan của các bên tham gia khế ước, chưa nhìn nhận được yếu tố khách quan trong sự tồn tại của nhà nước, không giải thích được cội nguồn vật chất, yếu tố quyết định từ nền tảng kinh kế - xã hội, cũng như không chỉ ra bản chất giai cấp của nhà nước. Phần 3. BIỂU HIỆN CỦA THUYẾT KHẾ ƯỚC XÃ HỘI Ngày nay nhiều quan điểm trong thuyết Khế ước xã hội vẫn là những nguyên tắc pháp lý chi phối sâu sắc đến sự phát triển của nhà nước và pháp luật hiện đại. Những quan điểm ấy được thể hiện trong các bản Tuyên ngôn độc lập, Hiến pháp, trong cách thức tổ chức bộ máy nhà nước TSCN… 1. Trong tuyên ngôn độc lập Tuyên ngôn độc lập là văn bản tuyên bố sự độc lập của một quốc gia, được ra đời để khẳng định chủ quyền của quốc gia vừa giành lại từ tay ngoại bang. Có văn bản không mang tên như vậy, nhưng có ý nghĩa tương tự, cũng được coi là tuyên ngôn độc lập. Như bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ Nội dung chính của bản tuyên ngôn được dựa trên tư tưởng của John Locke, “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tự do và mưu cầu hạnh phúc…” ba quyền cơ bản không thể bị tước đoạt của con người là quyền được sống, được tự do và được sở hữu. Quyền sở hữu được Jefferson đề cập tới trong bản tuyên ngôn là "quyền được mưu cầu hạnh phúc". Những ý tưởng khác của John Locke cũng được Jefferson đưa vào bản tuyên ngôn như sự bình đẳng, Nhà nước hạn chế, quyền được lật đổ Chính quyền khi Chính quyền không còn phù hợp. Bản Tuyên ngôn đã truyền cảm hứng cho nhiều bài phát biểu nổi tiếng khác như của Martin Luther King Jr. và Abraham Lincoln. Bản Tuyên ngôn cũng ảnh hưởng đến nhiều tuyên ngôn độc lập của các nước khác như Việt Nam và Zimbabwe. Cuộc cách mạng tư sản đã mở đầu lịch sử thế giới cận đại bằng hàng loạt các cuộc cách mạng lớn như ở Anh, Pháp, Hoa kì… và có ảnh hưởng lớn đến tiến trình lịch sử của thế giới. Sự ra đời nhà nước tư sản là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển phương thức tư bản chủ nghĩa và song song với nó là sự ra đời của pháp luật tư sản. Có thể nói sự ra đời của pháp luật tư sản đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp của lịch sử nhân loại. Từ đây loài người được biết đến một bản hiến pháp, trong đó quy định những quyền và tự do của công dân mà trước đây chưa bao giờ dám nghĩ đến. 2. Trong hiến pháp Nếu xét về mặt thuật ngữ "Hiến Pháp" đã tồn tại rất lâu với ý nghĩa là xác định, quy định. Các Hoàng đế La Mã cổ đại dung từ "Constitutio" để gọi các văn bản quy định của nhà nước. Từ "Hiến" được sử dụng trong Kinh Thi với ý nghĩa khuôn phép cho vua, chúa.. Hiến pháp ra đời muộn so với các luật khác nhưng ngay từ khi xuất hiện nó bắt tất cả các văn bản khác phải suy tôn nó. Hiến pháp của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ năm 1787 được coi là bản Hiến pháp thành văn đầu tiên trong lịch sử lập hiến hiện đại. Trước khi có Hiến pháp, Hoa Kỳ đã có các bản kiến ước của một số tiểu bang và đặc biệt là Tuyên ngôn Độc lập ngày 4/7/1776. Chính vì vậy mà từ đó người ta thường gắn Hiến pháp với sự kiện lập quốc và coi Hiến pháp là biểu tượng của nền độc lập. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước, nó xác định những điều cơ bản nhất, quan trọng nhất của nhà nước và xã hội như chính trị, kinh tế- xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng đối ngoại, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Hiến pháp được coi là Luật cơ bản của Nhà nước, có giá trị và vị trí pháp lý cao nhất, việc ban hành và sửa đổi phải tuân theo một trình tự đặc biệt.( Hiến pháp năm 1958 của Cộng hòa Pháp, Hiến pháp năm 1949 của Cộng hòa Liên bang Đức cũng tương tự. Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 trong khoảng 220 năm tồn tại đã có 27 lần bổ sung và điều khoản thay thế. Chỉ có Hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản là chưa có sự sửa đổi, bổ sung nào.) Theo Tự Điển Luật Pháp của Black - Henry Campbell Black – Mỹ: Hiến pháp là “một hợp đồng giữa chính quyền và người dân theo đó quyền cai trị của chính quyền do người dân trao cho” . Hiến pháp đề ra hình thể của chính quyền. Nó chỉ định mục đích của chính quyền, quyền hạn của mỗi nha, bộ trong chính quyền, quan hệ chính quyền và xã hội, quan hệ giữa các cơ quan trong chính quyền, và những giới hạn của chính quyền. Lý thuyết tự do cổ điển cho rằng quan hệ giữa chính quyền là khế ước xã hội to lớn. Theo lý thuyết này thì, trong một đất nước dân chủ tự do, hiến pháp là bộ phận chủ yếu của khế ước xã hội này; nó chính là khế ước cơ bản giữa chính quyền và xã hội dân sự. Hiến pháp tư sản là hiến pháp của nhà nước tư sản hay các nước phát triển theo chế độ tư bản chủ nghĩa. Nó có đặc điểm là đều trực tiếp hay gián tiếp tuyên bố bảo vệ quyền tư hữu về tư liệu sản xuất, quyền sở hữu tư nhân là thiêng liêng bất khả xâm phạm. Hiến pháp tư sản tập trung nói về ba cơ quan Nhà nước: Quốc Hội (lập pháp), Chính Phủ(hành pháp) và Tòa án xét xử(tư pháp) theo xu hướng công nhận học thuyết “Tam quyền phân lập”. Tam quyền phân lập hay còn hiểu theo nghĩa phân chia quyền lực là một khái niệm đã được biết đến từ lâu nhờ sự xuất hiện của các bản Hiến pháp Tư sản, trong đó nổi bật là Hiến pháp Hoa Kỳ. Các quy định trong những bản hiến pháp tạo cơ sở thừa nhận sự tồn tại độc lập, kiềm chế lẫn nhau giữa 3 cơ quan: lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tổ chức song song với nhau, và qua đó kiểm tra, giám sát hoạt động lẫn nhau. Theo thể chế này, không một cơ quan nào có quyền lực tuyệt đối trong sinh hoạt chính trị của quốc gia. Ngoài ra nó còn thể hiện những giá trị xã hội được toàn xã hội và nhân dân chấp nhận và chia sẻ. Đó là các giá trị như Tự do, Công bằng, Bình đẳng, Dân chủ, Nhân quyền, Chủ nghĩa cá nhân, Chủ nghĩa tập thể, Chủ nghĩa dân tộc... Nội dung: Lời mở đầu Các điều khoản · Mở đầu · Mục 1: Ban lập pháp · Mục 2: Ban hành pháp · Mục 3: Ban tư pháp · Mục 4: Quan hệ giữa các Bang · Mục 5: Quá trình tu chính · Mục 6: Chính quyền liên bang · Mục 7: Phê chuẩn Các tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ là bộ luật tối cao của nước Hoa Kỳ. Nó là bản hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới được soạn thảo ngày 17 tháng 9 năm 1787 dựa trên tư tưởng tam quyền phân lập giữa ba nhánh lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Tổng thống), tư pháp (tòa án). Hiến pháp Hoa Kỳ gồm hai nội dung chính đó là: - Sự phân chia quyền lực Nhà nước thông qua tổ chức hoạt động bộ máy Nhà Nước - Các quyền tự nhiên của con người. Mục đích của việc quy định hai nội dung trên là để giới hạn quyền lực Nhà Nước và bảo vệ các quyền tự nhiên của con người tránh sự lạm quyền từ phía các cơ quan Nhà Nước. Ngay trong lời mở đầu đã viết : “Chúng tôi, nhân dân Hợp chúng quốc Hoa Kỳ với mục đích xây dựng một Liên Bang hoàn hảo hơn nữa, thiết lập công lý, đảm bảo an ninh trong nước, tạo dựng phòng thủ chung, thúc đẩy sự thịnh vượng trong toàn khối, giữ vững nền tự do cho bản thân và con cháu chúng ta, quyết định xây dựng Hiến pháp này cho Hợp Chúng quốc Hoa Kỳ”. Chính quyền liên bang được chia ra ba nhánh: lập pháp, hành pháp, và tư pháp, được phân lập và riêng biệt với nhau. Theo lý thuyết, các quyền của mỗi nhánh sẽ được cân bằng và kiểm soát bởi các quyền của hai nhánh kia. Nguyên tắc này được gọi là tam quyền phân lập, được Công tước Montesquieu khởi xướng. Chính quyền mà Hiến pháp thành lập là một chính quyền liên bang. Những quyền được nêu ra được trao cho chính phủ liên bang, còn các quyền không nêu ra được giữ lại cho các bang và người dân (đều này được ghi rõ trong Tu chính án thứ 10). Hiến pháp này, cùng với các bộ luật được thông qua và hiệp định được tổng thống ký (và được Thượng nghị viện phê chuẩn) có vị trí cao hơn tất cả các bộ luật khác. Hiến pháp Hoa Kỳ quy định: Tất cả các quyền lập pháp đều thuộc về quốc hội bao gồm thượng viện và hạ viện. Tổng thống là người ký phê chuẩn dự luật. Cả trong lĩnh vực quốc phòng cũng có sự phân quyền giữa lập pháp và hành pháp. Quốc hội có quyền tuyên bố chiến tranh và phân bổ ngân sách cho quốc phòng. Tổng thống là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và chịu trách nhiệm cao nhất về quốc phòng của đất nước. Tổng thống cũng đảm nhiệm 1 chức năng tuyệt đối là có quyền hành pháp, tổng thống vừa đứng đầu nhà nước vừa đứng đầu bộ máy hành pháp, vừa thực hiện chức năng của nguyên thủ quốc gia, vừa thực hiện chức năng của thủ tướng chính phủ, lại gần như độc lập với Quốc hội nên có quyền hành rất lớn Chủ thể của quyền tư pháp là tòa án tối cao và các tòa án cấp dưới, hệ thống tòa án Mỹ được pháp luật trao cho những quyền năng hoàn toàn độc lập để giữ thế “kiềng 3 chân” trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Độc lập với hành pháp và lập pháp, hơn thế còn độc lập với cả dân chúng. Vì nó không được nhân dân bầu không phải chịu trách nhiệm gì trước nhân dân. Thẩm phán được hình thành bằng con đường bổ nhiệm và sau khi được bổ nhiệm, thẩm phán sẽ giữ chức vụ suốt đời nếu vẫn giữ đức hạnh xứng đáng. NỘI DUNG                     LỜI NÓI ĐẦU Mục 1 - Ngày Chủ quyền (Điều 2 đến 4) Mục II - Tổng thống Cộng hòa (Điều 5-19) Mục III - Chính phủ (Điều 20-23) Mục IV - Quốc hội (Điều 24-33) Mục V - Ngày Quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ (Điều 34 đến 51-2) Mục VI - Ngày hiệp ước và thỏa thuận quốc tế (Điều 52-55) Mục VII - Hội đồng Hiến pháp (Điều56-63) Mục VIII - Về Cơ quan tư pháp (Điều 64 đến 66-1) Mục IX - Tòa án tối cao (Điều 67 và 68) Mục X - Về trách nhiệm hình sự của các thành viên của Chính phủ (Điều 68-1 đến 68-3) Mục XI - Kinh tế, Xã hội và Hội đồng môi trường (Điều 69-71) Mục XI A - Những người bảo vệ quyền (Điều 71-1) Mục XII - Trên lãnh thổ Cộng đồng (Điều 72 đến 75-1) Mục XIII - Điều khoản chuyển tiếp liên quan đến New Caledonia (Điều 7677) Mục XIV - Trên thế giới nói tiếng Pháp và Hiệp hội các Hiệp định (Điều 8788) Mục XV - Ngày Liên minh châu Âu (Điều 88-1 đến 88-7) Mục XVI - Về sửa đổi Hiến pháp (Điều 89) Mục XVII (bãi bỏ) Chương về môi trường LỜI NÓI ĐẦU: Tuyên bố về chủ quyền Điều 1: Pháp sẽ là một Cộng hoà xã hội dân chủ thiêng liêng không thể chia cắt. Nó sẽ phải đảm bảo sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, không phân biệt chủng tộc, nguồn gốc, tôn giáo. Nó phải tôn trọng tất cả niềm tin. Nó được tổ chức trên cơ sở phân cấp. Quy chế sẽ tăng cường tiếp cận bình đẳng của phụ nữ và nam giới với cơ quan và các đại biểu dân cử cũng như vị trí của nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội. Điều 2: Khẳng định Các câu châm ngôn của nước Cộng hoà sẽ được "Tự do, bình đẳng, bác ái". Các nguyên tắc của nước Cộng hoà là: chính phủ của dân, do dân và vì dân Các điều khác quy định về quyền trong BMNN: Nguyên tắc phân quyền thể hiện trong mục II, II, IV Nghị viện có 2 chức năng cơ bản là lập pháp và giám sát hoạt động của chính phủ Hành pháp thuộc về tổng thống và chính phủ, mà thực chất là tổng thống nắm. Còn quyền tư pháp thuộc về hệ thống tòa án. ở Pháp có 2 hệ thống tòa án, tòa án thường và tòa án hành chính, cùng với đó còn có các tòa án đặc biệt như tòa án thương mại, lao động, bảo hiểm xã hội, kiểm soát hoạt động cơ quan tư pháp là hội đồng thẩm phán tối cao do tổng thống là chủ tọa Bản Hiến pháp dài gần 5000 chữ, trong đó bao gồm phần mở đầu và 103 Điều khoản trong 11 Chương. Gồm các nội dung về:            Nhật hoàng (1-8) Tuyên bố từ bỏ quyền tuyên chiến (9) Quyền và nghĩa vụ công dân(10-40) Quốc hội (41-64) Nội các (65-75) Tư pháp (76-82) Tài chính (83-91) Chính quyền địa phương (92-95) Điều kiện thay đổi Hiến pháp (96) Tòa đại hình (97-99) Điều khoản bổ sung (100-103) Hiến pháp của nước Nhật Bản, được công bố vào ngày 3 tháng 11 năm 1946 và có hiệu lực kể từ ngày 3 tháng 5 năm 1947, quy định rằng nhân dân Nhật Bản thề nguyện trung thành với các lý tưởng hòa bình và trật tự dân chủ. Ở Nhật Bản, hoàng đế được gọi là Thiên hoàng. Thiên hoàng có quyền lực rất hạn chế. Theo Hiến pháp Nhật Bản (1947), Thiên hoàng chỉ "tượng trưng cho nước Nhật". Quốc hội Nhật Bản là cơ quan lập pháp cao cấp nhất, Quyền hành pháp được giao cho Nội các, gồm Thủ tướng và các bộ trưởng, Cơ quan tư pháp gồm Tối cao Pháp viện, 8 tòa án cao cấp và các tòa án địa phương, tòa án gia đình. Hiến pháp Anh là một kiểu hiến pháp bất thành văn, mà nguồn của nó là các thông lệ truyền thống, các đạo luật của nghị viện Anh và pháp luật của Liên minh Châu Âu. Sự độc đáo và linh hoạt này lý giải một phần việc áp dụng cơ chế phân quyền “mềm” giữa các cơ quan của bộ máy nhà nước, thiên về xu hướng hợp nhất quyền lực hơn là phân chia quyền lực rạch ròi. Ví dụ: Chánh án Toà án tối cao của Anh là người đứng đầu tư pháp, nhưng lại là thành viên của Thượng viện, đồng thời cũng là thành viên của hành pháp, có nghĩa là chức vụ này nằm ở giao điểm của 3 nhánh quyền lực nhà nước. Nghị viện là cơ quan lập pháp của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Đây là cơ quan lập pháp duy nhất của Vương quốc, Hoàng gia là một phần không thể tách rời của Nghị viện. Một Điều luật Nghị viện không thể trở thành luật cho tới khi nó được hoàng gia ký phê chuẩn (được gọi là Phê chuẩn của Hoàng gia), dù không một điều luật nào của Nghị viện từng bị hoàng gia bác bỏ từ thời Nữ hoàng Anne năm 1708. Quyền hành pháp do Thủ tướng và các bộ trưởng nội các đứng đầu các bộ đảm nhận nhân danh Hoàng gia. Nội các, gồm thủ tướng và các bộ trưởng tạo thành Chính phủ của Nữ hoàng. Tuy người đứng đầu hoàng gia vẫn là nguyên thủ quốc gia và trên lý thuyết nắm mọi quyền hành pháp, nhưng chính thủ tướng là lãnh đạo chính phủ. Chính phủ chịu trách nhiệm chính trước Hạ viện, Tại Anh và xứ Wales, hệ thống tòa án do Tòa án Tối cao của Bộ máy tư pháp Anh và xứ Wales lãnh đạo. Ủy ban Tòa án của Hội đồng Cơ mật là tòa án phúc thẩm cấp cao nhất đối với nhiều nước độc lập trong Khối thịnh vượng chung Anh, các lãnh thổ hải ngoại và các quốc gia lệ thuộc. Hiện nay, tổ chức bộ máy nhà nước tại Việt Nam, về bản chất vẫn bảo đảm tính tập quyền xã hội chủ nghĩa, song trên thực tế đã vận dụng những hạt nhân hợp lý của thuyết phân quyền, nghĩa là nhấn mạnh đến khía cạnh phân công quyền lực: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Đây là bước phát triển trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới. Phần 4. KẾT LUẬN Nhìn chung, khế ước xã hội thường được nhìn nhận dưới góc độ một xã hội, một quốc gia. Tuy nhiên tư tưởng về khế ước xã hội không hề bị giới hạn ở đó. Chỉ cần có hai người là đã có thể cho ra đời một bản thỏa ước (giữa họ). Doanh nghiệp chính là một trường hợp khác vận dụng tinh thần khế ước. Bản điều lệ doanh nghiệp chính là khế ước xã hội giữa những người góp vốn. Điều lệ doanh nghiệp quy định sự tồn tại, nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp, quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên. Giám đốc doanh nghiệp là người đại diện cho doanh nghiệp cũng như Chủ tịch nước là người đại diện cho đất nước, tuy rằng hai bản khế ước này không có cùng quy mô như nhau. Quan điểm chúng ta thường gặp là coi giám đốc doanh nghiệp cũng giống như nhân viên doanh nghiệp. Ông ta bị ràng buộc với doanh nghiệp bằng một hợp đồng lao động và được trả lương cao hơn vì công việc quản lý xứng đáng được trả lương cao hơn. Quan điểm này vấp phải một rào cản vô cùng lớn trong hệ thống luật các nước phát triển, nhất là luật của nước cộng hòa Pháp, quê hương của Rousseau. Khi Tổng thống phạm sai lầm, người ta không sa thải tổng thống như ban quản trị doanh nghiệp sa thải giám đốc. Nếu tinh thần bình đẳng được tôn trọng, nhà nước cũng là một pháp nhân như doanh nghiệp và do đó cần phải có những định chế đặc biệt đối với giám đốc doanh nghiệp trong trường hợp ông ta không thực hiện được bản hợp đồng của mình.
- Xem thêm -