Thực trạng và giải pháp chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh

  • Số trang: 127 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 87 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Thực trạng và giải pháp chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh
MỤC LỤC CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP............................1 1.1. Cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng caonăng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp..........1 1.1.1. Khái niệm và phân loại cạnh tranh........................................................................1 1.1.2. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế............................................................... 6 1.1.3. Các công cụ cạnh tranh của Doanh nghiệp........................................................... 8 1.1.4. Khái niệm và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp...................................................................................................................16 1.2. Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp..................19 1.2.1. Thương hiệu và thị phần của doanh nghiệp........................................................ 19 1.2.2. Chi phí sản xuất................................................................................................... 22 1.2.3. Tỷ suất lợi nhuận................................................................................................. 23 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp..........24 1.3.1. Những nhân tố bên trong..................................................................................... 24 1.3.2. Các nhân tố bên ngoài..........................................................................................28 1.4. Một số kinh nghiệm trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.................................................................................................................. 32 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ HÀ NỘI............................................................. 37 2.1. Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội và những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Tổng công ty........................................ 37 2.1.1. Khái quát về Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội............................ 37 2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội.......................................................................................... 65 CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔNG CÔNG TY ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN NHÀ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020..79 3.1. Các quan điểm phát triển................................................................................. 79 3.2. Định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh và các mục tiêu chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty đến năm 2015.......... 80 3.2.1. Tầm nhìn đến năm 2020 của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triẻn nhà Hà Nội.. 80 3.2.2 Sứ mệnh của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội............................80 3.2.3. Các giá trị và phương châm hành động...............................................................81 3.2.4. Các mục tiêu phát triển của Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội đến năm 2015...................................................................................................................... 82 3.3. Các giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty HANDICO........................................................................................... 87 3.3.1. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực................................................................... 87 3.3.2. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực................................................................... 97 3.3.2. Giải pháp phát triển thị trường và đa dạng hóa lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh..................................................................................................................101 3.3.3. Giải pháp huy động vốn kinh doanh và quản lý tài chính................................ 105 3.3.4. Giải pháp xây dựng văn hóa doanh nghiệp....................................................... 107 3.3.5. Giải pháp phát triển thương hiệu HANDICO................................................... 108 3.3.6. Giải pháp đầu tư và phát triển công nghệ..........................................................114 3.3.7. Giải pháp khác................................................................................................... 115 PHẦN KẾT LUẬN.................................................................................................... 119 KẾT LUẬN................................................................................................................. 120 Tµi liÖu tham kh¶o.........................................................................................122 DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Các chỉ tiêu đạt được giai đoạn 2004- 2009................................................. 39 Bảng 2.2. ....................................................................................................................... 40 Bảng 2.3. Tóm tắt một số chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán từ năm 2007 – 2010...... 41 Bảng 2.4: Kết cấu tài sản và nguồn vốn....................................................................... 66 Bảng 2.5: Một số chỉ tiêu tài chính tổng quát............................................................... 67 Bảng 2.6: Tình hình đầu tư tài sản cố định trong 3 năm 2008-2010............................ 69 Bảng 2.7: Tình hình lao động của Tổng Công ty trong 3 năm 2003 - 2005.................71 Bảng 3.1: Các chỉ tiêu phát triển cụ thể theo lộ trình qua các năm như sau:................85 1 CHƯƠNG 1 LÝ THUYẾT CẠNH TRANH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Cạnh tranh và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp Nền kinh tế thị trường được xem là mô hình kinh tế năng động nhất trong tất cả các mô hình kinh tế, nền kinh tế thị trường mang lại nhiều thành tựu kinh tế góp phần đáng kể cho sự phát triển văn minh nhân loại. Kinh tế thị trường vận động dưới sự tác động tổng hợp của các quy luật kinh tế khách quan, trong đó phải nói đến quy luật cạnh. Quy luật cạnh tranh đòi hỏi các Doanh nghiệp phải tự thích nghi với những vận động, biến đổi của nền kinh tế để tồn tại và phát triển. Cạnh tranh đã, đang và sẽ là vấn đề được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu cả trên phương diện lý luận và trong thực tiễn xã hội, nhằm tìm ra và vận dụng ngày càng hiệu quả quy luật này phục vụ cho sự phát triển của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. 1.1.1. Khái niệm và phân loại cạnh tranh. a. Khái niệm cạnh tranh. Cạnh tranh là một thuật nghữ đã được xã hội loài người nhắc đến từ rất lâu, song trong những năm gần đây chúng ta thấy thuật nghữ này đuợc nhắc đến nhiều hơn, đặc biệt là ở Việt Nam. Bởi trong nèn kinh tế mở như hiện nay, khi xu hướng tự do hóa thương mại ngày càng phổ biến thì cạnh tranh là phương thức để đứng vững và phát triển của doanh nghiệp. nhưng trong thực tế “cạnh tranh là gì?” thì vẫn đang là một khái niệm chưa được thống nhất, các nhà nghiên cứu kinh tế đã đưa ra các khái niệm về cạnh tranh khác nhau dưới nhiều góc độ khác nhau. Ví dụ như: Theo diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD, thì cạnh tranh là “ Cạnh tranh là khả năng các Doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” Định nghĩa trên đã cố gắng kết hợp cả hoạt động cạnh tranh của Doanh nghiệp, của ngành của quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong khi đó Ủy ban cạnh tranh Công nghiệp của Tổng thống Mỹ đưa ra khái niệm cạnh tranh đối với một quôc gia là: “Cạnh tranh đối với một quốc gia thể hiện 2 trình độ sản xuất hàng hóa dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó trong những điều kiện thị trường tự do và công bang xã hội” trong khái niệm cạnh tranh này người ta nhấn mạnh đến vai trò của các điều kiện cạnh tranh là “ Tự do và công bằng xã hội.” Như vậy, xét trên góc độ vĩ mô các khái niệm về cạnh tranh đều cho thấy mục tiêu chung của hoạt động cạnh tranh là thỏa mãn tối đa nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế , tạo thêm việc làm và và thu nhập cao hơn cho nền kinh tế. Trong khi đó các nhà kinh tế của trường phái cổ điển cho rằng. “ Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình” Theo quan niệm này cạnh tranh chủ yếu là cạnh tranh về giá cả, chính vì vậy lý thuyết giá cả gắn chặt với lý thuyết cạnh tranh. Khi Các - Mác nghiên cứu về cạnh tranh Tư bản chủ nghĩa, Mác đã đưa khái niệm về cạnh tranh như sau. “ Cạnh tranh tư bản là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu lợi siêu ngạch.” Như vậy cạnh trạnh là hoạt động của các doanh nghiệp trong nền sản xuất hàng hóa với mục đích ganh đua với nhau để chiếm lĩnh thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận cao. Nhằm kế thừa những nghiên cứu mang tính khoa học của các tư tưởng, khái niệm về cạnh tranh trước đây, bài viết luận văn cho rằng để đưa ra một khái niệm đầy đủ cần chỉ ra được chủ thể cạnh tranh, tính chất, phương thức và mục đích của quá trình cạnh tranh. Và từ đó chúng ta có thể khái quát. “ Cạnh tranh là một quá trình kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ( quốc gia, ngành hoặc Doanh nghiệp) ganh đua với nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cùng các điều kiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có lợi nhất nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận” Như vậy chúng ta có thể nói về bản chất, cạnh tranh là mối quan hệ giữa người với người trong việc giải quyết các lợi ích kinh tế. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện ở mục đích lợi nhuận và quyền chi phối thị trường. Trong khi đó bản chất xã hội của cạnh tranh được thể hiện đạo đức kinh doanh, uy tín kinh doanh của mỗi chủ thể cạnh tranh trong quan hệ với những người lao động trực tiếp tạo ra sức cạnh tranh cho doanh nghiệp và được thể hiện trong mối quan hệ của người tiêu dùng và đối thủ cạnh tranh khác. 3 Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường, nó chịu nhiều chi phối của quan hệ sản xuất và nó giữ vị trí thống trị trong xã hội, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật cung cầu, đây là một đặc trưng gắn với bản chất của cạnh tranh. Quy luật cạnh tranh chỉ ra cách thức làm cho giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội, do đó nó làm giảm giá cả thị trường, nó tạo ra sức ép làm gia tăng hiệu quả sử dụng các yếu tố xuất, và từ đó nó chỉ ra ai là người sản xuất kinh doanh thành công nhất. b. Phân loại cạnh tranh. + Căn cứ tính chất cạnh tranh trên thị trường. - Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán và rất nhiều người mua những sản phẩm tương tự, mỗi người bán chỉ cung ứng một lượng hang rất nhỏ trong toàn bộ tổng cung của thị trường. Họ luôn bán hết số hàng mà họ mang ra bán với giá cả thị trường. Bất cứ doanh nghiệp nào gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cũng không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường. Để tối đa hóa lợi nhuận họ chỉ còn có thể tìm mọi cách giảm tối đa chi phí sản xuất. Trong thị trường này mọi thông tin đều đầy đủ chính xác và không có hiện tượng cung cầu giả tạo trên thi trường. Khi chi phí cận biên của doanh nghiệp giảm xuống bằng với giá cả thị trường doanh nghiệp sẽ đạt lợi nhuận tối đa. - Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà ở đó mỗi Doanh nghiệp đều có sức mạnh thị trường, họ có quyền quyết định giá bán của mình, và qua đó nó tác động đến giá cả thị trường. - Cạnh tranh độc quyền, là trên thị trường có nhiều người bán và cũng có nhiều người mua, sản phẩm của các doanh nghiệp có thể thay thế cho nhau ở một mức độ nào đó. Bằng các các biện pháp công nghệ, doanh nghiệp có thể thay đổi mẫu mã, chất lượng, kiểu dáng, quảng bá, tiếp thị…các doanh nghiệp cố gắng khác biệt hoá sản phẩm của mình để cạnh tranh và thu hút khách hàng về phía mình. Trong thị trường này, bên cạnh các biện pháp khác biệt hóa sản phẩm, chiến lược giá cả và chính sách đối với khách hàng là các vấn đề mà mỗi doanh nghiệp luôn phải quan tâm để đảm bảo kha năng cạnh tranh của mình. - Độc quyền tập đoàn là trường hợp mà trên thị trường chỉ có một số hãng lớn sản xuất và bán các sản phẩm đồng nhất hoặc không đồng nhất. Họ gần như kiểm soát toàn bộ lượng cung hàng hóa trên thị trường nên họ có sức mạnh lớn trên thị trường, họ có thể đièu tiết thị trường theo ý muốn. Các hãng trong tập đoàn có tính 4 phụ thuộc lẫn nhau nên quyết định giá và sản lượng của mỗi hãng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hãng khác trong tập đoàn và giá cả thị trường, chính vì vậy mà họ thường liên kết với nhau nhằm thu được lợi siêu ngạch. Sự hình thành thị trường cạnh tranh không hoàn hảo nguyên nhân chính là do quá trình phấn đấu tối đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp, cạnh tranh thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung tư bản diễn ra không đều ở một số ngành, lĩnh vực kinh tế khác nhau. Mặc dù vậy, cạnh tranh độc quyền lại có tác động tích cực, tạo động lực cho sản xuất phát triển, nó làm lợi cho xã hội nhiều hơn là gây thiệt hại. - Cạnh tranh độc quyền là hình thái hoàn toàn đối lập với cạnh tranh hoàn hảo. Chỉ có một người bán hoặc một người mua duy nhất trên thị trường, hàng hóa được bán là hàng được bán là hàng hóa độc nhất vô nhị và không có hàng hóa thay thế nên họ có sức mạnh thị trường rất lớn. Doanh nghiệp độc quyền luôn có quyền quyết định giá bán và sản lượng sao cho họ thu được lợi nhuận siêu ngạch. Nguyên nhân của độc quyền là do họ đạt được các lợi thế kinh tế nhờ vào quy mô (độc quyền tự nhiên), hoặc do cấu kết, thôn tính, kiểm soát được đầu vào. Độc quyền luôn có tác động xấu đến kinh tế xã hội như sản lượng bán ra trên thị trường luôn thấp hơn nhu cầu tiêu dùng của xã hội, giá bán luôn ở mức quá cao làm thiệt hại cho người tiêu dùng và gây bất công xã hội. Ở một số nước phát triển đã áp dụng luật chống độc quyền nhằm đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng và các lợi ích kinh tế xã hội. + Căn cứ chủ thể tham gia thị trường. Đây là sự cạnh tranh trong khâu lưu thông hàng hóa nhằm tối đa hóa lợi ích cho những chủ thể tham gia cạnh tranh. - Thứ nhất: Cạnh tranh giữa người bán và người mua với những đặc trưng nổi bật của quan hệ này là người bán luôn muốn bán giá cao và người mua lại luôn muốn mua giá thấp, do vậy hai lực lượng này hình thành hai phía cung cầu trên thị trường, và kết quả của sự cạnh tranh đó là hình thành giá cân bằng của thị trường, đó là giá mà cả bên bán và bên mua đều chấp nhận được. - Thứ hai: Cạnh tranh giữa những người mua với nhau, đó là sự cạnh tranh do ảnh hưởng của quy luật cung cầu. Khi trên thị trường một lượng cung hàng hóa thấp hơn nhiều so với lượng cầu, làm cho những người mua phải cạnh tranh nhau để mua được hàng hóa mà mình cần, dẫn đến đẩy giá bán tăng cao. Kết quả là người bán 5 thu được một khoản lợi nhuận rất cao, còn người mua phải bỏ thêm một khoản tiền lớn. Như vậy sự cạnh tranh này sẽ làm cho người bán thu được lợi, còn người mua thì bị thua thiệt. - Thứ ba: Cạnh tranh giữa những người bán với nhau, đó là sự cạnh tranh nhằm tăng sản lượng bán hàng. Khi sản xuất ngày càng phát triển do áp dụng khoa học công nghệ, thị trường mở cửa, lượng cung hàng hóa trên thị trường tăng nhanh, trong khi đó lượng cầu hàng hóa đó tăng chậm, dẫn đến những người bán hàng phải cạnh tranh nhau khốc liệt để giành lấy thị trường và khách hàng, dẫn đến giá bán không ngừng được giảm xuống. Kết quả là người mua được lợi, còn Doanh nghiệp nào thắng trong cuộc cạnh tranh này thì mới có thể tồn tại và phát triển. + Căn cứ cấp độ cạnh tranh. Đây là sự cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất. - Cạnh tranh giữa các sản phẩm là sự cạnh tranh về mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng, giá cả, phương thức bán hàng, cách thức tiếp cận, sản phẩm nào phù hợp nhất với yêu cầu của khách hàng thì sản phẩm đó sẽ đảm bảo được khả năng tiêu thụ, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm và là điều kiện thu thêm nhiều lợi nhuận cho Doanh nghiệp. - Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có cùng ngành nghề, là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại hàng hóa mà doanh nghiệp nào cũng nhằm đến thu được lợi nhuận siêu ngạch. Trong nền kinh tế thị trường, theo quy luật, doanh nghiệp nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao lao động xã hội cần thiết sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch. Các doanh nghiệp sẽ áp dụng các biện pháp như cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng xuất lao động, giảm tối đa chi phí sản xuất, nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm. Doanh nghiệp nào có nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh cao sẽ cạnh tranh thắng lợi trong ngành và sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch. Như vậy chúng ta có thể khẳng định rằng cạnh giữa các doanh nghiệp trong nội bộ ngành sẽ làm giảm chi phí sản xuất và giá cả hàng hóa, là động lực thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất và tiến bộ khoa hoc kỹ thuật. Nếu không có cạnh tranh nội bộ ngành thì ngành đó, lĩnh vực sản xuất đó không thể phát triển và kinh tế sẽ bị trì trệ lạc hậu. - Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh mà các doanh nghiệp sản xuất ở các ngành khác nhau nhằm tìm nơi đầu tư thuận lợi nhất để có thể thu được lợi 6 nhuận siêu ngạch. Giữa các ngành kinh tế, do điều kiện tự nhiên, điều kiện kỹ thuật và một số điều kiện khách quan khác như: Văn hóa, tâm lý, thị hiếu, kỳ vọng, mức độ quan trọng…dẫn đến việc cùng với một lượng vốn nhưng đầu tư vào ngành này sẽ mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn ngành khác. Các doanh nghiệp sản xuất ở các ngành có tỷ xuất lợi nhuận thấp có xu hướng chuyển dịch các nguồn lực sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao. Kết quả là trong những ngành sản xuất có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp tham gia sản xuất, dẫn đến lượng cung hàng hóa tăng cao vượt quá lượng cầu,cạnh tranh về giá, giá giảm dẫn đến tỷ suất lợi nhuận của ngành giảm. ngược lại, với những ngành có nhiều doanh nghiệp rút lui, sản xuất toàn ngành giảm, lúc đó trên thị trường sẽ xuất hiện lượng cung hàng hóa nhỏ hơn lượng cầu, hàng hóa khan hiếm, giá tăng và tỷ suất lợi nhuận của ngành tăng. Việc di chuyển nguồn lực giữa các ngành kéo theo sự biến động của tỷ suất lợi nhuận diễn ra cho đến khi với một số vốn nhất định dù đầu tư vào ngành nào cũng sẽ thu được tỷ suất lợi nhuận như nhau. (Đó là tỷ suất lợi nhuận bình quân). Như vậy có thể nói cạnh tranh giữa các ngành sẽ tạo ra sự cân bằng cung cầu sản phẩm trong mỗi ngành và bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận, đảm bảo sự bình đẳng cho việc đầu tư nguồn vốn giữa các ngành, tạo nhân tố tích cực cho sự phát triển kinh tế. - Cạnh tranh giữa các quốc gia là các hoạt động nhằm duy trì cải thiện vị trí của nền kinh tế của mỗi quốc gia trên thị trường thế giới một cách lâu dài để thu được lợi ích ngày càng cao cho nền kinh tế của quốc gia đó. Tuy nhiên chủ thể trực tiếp tham gia cạnh tranh là những doanh nghiệp của quốc gia đó. Do vậy quốc gia nào có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao thì quốc gia đó có năng lực cạnh tranh tốt hơn những quốc gia khác. 1.1.2. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế Trong lịch sử kinh tế thế giới, các nhà nhà kinh tế học đã nghiên cứu và chỉ ra vai trò quan trọng của cạnh tranh. Từ thế kỷ 18, nhà kinh tế học cổ điển Anh với tác phẩm “ Của cải của các dân tộc” ông đã chỉ ra vai trò quan trọng của cạnh tranh trong quá trình phát triển kinh tế, Ông cho rằng với sức ép của cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác và do đó tạo ra sự cố gắng lớn nhất. Kết quả của sự cố gắng đó là lòng hăng say lao động, sự phân phối các yếu tố 7 sản xuất một cách hợp lý và tăng của cải cho xã hội. Hiện nay, cạnh tranh được coi là phương thức hoạt động để tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, nếu không có cạnh tranh thì không có tăng trưỏng và phát triển kinh tế. Vai trò cạnh tranh cũng có hai mặt, tích cực và tiêu cực và được thể hiện như sau. + Tích cực. - Đối với nền kinh tế, cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy quá trình lưu thông và các yếu tố sản xuất. Thông qua cạnh tranh, các nguồn tài nguyên được phân phối một cách hợp lý hơn, dẫn đến sự điều chỉnh kết cấu ngành, cơ cấu lao động được thực hiện mau chóng và tối ưu. Cạnh tranh là đòn bẩy mạnh mẽ nhất của quá trình luân chuyển vốn, luân chuyển các yếu tố sản xuất, phân phối lại tài nguyên, tập chung sản xuất và tích luỹ tư bản. Đồng thời cạnh tranh còn là cơ chế điều tiết việc phân phối lợi nhuận giữa các ngành và trong nền kinh tế, do chịu ảnh hưởng của quy luật bình quân hóa lợi nhuận. - Cạnh tranh đối với doanh nghiệp kinh doanh, do động lực tối đa hóa lợi nhuận và áp lực bị phá sản nếu dừng lại, cạnh tranh buộc các chủ thể kinh tế phải không ngừng tăng cường thực lực của mình bằng các biện pháp đầu tư mở rộng sản xuất, đầu tư cho nghiên cứu khoa học, sáng tạo và thường xuyên cải tiến kỹ thuật, công nghệ, tăng năng xuất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất. Qua đó cạnh tranh nâng cao trình độ mọi mặt của người lao động, nhất là đội ngũ quản trị kinh doanh, đồng thời chọn lọc và đào thải những chủ thể kinh tế không thích nghi được với sự khắc nghiệt của thị trường. - Cạnh tranh đối với người tiêu dùng, qua cạnh tranh cho thấy trên thị trường, những hàng hóa nào phù hợp nhất với yêu cầu sử dụng và khả năng thanh toán của người tiêu dùng, bởi cạnh tranh làm cho giá cả có xu hướng ngày càng giảm, lượng hàng hóa được bán trên thị trường ngày càng tăng, chất lượng ngày một tốt hơn, hàng hóa đa dạng phong phú. Chính vì vậy cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích cho người tiêu dùng. Bên cạnh đó cạnh tranh còn đảm bảo rằng cả người sản xuất và người tiêu dùng đều không thể dùng sức mạnh áp đặt ý muốn chủ quan cho người khác. Nói cách khác cạnh tranh còn có vai trò là một lực lượng điều tiết thị trường. Như vậy, chúng ta thấy cùng với tác động của các quy luật kinh tế khách quan khác, cạnh tranh đã giúp cho các doanh nghiệp trả lời được câu hỏi, đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Và sản xuất như thế nào? một cách thỏa đáng nhất. 8 Vận dụng quy luật cạnh tranh Nhà nước và doanh nghiệp có điều kiện hoạch định các chiến lược phát triển một cách khoa học mà vẫn đảm bảo được tính thực tiễn, chủ động hơn trong công tác đối phó với mọi biến động của thị trường. + Hạn chế. Bên cạnh những tích cực mà quy luật cạnh tranh mang lại, là những tiêu cực, đó là do chạy theo lợi nhuận nên cạnh tranh có tác dụng không hoàn hảo, nó vừa lá động lực tăng trưởng kinh tế vừa bao hàm sức mạnh tàn phá mù quáng. Sự đào thải không khoan nhượng những doanh nghiệp kinh doanh không có hiệu quả. Tuy rằng sự đào thải đó là phù hợp với quy luật kinh tế khách quan, nhưng nó lại gây ra những hậu quả về kinh tế xã hội to lớn, như nạn thất nghiệp ra tăng, mất ổn định xã hội… Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà các chủ thể sử dụng mọi biện pháp trong đó có cả những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để giành chiến thắng trên thương trưòng như gian lận, quảng cáo lừa gạt khách hàng, tình trạng cá lớn nuốt cá bé, lũng loạn thị trường. Như vậy lợi ích người tiêu dùng bị xâm hại, và cuối cùng cạnh tranh có xu hướng dẫn đến độc quyền làm cho nền kinh tế phát triển theo chiều hướng không tốt. Với những đóng góp của cạnh tranh trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, cạnh tranh đã, đang và sẽ luôn là phương thức hoạt động hữu hiệu của nền kinh tế thị trường, chúng ta cần nhận thức được các vai trò quan trọng của nó cũng như những mặt tích cực, tiêu cực của cạnh tranh mang lại để chúng ta vận dụng quy luật này sao cho hiệu quả nhất cho nền kinh tế. 1.1.3. Các công cụ cạnh tranh của Doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hoạt động cạnh tranh trên thị trường doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ cạnh tranh khác nhau để chiếm lĩnh thị trường, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng thị phần…Các công cụ thường được các doanh nghiệp sự dụng là chất lượng sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối, và quảng bá thương hiệu. a. Chất lượng sản phẩm Để có thể sử dụng công cụ chất lượng sản phẩm nhằm cạnh tranh có hiệu quả cần làm rõ thế nào là chất lượng sản phẩm. Cách hiểu và nhận biết về chất lượng sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý chất lượng sản phẩm, bởi chất lượng sản phẩm là một phạm trù khá rộng lớn và phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kinh tế, kỹ thuật và xã hội. 9 Đối với khách hàng hoặc người tiêu dùng chất lượng sản phẩm được xem là sự phù hợp và thỏa mãn nhu cầu hoặc mục đính sử dụng mang lại họ. Về phía doanh nghiệp hoặc nhà sản xuất thì chất lượng sản phẩm là sự hoàn hảo, tiện ích và sự phù hợp của sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy phạm, quy cách đã được quy định trước. Nếu chúng ta chỉ xét từng loại sản phẩm một cách riêng biệt, thì chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó. Chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào số lượng và chất lượng các thuộc tính được các nhà nghiên cứu thiết kế đưa vào sản phẩm đó tước khi sản xuất. Những thuộc tính đó phản ánh công năng hoặc giá trị sư dụng của sản phẩm và được biểu hiện ở những chỉ tiêu chất lượng cụ thể. Nếu xét trên góc độ giá trị, chất lượng sản phẩm được hiểu là đại lượng đo lường giữa tỷ số lợi ích thu được từ tiêu dùng của sản phẩm với chi phí phải bỏ ra để người sử dụng có được lợi ích đó. Qua nghiên cứu và dựa trên các định nghĩa về chất lượng, tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa gọi tắt là ISO đã đưa ra định nghĩa cụ thể về chất lượng sản phẩm trong bộ tiêu chuẩn ISO - 9000 như sau: “ Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các thuộc tính của sản phẩm, tạo cho sản phẩm đó khả năng thỏa mãn yêu cầu đã nêu ra hoăcc tiềm ẩn.” Định nghĩa trên cho thấy sự thống nhất giữa các thuộc tính của sản phẩm, các nhu cầu của khách hàng, giữa các yêu cầu của người sản xuất và người tiêu dùng, giữa nhu cầu hiện tại và những kỳ vọng tương lai của khách hàng về sản phẩm. Cũng chính vì sự khái quát của định nghĩa này, mà nó được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong các hoạt động kinh tế hiện nay trên phạm vi toàn cầu. Chất lượng sản phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng trong cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, một trong những căn cứ quan trọng khi người tiêu dùng quyết định lựa chọn và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp là chất lượng của sản phẩm. Theo nhà nghiên cứu kinh tế M.Porter thì năng lực cạnh tranh của mỗi Doanh nghiệp được thể hiện thông qua hai chiến lược cơ bản đó là phân biệt hóa sản phẩm (chất lượng) và chi phí thấp. Chính vì vậy chất lượng sản phẩm trở thành một trong những công cụ quan trọng nhất làm gia tăng năng lực cạnh tranh cho Doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm thể hiện khả năng đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp, tốc độ tiêu thụ sản phẩm sẽ gia tăng cùng với sự gia tăng 10 mức độ sản phẩm đó thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Đặc biệt là hiện nay khi trình độ xã hội ngày càng cao, xã hội ngày càng văn minh, thì thị hiếu của người tiêu dùng đòi hỏi những sản phẩm có chất lượng cao về mọi mặt chứ không chỉ đơn thuần là Tốt - Bền - Đẹp như trước kia nữa. Như vậy có thể nói chất lượng và cạnh tranh là hai phạm trù luôn đi cùng và gắn bó chặt chẽ với nhau, chất lượng sẽ làm gia tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và ngược lại năng lực cạnh tranh cao sẽ bán được nhiều sản phẩm, tạo lợi nhuận siêu ngạch cho doanh nghiệp, nâng cao cơ sở tài chính và vật chất cần thiết để đầu tư nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ nhằm ngày càng tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao phục vụ nhu cầu thị trường. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi tham gia các tổ chức thương mại quốc tế như (AFTA, WTO…) cùng với những cơ hội kinh doanh trên thị trường lớn là việc các nước thành viên đều phải dỡ bỏ rất nhiều những hàng rào thuế quan để cho hàng của các nước tràn vào cạnh tranh tự do ngay trên sân nhà. Tuy vậy, không một quốc gia nào lại không tìm cách để bảo hộ nền sản xuất trong nước, để hạn chế hàng ngoại tràn vào và khi đó một số hàng rào mới lại được dựng lên, đó là những tiêu chuẩn khắt khe về chất lượng sản phẩm, như giấy chứng nhận về mức độ phóng xạ cho phép đói với hàng thực phẩm, chất lượng đóng gói bao bì, nhãn mác, giấy chứng nhận xuất sứ hàng hóa …Việc các doanh nghiệp đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm không những đảm bảo cạnh tranh giành thắng lợi trên sân nhà mà còn xây dựng chiến lược đem sản phẩm của mình ra nước ngoài để cạnh tranh với thị trường quốc tế. Để sử dụng có hiệu quả công cụ chất lượng sản phẩm trong cạnh tranh, các doanh nghiệp cần làm tốt công tác quản lý chất lượng sản phẩm. Quản lý chất lượng là các hoạt động có tổ chức phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát một quy trình chặt chẽ về chất lượng sản phẩm. Nói theo cách khác quản lý chất lượng sản phẩm bao gồm toàn bộ các hoạt động từ việc xây dựng các quy trình đảm bảo chất lượng, thiết lập các văn bản xác định trình tự và tương tác các quy trình, đảm bảo nguồn lực và thông tin cần thiết, theo dõi kiểm tra và phân tích các quá trình, nhằm đảm bảo mục tiêu chất lượng đề ra, và hệ thống quản lý chất lượng là một hệ thống để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng đã đề ra, và hệ thống quản lý chất lượng này là một hệ thống để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng, đây là một hệ thống không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp để phát huy được tối đa lợi ích cạnh tranh đích thực từ sản phẩm. 11 Trên cơ sở nhận thức đầy đủ hơn về vai trò của chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng, các doanh nghiệp cần xây dựng và tổ chức triển khai các hoạt động đẩy nhanh quá trình cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, tận dụng tốt nhất công cụ này cho nâng cao năng lực cạnh tranh. b. Giá cả sản phẩm. Giá cả của hàng hóa là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh, phát triển cùng với lịch sử ra đời và phát triển của nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Ngày nay, giá cả hiện diện trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, các ngành, các khu vực của nền kinh tế, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Giá cả không chỉ là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, nó còn biểu hiện tổng hợp các quan hệ kinh tế như cung cầu hàmg hóa, tích luỹ tiêu dùng…Vì vậy giá cả hình thành thông qua quan hệ cung cầu hàng hóa, thông qua sự thỏa thuận giữa người mua và người bán, khi giá được chấp thuận là giá mà cả người mua và người bán đều thấy có lợi. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì giá bán sản phẩm là một trong những công cụ quan trọng thường được sử dụng. Bởi giá bán sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hấp dẫn của sản phẩm và sản lượng tiêu thụ trên thị trường. Ví dụ: hai hàng hóa có cùng công dụng và có chất lượng tương đương nhau, khách hàng sẽ lựa chọn hàng hóa nào có giá bán thấp hơn. Trong thực tế có nhiều chính sách giá khác nhau được doanh nghiệp sử dụng nhằm đáp ứng và phù hợp với sản phẩm, mục tiêu, tình hình thị trường và khả năng thanh toán của khách hàng. Trong quá trình hình thành và xây dựng giá bán sản phẩm, doanh nghiệp có thể tham khảo một số chính sách xây dựng giá như sau: + Chính sách xây dựng giá thấp, là chính sách mà doanh nghiệp xây dựng giá bán sản phẩm thấp hơn giá cả thị trường, có hai cách áp dụng chính sách này. - Doanh nghiệp xây dựng giá thấp hơn giá thị trường đối với sản phẩm cùng loại, nhưng vẫn cao hơn giá thành sản xuất. Đây là trường hợp doanh nghiệp áp dụng khi sản phẩm mới thâm nhập thị trường, doanh nghiệp cần thu hút khách hàng, cạnh tranh với sản phẩm cùng loại để chiếm lĩnh thị phần, trong trường hợp này doanh nghiệp sẽ nhanh chóng chiếm được thị phần mà lợi nhuận vẫn đạt được mặc dù không lớn. - Doanh nghiệp chấp nhận xây dựng giá sản phẩm thấp hơn giá thị trường và thấp hơn giá thành sản xuất, đây là trường hợp mà doanh nghiệp chấp nhận thua lỗ 12 tạm thời để phát triển thị trường, chiếm lĩnh thị phần, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa, tăng nhanh vòng quay của đồng vốn, Tạo tiền đề cho chiến lược xây dựng giá bán cao cho sản phẩm sau này. + Chính sách xây dựng giá bán cao. Đây là chính sách mà doanh nghiệp định giá bán sản phẩm của mình cao hơn giá thị trường và cao hơn giá thành sản phẩm. Trong trường hợp này áp dụng cho những sản phẩm mới lần đầu được tung ra thị trường, chưa có sản phẩm cạnh tranh, người tiêu dùng chưa biết rõ về sản phẩm và chưa có điều kiện để so sánh về giá cả và chất lượng. Giai đoạn này doanh nghiệp tranh thủ chiếm lĩnh thị trường sau đó sẽ dần giảm giá để tương đương với giá thị trường, nhưng vẫn đảm bảo cao hơn giá thành sản phẩm Doanh nghiệp vẫn thu được lợi nhuận như mong muốn. - Chính sách ổn định giá, theo đó doanh nghiệp sẽ xây dựng và đưa ra một mức giá phù hợp và sẽ được áp dụng trong một thời gian dài để tạo uy tín và củng cố niềm tin của khách hàng về sự ổn định của thị trường đối với sản phẩm. Nó giúp sản phẩm có những nét độc đáo, khác biệt, nhằm phân biệt với những sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh, từ đó có điều kiện mở rộng thị trường và chiếm lĩnh thị phần của sản phẩm. - Chính sách bán phá giá, là chính sách mà doanh nghiệp dùng biện pháp hạ giá bán ở mức rất thấp, doanh nghiệp chấp nhận thua lỗ trong một thời gian nhất định, nhằm làm cho đối thủ cạnh tranh không thể bán sản phẩm cùng loại trong một thời gian, từ chỗ thua lỗ do không cạnh tranh được về giá đối thủ cạnh tranh buộc phải rút khỏi thị trường. Khi đó doanh nghiệp độc chiếm thị trường, độc quyền với sản phẩm và lúc đó doanh nghiệp sẽ chủ động nâng giá lên cao và thu lại lợi nhuận. Chính sách bán phá giá được coi là rất mạo hiểm, nó là con dao hai lưỡi do vậy ít doanh nghiệp sử dụng chính sách này để bán hàng, và hiện nay chính sách bán phá giá được coi là phương thức cạnh tranh không lành mạnh, và bị cấm ở một số quốc gia trên thế giới. Chính sách phân biệt giá, đó là chính sách xây dựng và đưa ra những mức giá khác nhau đối với cùng một loại sản phẩm khi bán cho các đối tượng khách hàng khác nhau, cho các khu vực thị trường khác nhau, khách hàng mua với số lượng hàng hóa khác nhau hoặc trong những thời điểm khác nhau. Với chính sách này doanh nghiệp sẽ làm thỏa mãn được nhiều đối tượng khách hàng có nhu cầu khác nhau, có điều kiện tài chính khác nhau, tạo nên sự linh hoạt về giá nhằm hấp dẫn 13 khách hàng đồng thời vẫn đảm bảo được lợi ích cho doanh nghiệp khi sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao hơn, hoặc phải vận chuyển sản phẩm đến nhiều địa điểm khác nhau. Tóm lại, việc nghiên cứu và vận dụng chính sách để xây dựng giá bán sản phẩm là một vấn đề hết sức phức tạp, nó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn linh hoạt và sáng tạo bởi vì giá cả sản phẩm không chỉ vào được quyết định bởi giá trị hàng hóa mà nó còn phụ thuộc số lượng và khả năng thanh toán của khách hàng và nhiều yếu tố khác. Do vậy để mỗi doanh nghiệp có thể vận dụng thắng lợi chiến lược giá cả trong cạnh tranh chúng ta cần lưu ý một số vấn đề như sau. + Việc xây dựng giá bán sản phẩm chỉ là một yếu tố trong chiến lược tổng hợp nhằm đem lại doanh thu, lợi nhuận và đảm bảo nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp nên không nhất thiết phải giảm giá hoặc tăng giá trong những trưòng hợp thị trường có biến động. + Việc xây dựng giá bán sản phẩm phải gắn liền với chính sách chiếm lĩnh thị trường, chiếm giữ thị phần, mà phải coi việc chiếm giữ thị phần là mục tiêu chiến lược và nhiệm vụ xây dựng giá bán sản phẩm phải nhằm đạt được mục tiêu này. + Việc xây dựng giá bán sản phẩm phải gắn liền với chiến lược cắt giảm chi phí, mặc dù việc xây dựng giá bán sản phẩm dựa trên nhiều căn cứ khác nhau song chi phí vẫn là một yếu tố rất quan trọng để xây dựng giá bán sản phẩm cho phù hợp. + Việc xây dựng giá bán sản phẩm phải dựa trên chiến lược cạnh tranh, vì vậy doanh nghiệp cần quan tâm thích đáng đến sự thay đổi giá và chính sách giá của các đối thủ cạnh tranh. + Chiến lược xây dựng giá bán sản phẩm phải gắn liền với phân khúc thị trường để có thể áp dụng một cách linh hoạt những chính sách giá khác nhau cho phù hợp với điều kiện thực tế của thị trường. + Trên thực tế, một số nhóm khách hàng sẵn sàng chấp nhận mua sản phẩm với giá cao để được sử dụng những sản phẩm có chất lượng cao và nhãn hiệu nổi tiếng chính vì vậy doanh nghiệp nên thực hiện chính sách định giá cao đối với những sản phẩm này để củng cố uy tín cho sản phẩm của mình, không bỏ lỡ cơ hội tăng lợi nhuận nhưng cần đảm bảo cung cấp cho người tiêu dùng đầy đủ những gì đã hứa hẹn trong sản phẩm, tạo lòng tin đối với khách hàng. + Trong chiến lược cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng một hệ thống đo lường để đánh giá kết quả công tác xây dựng giá bán sản phẩm trong từng thời kỳ, từng 14 giai đoạn. Đây là hoạt động không thể thiếu để đánh giá hiệu quả công tác xây dựng giá bán sản phẩm của doanh nghiệp, qua đó để xem xét đánh giá và đưa ra những điều chỉnh một cách linh hoạt, kịp thời, đáp ứng mọi sự biến động của thị trường. Như vậy, chiến lược giá cả là một công cụ cạnh tranh sắc bén của mỗi doanh nghiệp, nó ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. chính vì vậy mỗi doanh nghiệp cần nghiên cứu, xây dựng và hoạch định chiến lược về giá bán sản phẩm của mình, sao cho phù hợp với những biến động của thị trường và mục tiêu xây dựng và phát triển củadoanh nghiệp. c. Hệ thống phân phối Chúng ta có thể hiểu kênh phân phối là một tập hợp các cá nhân hoặc tổ chức tham gia vào quá trình làm cho sản phẩm bán ra tới được tay khách hàng, do vậy nếu doanh nghiệp lựa chọn kênh phân phối không hợp lý có thể sẽ làm giảm sản lượng tiêu thụ sản phẩm, dẫn đến hàng hóa ế ẩm, không tiêu thụ được và Doanh nghiệp sẽ thất bại trong cạnh tranh. Đặc biệt là hiện nay các kênh phân phối càng thể hiện được vai trò quan trọng của mình trên thị trường bởi vì. + Chi phí vận chuyển thường tăng lên sau mỗi lần biến động giá nhiên liệu, điều đó đặt ra cho mỗi doanh nghiệp phải tìm ra cho mình những phương thức vận chuyển hợp lý nhất, tiết kiệm nhất trong lưu thông cho sản phẩm của mình. + Với tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật nhanh như hiện nay những doanh nghiệp chỉ dựa vào lợi thế về công nghệ để cạnh tranh thì khó tồn tại lâu, bởi đối thủ rất rễ bắt trước hoặc họ đầu tư những công nghệ thế hệ sau sẽ hiện đại hơn. Hơn nữa hiệu quả sản xuất không thể tăng vô hạn, khi đó nó gần như đã đạt điểm tối đa nên các doanh nghiệp khó có thể hy vọng vượt trội ở mặt này, do vậy các doanh nghiệp cạnh tranh phần lớn đặt nhiều hy vọng vào kênh phân phối của minh + Hiện nay các sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú về mẫu mã, chất lượng, kích cỡ, chính vì vậy các doanh nghiệp sẽ rất dễ gặp khó khăn trong thời hạn giao sản phẩm có chất lượng của mình cho khách hàng đúng hẹn, và nhiệm vụ quan trọng này doanh nghiệp lại tin tưởng đặt lên vai của những nh phân phối. + Trong thời buổi công nghệ thông tin phát triển như hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất đã có nhiều thay đổi lớn trong phương pháp quản lý hàng tồn kho. Nếu để số lượng hàng hóa tồn kho lớn sẽ làm tăng chi phí bảo quản, lưu kho và làm giảm chất lượng của sản phẩm. Khi đó các doanh nghiệp có xu hướng giảm hàng 15 tồn kho xuống mức cần thiết thấp nhất để giảm chi phí giá thành. Điển hình nhất trong phương pháp quản lý này là phương pháp quản lý “ vừa kịp lúc” của Nhật bản chính phương pháp quản lý này đã giúp cho các doanh nghiệp Nhật bản có được lợi thế cạnh tranh rất lớn trên thương trường và đã thắng được các doanh nghiệp Mỹ. Để thực hiện hiệu quả phương pháp quản lý này không gì tốt hơn là các Doanh nghiệp phải lựa chọn được kênh phân phối hợp lý nhất và tốt nhất cho mình. + Trên thực tế để xây dựng hoặc thay đổi được một kênh phân phối cần rất nhiều thời gian và công sức bởi nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan khác chứ không đơn thuần là mong muốn chủ quan của doanh nghiệp sản xuất. Để lựa chọn và tiến hành xây dựng một kênh phân phối vận hành một cách trơn tru có khi doanh nghiệp phải mất nhiều năm, chính vì vậy nếu Doanh nghiệp chọn được kênh phân phối có chất lượng tốt sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ sản phẩm, duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trên thực tế có rất nhiều hình thức tiêu thụ sản phẩm, như bán hàng trực tiếp, bán hàng thông qua các công ty bán buôn của mình, hoặc các hãng bán buôn độc lập, sử dụng mạng lưới bán lẻ của hãng, bán qua các cửa hàng, các hãng bán lẻ độc lập hoặc bán hàng qua điện thoại, bán hàng qua mạng Internet. Nhưng tùy vào từng loại sản phẩm hàng hóa, như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng…mà doanh nghiệp có thể lựa chọn cho doanh nghiệp mình một hình thức sao cho phù hợp nhất, việc lựa chọn và xây dựng kênh phân phối phải dựa trên các kết quả nghiên cứu kỹ lưỡng các đặc điểm của thị trường bao gồm, đặc điểm của nhóm khách hàng ( Cá nhân, tổ chức, khách hàng mục tiêu, khách hàng tiềm năng,..) đặc tính của sản phẩm như ( tính dễ hư hỏng, tính thời vụ, đặc điểm kỹ thuật của sản phẩm,..) đặc điểm môi trường như (điều kiện kinh tế, khả năng quản lý, các dàng buộc pháp lý, hoặc điều kiện địa lý). Trong những năm gần đây khi công nghệ thông tin phát triển mạnh ở mọi nơi, hệ thống giao thông được cải thiện đáng kể thì các doanh nghiệp đã có nhiều thay đổi trong vịêc lựa chọn kênh phân phối sản phẩm, trong đó các Doanh nghiệp có đều xu hướng chọn kênh phân phối trực tiếp. Sự lựa chon hình thức này cho phép doanh nghiệp phát triển các quan hệ hợp đồng và hệ thống các đơn hàng cá biệt. Với hình thức này việc thực hiện lịch giao hàng theo quy định sẽ tạo điều kiện cho khách hàng giảm được lượng hàng dự trữ tồn kho. Điều đó cũng là tiền đề để phát triển sản xuất kinh doanh có tính đến yêu cầu cụ thể của khách hàng. (với điều này doanh nghiệp đã trả lời được câu hỏi, sản xuất cho ai?) 16 1.1.4. Khái niệm và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. a. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Như chúng ta đã nghiên cứu ở phần trên các định nghĩa về cạnh tranh, để có thể cạnh tranh thắng lợi trước các đối thủ mỗi doanh nghiệp phải có năng lực cạnh tranh nhất định. Vậy năng lực cạnh tranh là gì? với câu hỏi này thật khó trả lời một cách chính xác, hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra một định nghĩa chính xác cho vấn đề này. Trên thương trưòng khi các chủ thể cạnh tranh với nhau để giành thắng lợi về phía mình, các chủ thể đó phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của doanh nghiệp mình trên thương trường đó. Các biện pháp mà doanh nghiệp áp dụng thể hiện một sức mạnh nào đó, một khả năng nào đó hoặc một năng lực nào đó của chủ thể, và nó được gọi là năng lực canh tranh của chủ thể đó. Khi muốn chỉ một sức mạnh, một khả năng duy trì được vị trí của một hàng hóa nào đó trên thị trường người ta cũng dùng thuật ngữ năng lực cạnh tranh của hàng hóa, thuật ngữ đó cũng là để chỉ mức độ hấp dẫn của hàng hóa đó đối với khách hàng. Một tác giả sau khi đã nghiên cứu phân tích bản chất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cho rằng “ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế so sánh của nó so với đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp mình.” Một số quan điểm cho rằng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với việc thu lợi nhuận nhất định. Tất cả các nghiên cứu mặc dù xuất phát từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng đều cho thấy năng lực cạnh tranh đều liên quan đến hai khía cạnh đó làchiếm lĩnh thị trường và lợi nhuận mang lại. Như vậy có thể nói năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là “ Khả năng tồn tại, duy trì hoặc gia tăng lợi nhuận, chiếm lĩnh thị phần trên thị trường của các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp”. Với những nghiên cứu ở trên chúng ta cần phân biệt năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Trong đó năng lực cạnh tranh hàng hóa dịch vụ có thể hiểu khái quát là tổng thể các yếu tố gắn liền với hàng hóa, dịch vụ đó cùng với các điều kiện, công cụ và biện pháp cấu thành khả năng cạnh tranh được chủ thể dùng để ganh đua với nhau 17 nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và đem lại nhiều lợi ích hơn cho chủ thể tham gia cạnh tranh. Đối với năng lực cạnh tranh quốc gia, diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) cho rằng “ Khả năng cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng trên cơ sở các chính sách thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ khác nhau ở chỗ Doanh nghiệp là một tổ chức chặt chẽ, có thể đồng thời sản sản nhiều mặt hàng với năng lực cạnh tranh khác nhau. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được thể hiện năng lực của sản phẩm đó có thể thay thế một sản phẩm khác đồng nhất hoặc khác biệt, có thể do đặc tính chất lượng sản phẩm hoặc giá cả sản phẩm. Do vậy năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa dịch vụ là một trong những yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh chung cho Doanh nghiệp. Trong khi đó cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có thể diễn ra khi họ cung ứng trên cùng một thị trường những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ hoàn toàn giống nhau hoặc khác nhau, nhưng có thể thay thế cho nhau. Trong cùng một thời gian nếu doanh nghiệp nào bán được nhiều sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình hơn và ngày càng chiếm được thị phần nhiều hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác thì doanh nghiệp đó được đánh giá là có năng lực cạnh tranh cao hơn. Còn năng lực cạnh tranh quốc gia là tổng hợp năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong quốc gia đó. Chính vì vậy nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp là một vấn đề đặc biệt quan trọng của mỗi quốc gia. Trong giai đoạn hiện nay, trong xu thế chúng ta đang chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng, để tồn tại và phát triển bền vững mỗi doanh nghiệp nói riêng và quốc gia nói chung cần quan tâm chú trọng đầu tư toàn diện để nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động giành phần thắng lợi về mình trước những đối thủ cạnh tranh khác. b. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang thúc đẩy mạnh mẽ, sâu sắc quá trình chuyên môn hóa và hợp tác quốc tế, lực lượng sản xuất lớn mạnh đang được dần quốc tế hóa. Cuộc cách mạng công nghệ thông tin đang làm cho nền kinh tế thế giới gắn bó, ràng buộc lẫn nhau dẫn tới không một quốc gia nào, một nền kinh tế, một dân tộc nào muốn phát triển mà có thể tách rời khỏi hệ
- Xem thêm -