Thực trạng tổ chức hạch toán kế toán quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá tại công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị giao thông vận tải

  • Số trang: 125 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 8 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Luận văn Thực trạng tổ chức hạch toán kế toán quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá tại công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị giao thông vận tải 1 Phần I : lý luận chung về công tác hạch toán kế toán quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá trong các doanh nghiệp. I. ý nghĩa của hạch toán kế toán. Khái niệm hạch toán kế toán. Hoạt động kinh tế tạo ra của cải vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Xã hội loài người càng phát triển thì mức độ phức tạp và đa dạng của các hoạt động kinh tế càng tăng, mối quan tâm của con người đến hoạt động kinh tế cũng càng tăng. Điều này đặt ra nhu cầu tất yếu phải thực hiện chức năng quản lý kinh tế. Để quản lý được các hoạt động kinh tế thì cần thiết phải có số liệu, để có được các số liệu phục vụ cho hoạt động quản lý, đòi hỏi phải thực hiện việc quan sát, đo lường, tính toán và ghi chép các hoạt động đó. Tất cả những công việc này nhằm thực hiện chức năng giám sát các hoạt động kinh tế tài chính gọi là hạch toán kế toán. Vậy hạch toán kế toán được hiểu như sau : Hạch toán kế toán là một hệ thống thông tin và kiểm tra về tài sản trong các doanh nghiệp, các tổ chức bằng hệ thống phương pháp khoa học như chứng từ, tính giá, đối ứng tài khoản và tổng hợp - cân đối kế toán. 2. Đặc điểm hạch toán kế toán. Hạch toán kế toán với chức năng phản ánh và giám đốc các mặt hoạt động kinh tế tài chính trong tất cả các doanh nghiệp và các tổ chức nên có những đặc điểm sau : Thứ nhất, Hạch toán kế toán nghiên cứu tài sản trong mối quan hệ với nguồn hình thành và quá trình vận động của tài sản trong các tổ chức, các đơn vị nhờ đó mà hạch toán kế toán thực hiên được sự giám đốc liên tục cả trước, trong và sau quá trình sản xuất kinh doanh và sử dụng vốn. 2 Thứ hai, Hạch toán kế toán các nghiệp vụ kinh tế đều được ghi chép theo giá trị và biểu hiện bằng tiền. Nhờ đó mà hạch toán kế toán cung cấp được các chỉ tiêu tông hợp phục vụ cho việc giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế tài chính. Thứ ba, Hạch toán kế toán sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu khoa học như chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá, tổng hợp - cân đối kế toán để nghiên cứu đối tượng của mình. Trong đó phương pháp lập chứng từ kế toán là thủ tục hạch toán đầu tiên và bắt buộc phải có đối với mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Nhờ đó mà số liệu do kế toán phản ánh bảo đảm được tính chính xác và có cơ sở pháp lý vững chắc. 3. ý nghĩa của hạch toán kế toán trong hoạt động quản lý. Sản phẩm của hạch toán kế toán là thông tin kế toán. Trong đó để ra các quyết định quản lý các nhà quản lý sử dụng rất nhiều nguồn thông tin khác nhau, nhưng thông tin kế toán là quan trọng nhất và không thể thiếu được. Bởi vì nghiên cứu bản chất của hạch toán kế toán ta thấy chức năng chính của hạch toán kế toán là phản ánh và giám đốc các mặt hoạt động kinh tế tài chính ở tất cả các doanh nghiệp, tổ chức. Do đó toàn bộ bức tranh về hoạt động sản xuất kinh doanh từ khâu đầu tiên, là cung cấp vật tư cho sản xuất, qua khâu sản xuất đến khâu cuối cùng là tiêu thụ đều được phản ánh thật đầy đủ và sinh động qua thông tin kế toán. Hơn thế nữa hạch toán kế toán còn thực hiện chức năng phản ánh và giám đốc một cách liên tục, toàn diện có hệ thống mọi hoạt động kinh tế qua hai mặt của mỗi hiện tượng, mỗi quá trình : vốn và nguồn, tăng và giảm, chi phí và kết quả. Vì vậy thông tin kế toán có ý nghĩa rất lớn trong hoạt động quản lý. Cụ thể : Hạch toán kế toán giúp các nhà quản lý định ra các kế hoạch, dự án và kiểm tra việc thực hiện các kế hoạch, các dự án đặt ra; qua việc phân tích các thông tin kế toán ban giám đốc sẽ quyết định nên sản xuất mặt hàng nào, với nguyên liệu gì 3 và mua từ đâu, nên đầu tư mới hay duy trì thiết bị cũ, nên mua bên ngoài hay tự sản xuất, nên tiếp tục hoạt động hay chuyển hướng hoạt động sang những lĩnh vực mới. Hạch toán kế toán giúp các nhà đầu tư, chủ nợ có được các quyết định có nên đầu tư hoặc cho vay hay không và đồng thời cũng biết được doanh nghiệp đã sử dụng vốn đó như thế nào, có hiệu quả hay không, có đúng mục đích hay không; nhờ vào các thông tin về hiệu quả của một thời kỳ kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp. Hạch toán kế toán cũng giúp cho Nhà nước trong việc hoạch định chính sách, soạn thảo luật lệ; thông qua kiểm tra tổng hợp các số liêu kế toán Nhà nước nắm được tình hình chi phí, lợi nhuận của các đơn vị từ đó đề ra các chính sách về đầu tư, thuế vụ thích hợp. II. Một số vấn đề chung về công tác hạch toán kế toán quá trình tiêu thụ trong doanh nghiệp. 1. Một số khái niệm liên quan đến quá trình tiêu thụ.  Quá trình tiêu thụ: là quá trình doanh nghiệp chuyển giao hàng hoá, sản phẩm hoặc cung cấp lao vụ, dịch vụ cho khách hàng, được khách hàng trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán. Nội dung của quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá gồm : + Xuất sản phẩm, hàng hoá để bán và thanh toán với người mua + Tính chính xác các khoản doanh thu bán hàng, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại. + Tính chính xác các khoản thuế doanh thu và thuế tiêu thụ đặc biệt để xác định doanh thu thuần và cuối cùng xác định lãi - lỗ vê tiêu thụ sản phẩm. 4  Doanh thu bán hàng là tổng giá trị được thực hiện do việc bán hàng hoá; sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ, lao vụ cho khách hàng. Căn cứ vào chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn tất cả 5 điều kiện sau : + Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua; + Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hoá như người sở hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá; + Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; + Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; + Doanh nghiệp xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hoá cho người mua trong từng trường hợp cụ thể. Trong hầu hết các trường hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng hoá cho người mua. Trường hợp doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hoá thì giao dịch không được coi là hoạt động bán hàng và doanh thu không được ghi nhận. Cụ thể doanh nghiệp còn phải chịu rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hoá như : + Doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản được hoạt động bình thường mà việc này không nằm trong các điều khoản bảo hành thông thường; 5 + Khi việc thanh toán tiền bán hàng còn chưa chắc chắn vì phụ thuộc vào người mua hàng hoá đó; + Khi hàng hoá được giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đó là một phần quan trọng của hợp đồng mà doanh nghiệp chưa hoàn thành; + Khi người mua có quyền huỷ bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó được nêu trong hợp đồng mua bán và doanh nghiệp chưa chắc chắn về khả năng hàng bán có bị trả lại hay không. Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hoá thì việc bán hàng được xác định và doanh thu được ghi nhận. Ví dụ như doanh nghiệp còn nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu hàng hoá chỉ để đảm bảo sẽ nhận được đủ các khoản thanh toán. Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong (ví dụ, khi doanh nghiệp không chắc chắn là Chính phủ nước sở tại có chấp nhận chuyển tiền bán hàng ở nước ngoài về hay không). Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chưa thu được tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ mà không được ghi giảm doanh thu. Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu. Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định là thực sự không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi.  Doanh thu thuần : là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với các khoản giảm giá; chiết khấu bán hàng, doanh thu của số hàng bán bị trả lại; thuế giá trị gia tăng đầu ra; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế xuất khẩu. 6  Chiết khấu bán hàng : là số tiền tính trên tổng số doanh thu trả cho khách hàng. Chiết khấu bán hàng gồm :  Chiết khấu thanh toán : là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng.  Chiết khấu thương mại : Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng .Hình thức chiết khấu này gồm có 2 loại : + Bớt giá: Là số tiền giảm trừ cho người mua do người mua mua với khối lượng lớn tính trên giá bán thông thường. + Hồi khấu : Là số tiền giảm trừ cho người mua tính trên số lần các nghiệp vụ mua hàng của một khách hàng trong một thời gian nhất định.  Giảm giá hàng bán : Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hoá kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu, giao hàng không đúng thời gian địa điểm trong hợp đồng.  Hàng bán bị trả lại : Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán do không tôn trọng hợp đồng kinh tế như đã ký kết.  Lãi gộp : là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn hàng bán.  Kết quả tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ : là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với trị giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. 2. Yêu cầu quản lý quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá. 2.1 Vị trí, vai trò của quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá. Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình kinh doanh; là chiếc cầu trung gian nối người bán với người tiêu dùng ( nối cung với cầu). Thông qua tiêu thụ giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá được thực hiện; thông tin phản hồi từ phía thị 7 trường được ghi nhận. Chính vì vậy quá trình tiêu thụ giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong nền kinh tế và sự quan trọng ấy được biểu hiện qua vai trò của nó trong nền kinh tế như sau : Về phía xã hội, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là một trong những khâu quan trọng của tái sản xuất xã hội. Tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá có tác dụng nhiều mặt tới tiêu dùng xã hội. Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá mà đa dạng, phong phú, đầy đủ, kịp thời thì càng thoả mãn được nhu cầu tiêu dùng của xã hội và ngược lại nhu cầu tiêu dùng của xã hội càng tăng lại càng thúc đẩy sản xuất phát triển. Như vậy, thông qua thị trường, tiêu thụ góp phần điều hoà sự cân bằng giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa hàng hoá và tiền tệ trong lưu thông, giữa nhu cầu và khả năng thanh toán... tạo sự thích ứng tối đa giữa cung và cầu trong lĩnh vực tiêu dùng. Tiêu thụ là điều kiện để đảm bảo sự phát triển cân đối trong từng ngành, từng vung cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Về phía doanh nghiệp, hoạt động tiêu thụ là tấm gương phản chiếu tình hình sản xuất kinh doanh lỗ hay lãi; là thước đo để đánh giá chất lượng kinh doanh của doanh nghiệp.Tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá là cơ sở hình thành nên doanh thu và lợi nhuận tạo ra thu nhập để bù đắp chi phí bỏ ra nhằm bảo tồn và phát triển vốn kinh doanh. Thông qua tiêu thụ doanh nghiệp nắm được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng từ đó có chính sách đáp ứng phù hợp để đẩy mạnh doanh số bán ra, nâng cao doanh thu, mở rộng thị trường nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Ngoài ra kết quả tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá là cơ sở đánh giá hiệu quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ nhất định đối với mỗi doanh nghiệp. Trên cơ sở đó xác định phần nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế Nhà nước với tập thể cá nhân người 8 lao động. Kết quả tiêu thụ là nguồn số liệu quan trọng cho các bên quan tâm đầu tư hoặc cho doanh nghiệp vay vốn. Như vậy, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá có vai trò rất quan trọng trong việc sử dụng và phân bổ nguồn lực có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân nối chung và đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng. Nhất là tronng điều kiện hiện nay tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá mạnh khẳng định khả năng kinh doanh của mỗi doanh nghiệp trên thương trường; tạo uy tín và sự đảm bảo thành công về lâu dài. 2.2. Yêu cầu quản lý quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá. Do quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá có vai trò và vị trí quan trọng như trên đã trình bầy nên công tác quản lý quá trình tiêu thụ cần phải đảm bảo các yêu cầu sau : 1) Nắm chắc sự vân động của từng loại sản phẩm hàng hoá trong quá trình nhập, xuất và tồn kho theo các chỉ tiêu về số lượng, chất lượng và giá trị. 2) Theo dõi chặt chẽ các phương thức bán hàng, từng thể thức thanh toán, từng loại hàng hoá tiêu thụ và từng đối tượng khách hàng. 3) Tính toán và xác định đúng đắn kịp thời kết quả tiêu thụ của từng loại sản phẩm hàng hoá. 3. ý nghĩa và nhiệm vụ hạch toán quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá. Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh. Thông qua tiêu thụ giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá được thực hiện, doanh nghiệp thu hồi được vốn bỏ ra. Cũng chính trong giai đoạn tiêu thụ này, bộ phận giá trị mới sáng tạo ra trong khâu sản xuất được thưch hiện và biểu hiện dưới hình thức lợi nhuận. Đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sẽ góp phần tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn nói riêng và hiệu quả sử dụng vốn nói chung, đồng thời góp phần thoả 9 mãn nhu cầu tiêu dùng xã hội. Với ý nghĩa đó hạch toán quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá có nhiệm vụ sau : 1) Phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác tình hình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. 2) Tính chính xác các khoản bị giảm trừ, thanh toán với người kách hàng, với ngân sách Nhà nước và các khoản thuế phải nộp. 3) Tính toán chính xác các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá. 4) Xác định kịp thời kết quả tiêu thụ của từng mặt hàng, từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cũng như toàn bộ lợi nhuận về tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. 4. Các phương thức tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá trong doanh nghiệp. Phương thức tiêu thụ là các cách thức bán hàng và thanh toán tiền hàng giữa doanh nghiệp và khách hàng. Trên thực tế sản phẩm hàng hoá có thể được tiêu thụ theo các cách sau : 1.1. Bán buôn Bán buôn là phương thức bán hàng với số lượng lớn và hàng hoá sau khi bán vẫn còn trong lĩnh vực lưu thông. Theo phương thức bán buôn có 2 hình thức bán hàng là :  Bán buôn qua kho : là phương thức bán buôn sản phẩm hàng hoá mà hàng bán được xuất ra từ chính kho của doanh nghiệp. Trong phương thức này có 2 hình thức bán : + Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp : Theo hình thức này doanh nghiệp xuất hàng bán ngay tại kho của doanh nghiệp và giao trực tiếp cho đại diện bên mua hàng. Sau khi đại diện bên mua hàng nhận đủ hàng, thanh toán 10 tiền hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì hàng hoá được xác nhận là tiêu thụ doanh nghiệp mất quyền kiểm soát và sở hữu số hàng đó. + Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng : Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng mua hàng đã ký kết hoặc đơn đặt hàng của khách hàng doanh nghiệp xuất kho hàng hoá theo yêu cầu bằng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài đến một địa điểm đã thoả thuận trước với bên mua và giao hàng cho bên mua. Hàng hoá trong quá trình vận chuyển vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Số hàng này chỉ được xác định là tiêu thụ khi nhận được tiền do bên mua thanh toán hoặc thông báo chấp nhận thanh toán của bên mua. Chi phí vận chuyển số hàng này do doanh nghiệp chịu hay bên mua chịu là do sự thoả thuận trước trong hợp đồng giữa hai bên. Nếu doanh nghiệp chịu chi phí vận chuyển thì khoản chi phí này sẽ được ghi vào chi phí bán hàng. Nếu bên mua chịu, chi phí vận chuyển  Bán buôn vận chuyển thẳng không qua kho : là phương thức bán buôn sản phẩm hàng hoá theo hình thức sau khi mua hàng, doanh nghiệp nhận hàng mua không đưa về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. Phương thức này chỉ áp dụng đối với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại; doanh nghiệp thương mại phải tiến hành thanh toán với cả bên bán và bên mua hoặc chỉ làm trung gian, môi giới để hưởng hoa hồng. Theo phương thức này có 2 hình thức bán : + Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán : Theo hình thức này doanh nghiệp thương mại vừa tiến hành thanh toán với bên cung cấp về hàng mua vừa tiến hành thanh toán với bên mua về hàng bán. Nếu hàng hoá bán buôn vận chuyển thẳng do doanh nghiệp thương mại chuyển đến cho bên mua theo hợp đồng thì số hàng đó vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại trong quá trình vận chuyển. Số hàng này được xem là tiêu thụ khi doanh nghiệp 11 thương mại nhận được tiền hàng thanh toán của bên mua hoặc thông báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán. Nếu bên mua nhận hàng trực tiếp doanh nghiệp không phải vận chuyển thì khi giao xong hàng hoá cho bên mua đồng thời bên mua thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng này được coi là tiêu thụ. + Bán buôn vân chuyển thẳng không tham gia thanh toán : Theo hình thức này doanh nghiệp chỉ làm trung gian, môi giới trong mối quan hệ giữa bên cung cấp và bên mua. Doanh nghiệp uỷ nhiệm cho bên mua nhận hàng và thanh toán tiền hàng với bên cung cấp về số lượng hàng trong hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký kết với bên cung cấp. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không phát sinh nghiệp vụ mua hàng, bán hàng. Tuy nhiên tuỳ theo điều kiện ký kết trong hợp đồng mà doanh nghiệp bán buôn được hưởng một khoản hoa hồng do bên cung cấp hoặc bên mua trả; khoản hoa hồng này được coi là doanh thu của quá trình tiêu thụ. 1.2. Bán lẻ. Bán lẻ là phương thức tiêu thụ hàng hoá với số lượng nhỏ, chấm dứt hình thức mua bán, hàng hoá chuyển vào lĩnh vực tiêu dùng thực hiện phần giá trị sử dụng của nó. Phương thức tiêu thụ này thường được áp dụng trong các quầy hàng, cửa hàng và siêu thị. Trong phương thức bán lẻ có các hình thức bán hàng sau :  Bán hàng thu tiền tập trung : Theo hình thức này, việc thu tiền của người mua và giao hàng cho người mua tách rời nhau. Mỗi quầy hàng hoặc cửa hàng có nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách hàng, viết hoá đơn hoặc tích kê cho khách hàng để khách hàng đến nhận hàng ở quầy do nhân viên bán hangf giao. Hết ca, hết ngày bán hàng, nhân viên bán hàng căn cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số hàng đã bán trong ca, 12 trong ngày và lập báo cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền có nhiệm vụ nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ và làm giấy nộp tiền.  Bán hàng thu tiền trực tiếp : Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách hàng và giao hàng cho khách. Hết ca, hết ngày bán hàng, nhân viên bán hàng nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ và làm giấy nộp tiền hàng; sau đó kiểm kê tồn quầy để xác định số hàng bán trong ca, trong ngày và lập báo cáo bán hàng.  Bán hàng tự chọn : Theo hình thức này, khách hàng tự chọn lấy hàng hoá, trước khi ra khỏi cửa hàng mang hàng đến bộ phận thu tiền để thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền tính tiền hàng và thu tiền của khách hàng. Hình thức này áp dụng phổ biến ở các siêu thị hoặc cửa hàng tự chọn. 1.3. Phương thức gửi bán, chờ chấp nhận (hay còn gọi là phương thức chuyển hàng theo hợp đồng): Theo phương thức này, bên bán chuyển hàng cho bên mua theo địa điểm ghi trong hợp đồng. Số hàng chuyển đi này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi được người mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán về số hàng chuyển giao (một phần hay toàn bộ) thì số hàng chấp nhận này mới được coi là tiêu thụ. 1.4. Phương thức ký gửi, đại lý : Theo phương thức này, bên bán xuất giao hàng cho các đơn vị, cá nhân làm đại lý. Số hàng gửi giao cho đại lý vẫn thuộc sở hữu của doanh nghiệp; chỉ khi nào nhận được thông báo của các đại lý (hoặc quá thời hạn quy định) thì số hàng gửi đại lý mới chính thức coi là tiêu thụ. Theo phương thức này chủ hàng phải trả hoa hồng cho đại lý và được tính vào chi phí bán hàng; đại lý được hưởng hoa hồng tính vào doanh thu bán hàng. 1.5. Phương thức bán hàng trả góp : 13 Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng chuyển giao được coi là tiêu thụ, người mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua một phần số tiền phải trả và chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định. Thông thường số tiền trả ở các kỳ bằng nhau, trong đó bao gồm một phần doanh thu gốc và một phần lãi suất trả chậm. Ngoài các phương thức trên thì một số trường hợp sau cũng được coi là tiêu thụ: + Hàng hoá xuất để đổi lấy hàng hoá khác + Hàng hoá xuất để trả lương, thưởng cho cán bộ công nhân viên + Hàng hoá xuất làm qùa biếu, tặng trong các dịp đặc biệt như lễ, tết, hội nghị khách hàng... 5. Các phương thức thanh toán. Công tác tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong doanh nghiệp có thể tiến hành theo nhiều phương thức khác nhau; mặc dù vậy việc tiêu thụ này nhất thiết phải được gắn với hoạt động thanh toán với người mua, với cơ quan thuế về các khoản thuế của hàng hoá tiêu thụ. 5.1. Thanh toán với người mua. Trên thực tế hoạt động thanh toán sản phẩm hàng hoá với người mua có thể thực hiện theo các phương thức sau :  Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt : Theo phương thức này, việc giao hàng và thanh toán tiền hàng được thực hiện ở cùng một thời điểm và ngay tại doanh nghiệp.  Thanh toán chậm : Là phương thức thanh toán mà thời gian giao hàng và thời gian thanh toán là khác nhau, tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của hai bên.  Thanh toán qua ngân hàng : Theo phương thức này có các hình thức sau : 14 + Thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng với điều kiện người mua đã chấp nhận thanh toán. Việc tiêu thụ được xem là đã thực hiện, doanh nghiệp chỉ cần theo dõi việc thanh toán với người mua. + Thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng với điều kiện người mua có quyền từ chối không thanh toán một phần hoặc toàn bộ giá trị hàng mua do khối lượng hàng gửi ddến cho người mua không phù hợp với hợp đồng về số lượng, chất lượng và quy cách. Theo hình thức này, sản phẩm hàng hoá đã được chuyển đến cho người mua nhưng chưa được coi là tiêu thụ doanh nghiệp cần theo dõi tinhf hình chấp nhận hay không chấp nhận để xử lý trong thời hạn quy định bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp. + Thanh toán bằng thư tín dụng (L/C) : Hình thức này thường áp dụng đối với những khách hàng nước ngoài. Theo hình thức này, doanh nghiệp phải mở thư tín dụng (L/C) theo hợp đồng thương mại đã ký kết. Tiến trình mở thư tín dụng (L/C) do ngân hàng mở thư tín dụng thực hiện theo yêu cầu của người mua. Ngân hàng mở L/C sẽ là người trả tiền cho người bán trên cơ sở kiểm tra mức độ phù hợp của chứng từ với L/C đã mở. 5.2. Thanh toán với ngân sách Nhà nước. Thanh toán với ngân sách Nhà nước là thanh toán các khoản thuế như thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên, thuế nhà đất, các loại thuế, phí, lệ phí khác với Nhà nước.Trong phạm vi bài viết này, để tiện cho việc đối chiếu ở phần II em chỉ đề cập đến cách xác định khoản thuế GTGT đầu ra của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ theo phương pháp khấu trừ thuế. Căn cứ vào Thông tư số 122/2000/TT-BTC về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT ngày 29/12/2000 thì : Số thuế GTGT Thuế GTGT 15 Thuế GTGT đầu vào phải nộp đầu ra được khấu trừ Trong đó, thuế GTGT đầu ra bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân với thuế suất thuế GTGT của hàng hoá dịch vụ đó. Thuế GTGT đầu ra Giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ bán ra Thuế suất thuế GTGT * hàng hoá, dịch vụ bán ra Doanh nghiệp kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra. Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, doanh nghiệp phải ghi rõ giá bán chưa có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán. Trường hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán, không ghi giá chưa có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ. Doanh thu chưa có thuế được xác định bằng giá bán trừ thuế tính trên giá bán. III. Nội dung hạch toán tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá trong doanh nghiệp. 1. Tài khoản sử dụng. 1.1 Tài khoản 511 "Doanh thu bán hàng" :  Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh tổng số doanh thu bán hàng thực tế, các khoản giảm trừ doanh thu và xác định doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp. Tài khoản này được chi tiết làm 4 tiểu khoản : + TK 5111 “Doanh thu bán hàng hoá”: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và doanh thu thuần của khối lượng hàng hoá đã xác định là tiêu thụ. TK 5111 được sử dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp kinh doanh vật tư, hàng hoá. 16 + TK 5112 “Doanh thu bán thành phẩm” : Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và doanh thu thuần của khối lượng thành phẩm và bán thành phẩm đã được xác định là tiêu thụ. TK 5112 chủ yếu dùng cho các doanh nghiệp sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp, ngư nghiệp, lâm nghiệp. + TK 5113 “Doanh cung cấp dịch vụ”: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và doanh thu thuần của khối lượng dịch vụ, lao vụ đã hoàn thành, đã cung cấp cho khách hàng và đã xác định là tiêu thụ. TK 5113 chủ yếu dùng cho các ngành, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như giao thông vận tải, bưu điện, dịch vụ công cộng, du lịch. + TK 5114 “Doanh thu trợ cấp, trợ giá”: Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản thu từ trợ cấp, trợ giá của Nhà nước khi doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước.  Kết cấu : TK 511 được kết cấu như sau :  Bên Nợ : + Số chiết khấu bán hàng, giảm giá hàng bán; + Doanh thu của hàng bán bị trả lại; + Số thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp; + Kết chuyển doanh thu thuần sang tài khoản xác định kết quả kinh doanh cuối kỳ.  Bên Có : Tổng doanh thu bán hàng thực tế trong kỳ.  TK 511 cuối kỳ không có số dư. 1.2. Tài khoản 512 "Doanh thu bán hàng nội bộ".  Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu do bán sản phẩm hàng hoá trong nội bộ doanh nghiệp, giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty hoặc tổng công ty. Tài khoản này có 3 tài khoản cấp 2 : 17 + TK 5121 “Doanh thu bán hàng hoá”: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của khối lượng hàng hoá đã được xác định là tiêu thụ nội bộ. TK này chủ yếu dùng cho các doanh nghiệp thương mại như vật tư lương thực. + TK 5122 “Doanh thu bán thành phẩm”: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của khối lượng sản phẩm cung cấp giữa các đơn vị thành viên trong cùng công ty hay tổng công ty. TK này chủ yếu dùng cho các doanh nghiệp sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp, xây lắp, ngư nghiệp, lâm nghiệp. + TK 5123 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”: Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của khối lượng dịch vụ, lao vụ đã cung cấp cho các đơn vị thành viên trong cùng công ty, tổng công ty. TK 5123 chủ yếu dùng cho các ngành, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như giao thông vận tải, bưu điện... Khi sử dụng TK 512 cần lưu ý một số điểm sau : - Tài khoản này chỉ sử dụng cho các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc trong một công ty hay tổng công ty, nhằm phản ánh số doanh thu tiêu thụ nội bộ trong kỳ. - Chỉ phản ánh vào TK này số doanh thu của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, lao vụ của các đơn vị thành viên cung cấp lẫn nhau. - Không hạch toán vào TK này các khoản doanh thu bán hàng cho các doanh nghiệp không trực thuộc công ty, tổng công ty.  Kết cấu : Tài khoản 512 có kết cấu tương tự kết cấu tài khoản 511. 1.3. Tài khoản 531 " doanh thu hàng bán bị trả lại".  Nội dung : TK 531 dùng để phản ánh trị giá của sản phẩm hàng hoá, dich vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do không đúng quy cách phẩm chất hoặc do vi phạm hợp đồng kinh tế.TK 531 không có tài khoản chi tiết cấp 2.  Kết cấu : 18  Bên Nợ : Doanh thu của hàng đã bán nhưng bị khách hàng trả lại trong kỳ.  Bên Có : Kết chuyển doanh thu của hàng bán bị trả lại sang TK 511.  Tài khoản này cuối kỳ không có số dư. 1.4. Tài khoản 532 " Giảm giá hàng bán".  Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh khoản giảm giá cho khách hàng với giá bán đã thoả thuận. Chỉ phản ánh vào tài khoản này các khoản giảm trừ do việc chấp thuận giảm giá ngoaig hoá đơn, tức là sau khi có hoá đơn bán hàng. Không phản ánh vào tài khoản này số giảm giá đã được ghi trong hoá đơn bán hàng và đã được trừ vào tổng trị giá bán ghi trên hoá đơn. TK 532 không có tài khoản chi tiết cấp 2.  Kết cấu :  Bên Nợ : Khoản giảm giá hàng bán thực tế phát sinh trong kỳ.  Bên Có : Kết chuyển tổng số tiền giảm giá hàng bán vào TK 511.  Cuối kỳ, tài khoản này không có số dư. 1.5. Tài khoản 811 " Chi phí tài chính".  Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh chiết khấu bán hàng doanh nghiệp chấp nhận trả cho người mua.  Kết cấu :  Bên Nợ : Phản ánh số tiền chiết khấu bán hàng phát sinh trong kỳ đã chấp nhận trả cho người mua.  Bên Có : Kết chuyển chiết khấu bán hàng vào TK 911.  Cuối kỳ tài khoản này không có số dư. 1.6. Tài khoản 3331 " Thuế GTGT phải nộp". 19  Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu ra, số thuế GTGT phải nộp, số thuế GTGT đã nộp và còn phải nộp ngân sách Nhà nước. Tài khoản này có 2 tài khoản cấp 2 : + TK 33311 “Thuế GTGT đầu ra ” + TK 33312 “Thuế GTGT hàng nhập khẩu”  Kết cấu :  Bên Nợ : + Kết chuyển số thuế GTGT đầu vào. + Số thuế GTGT đã nộp cho Nhà nước  Bên Có : Thuế GTGT đầu ra  Dư Có : Số thuế GTGT còn phải nộp cho Nhà nước. 1.7. Tài khoản 632 " Giá vốn hàng bán".  Nội dung : Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ.  Kết cấu :  Bên Nợ : Trị giá vốn sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã được xác định là tiêu thụ.  Bên Có : Kết chuyển giá vốn sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ vào tài khoản 911.  Tài khoản này cuối kỳ không có số dư. 1.8. Tài khoản 611 "Mua hàng hoá".  Nội dung : Tài khoản này được sử dụng để theo dõi trị giá hàng mua vào bao gồm trị giá mua ghi trên hoá đơn và các chi phí thu mua liên quan trực tiếp đến quá trình mua hàng theo phương pháp kiểm kê định kỳ.Tài khoản này có 2 tài khoản chi tiết cấp 2 : 20
- Xem thêm -