Thực trạng phát triển công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu và một số giải pháp chủ yếu

  • Số trang: 14 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

MỞ ĐẦU Đường lối chính sách Đại hội Đảng toàn quốc Việt Nam lần thứ VI phân tích nguyên nhân của tình hình khủng hoảng kinh tế xã hội , định hướng đúng đắn ,đề ra đường lối đổi mới cho nền kinh tế nước ta là thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế sang cơ chế thị trường, các lĩnh vực sản xuất xã hội như công nghiệp dịch vụ, nông nghiệp, dịch vụ ngày càng phát triển và đặc biệt tính chất sản xuất hàng hoá ngày càng cao.Góp phần quan trọng trong thành tựu chung của đất nước hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đã giải quyết những vấn đề kinh tế, khai thác được nội lực và phát huy được tiềm năng lợi thế so sánh đất nước.Đặc biệt sản xuất nông nghiệp của nước ta từ nền sản xuất nhỏ, tự cung cấp dựa trên thói quen và những kinh nghiệm truyền thống không gắn với thị trường thì qua giai đoạn đổi mới vừa qua nền sản xuất nông nghiệp nước ta đã có những bước phát triển trên mọi mặt, từng bước chuyển sang nền nông nghiệp hàng hoá với sụ phát triển của kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại. Vấn đề đặt ra đối với sản xuất nông nghiệp đã qua chế biến là khả năng tiêu thụ sản phẩm. Thực trạng trong thời gian vừa qua sản xuất nông nghiệp của Việt nam phải đối mặt với nhiều khó khăn nhưng lớn nhất vẫn là tình trạng dư thừa hàng nông sản, giá cả ngày càng giảm dẫn tới tình trạng không đủ bù đắp chi phí gây thiệt hại rất lớn cho nông dân và cho nền kinh tế. Vấn đề tiêu thụ nông sản không còn là vấn đề mới mẻ song luôn là vần đề còn nhiều điều phải nghiên cứu thêm vì vậy mà em đã chọn đề tài là: “Thực trạng phát triển công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu và một số giải pháp chủ yếu”. Trang 1 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN XUẤT KHẨU 1. Lợi thế so sánh về xuất khẩu Trước hết về khí hậu của nước ta thuận lợi cho phát triển sản xuất vì có nhiều nước,, ánh sáng mặt trời, nhiệt độ ẩm… Đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn và đang có khả năng mở rộng nữa. Nhân dân ta cần cù lao động, có nhiều kinh nghiệm trong việc sản xuất các mặt hàng về nông dân cho đời sống hàng ngày và cho xuất khẩu. Với dân số 80 triệu người, trong đó trên 70% làm nông nghiệp có đủ sức sản xuất, nhân công của nước ta thấp nên giá thành sản xuất rẻ. Với việc vận tải nhiều thuận lợi nên chi phí xuất khẩu kể cả vận tải thấp có thể cạnh tranh được với nước khác. Đây là điều kiện thuận lợi chủ yếu bằng đường biển và xe lửa cho nước ta để sản xuất và xuất khâủ những mặt hàng nông sản 2. Tiềm năng xuất khẩu những mặt hàng nông sản đã qua chế biến Nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, Việt Nam có tiềm năng to lớn để phát triển nền nông nghiệp toàn diện hướng tới mục tiêu vừa thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng ở trong nước, vừa phục vụ xuất khẩu. Trong những năm qua, xuất khẩu nông sản Việt Nam đã đạt được những buớc tiến mạnh mẽ, song tập chung chủ yếu vào các sản phẩm thô, tỷ lệ nông sản chế biến xuất khẩu còn hết sức nhỏ bé. Phát triển công nghiệp chế biến gắn với các vùng nguyên liệu là một yêu cầu quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. 3.Vị trí và vai trò của nông sản chế biến trong hoạt động xuất khẩu. Ngay từ thời kỳ đầu xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài, nông sản đã là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Nhà nước có chủ trương phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu, coi nông nghiệp là ngành quan trọng cho đời sống nhân dân và phát triển các ngành xuất khẩu khác. Năm 1997 kim ngạch xuất khẩu đạt 5,3 tỷ USD, gồm mặt hàng nông sản và nông sản chế biến đạt 1855 triệu USD chiếm tỷ trọng 31%. Đến năm 2001 tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 11.523 triệu USD trong đó mặt hàng nông sản và nông sản chế biến đạt3.456,9 triệu USD, chiếm tỷ trọng 30%. Trang 2 Lương thực của nước ta trong đó mặt hàng nông sản đã giải quyết nhiều công ăn việc làm cho 70- 80% lao động ở nông thôn, ổn định đời sống vật chất và tinh thần của người dân cả nước và phát triển kinh tế nông thôn. Không thể tưởng tượng được nông thôn Việt Nam gần 20 năm trước đây thiếu lương thực, đời sống khó khăn, cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, yếu kém, lạc hậu. Thế mà chỉ 15 năm đổi mới, được mùa, từ nước phải thường xuyên nhập khẩu lương thực nay trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 trên thế giới. Bộ mặt nông thôn thay đổi hàng ngày: điện, đường, chuồng trại đã hình thành. Một nông thôn tiến bộ khác hẳn so với trước kia tuy còn nhiều khó khăn đang được giải quyết. Trang 3 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHỄ BIẾN NÔNG SẢN XUẤT KHẨU 1. Tình hình sản xuất nông sản đã qua chế biến. Trong những năm gần đây, công nghiệp chế biến nông sản Việt Nam có những bước phát triển tích cực. Với hàng chục ngàn cơ sở thuộc các thành phần kinh tế với các quy mô khác nhau, hàng năm công nghiệp chế biến nông sản đã sản xuất nhiều loại hàng hoá phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, chế biến nông sản, trong đó có nông sản xuất khẩu, vẫn là ngành công nghiệp nhỏ bé, công nghệ lạc hậu. Dưới đây là tình hình một số ngành chế biến nông sản xuất khẩu chủ yếu. Bảng: Sản lƣợng một số nông sản chế biến Đơn vị: 1.000 tấn Mặt hàng 1996 1999 2000 2001 2002 2003 Xay sát gạo 150582 19.242 21.807 22.225 25.460 27.400 Đường mật 517,2 736,0 947,3 1.208,7 1.057,8 1.077,8 Chè búp khô 40,2 56,6 70,3 69,9 82,6 85,4 Chè chế biến 24.2 52,7 63,7 70,1 82,1 85,0 Cà phê nhân 218,0 427,4 553,2 802,5 840,6 688,7 mủ 124,7 193,5 248,7 290,8 312,6 331,4 Cao su khô Hoa quả hộp 12,784 20,026 13,868 11,438 11,450 11,500 Dỗu thực vật 38,612 94,648 216,543 280,075 281,000 315,000 Nguồn niên giám thống kê 2003 Xay sát gạo (dạng chế biến đơn giản): cả nước có hơn 5.000 cơ sở xay sát tập trung với công suất từ 8- 60 tấn/ ca/ cơ sở. Ở miền Bắc, các cơ sở này được xây dựng từ những năm 1960 đến nay đã cũ nát và hoạt động kém hiệu quả. Ở miền Nam, các cơ sở xay sát chủ yếu do tư nhân quản lý với thiết bị lạc hậu. Gần đây, Việt Nam đã đầu tư một số nhà máy lớn tại đồng bằng sông Cửu Long với thiết bị hiện đại của nước ngoài phục vụ xuất khẩu gạo. Nhờ đó tỉ lệ gạo phẩm cấp gạo Trang 4 chất lượng cao (<10% tấm) đạt được tren 55%, tỷ lệ gạo phẩm cấp xấu (>35% tấm) giảm xuống còn 4% Chế biến chè: cả nước hiện có 90 cơ sở chế biến chè công nghiệp, trong đó có 13 doanh nghiệp nhà nước, 6 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn lại doanh nghiệp ngoài nhà nước, công suất thiết kế đạt 1.190 tấn chè búp tươi/ ngày, tương ứng với 89.827 tấn chè chế biến/ năm. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu chè đen sang Irag, Anh, Nga và một số nước Đông Âu. Các dây chuyền chế biến chè đen xuất khẩu chủ yếu nhập khẩu từ Liên Xô cũ, những năm gần đây có trang bị một số dây chuyền mới hiện đại hơn, nhưng nhìn chung thiết bị công nghệ chế biến còn lạc hậu, thiếu đồng bộ đã ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè xuất khẩu. Chế biến cà phê: có 16 doanh nghiệp nhà nước (Tổng Công ty cà phê Việt Nam), một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 14 doanh nghiệp ngoài quốc doanh với 50 dây chuyền chế biến cà phê nhân đạt công suất 100.000 tấn/ năm. Chế biến cà phê của Việt Nam có 2 loại: chế biến cà phê hạt; chế biến cà phê rang, xay, hòa tan. Cà phê hạt chủ yếu chế biến bằng phương pháp khô với thiết bị thủ công lạc hậu, vì vậy chất lượng cà phê hạt rất thấp. Theo đánh giá của WB, chỉ có khoảng 2% sản lượng cà phê xuâts khẩu của Việt Nam đạt loại 1 (R1), còn lại là loại R2 và R3 (cà phê xô). Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm hiệu quả xuất khẩu cà phê Việt Nam. Cả nước hiện chỉ có 1 doanh nghiệp chế biến cà phê hòa tan phục vụ nhu cầu trong nước. Chế biến cao su: tổng công suất chế biến mủ cao su đạt khoảng 250.000 tấn. Thiết bị và công nghệ chế biến mủ cao su của Việt Nam lạc hậu nên chỉ có khả năng đáp ứng nhu câù cấp thấp (để sản xuất săm lốp) với thị trường chủ yếu là Trung Quốc, chưa có khả năng đáp ứng yêu cầu chất lượng cao của các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản. Gần đây, Tổng công ty Cao su đầu tư mới một số nhà máy chế biến hiện đại hơn, từ đó đã mở rộng khả năng xuất khẩu cao su mủ khô vào các thị trường tiềm năng này. Một điều đáng chú ý là trong khi giá các hàng nông sản chưa qua chế biến, hoặc mới qua sơ chế trên thị trường thế giới giảm mạnh thì giá các hàng nông sản đã qua chế biến không thay đổi. Trong khi đó, nhiều hàng nông sản chưa qua chế biến được xếp vào danh mục hàng nhạy cảm để làm chậm quá trình giảm thuế, còn Trang 5 mặt hàng đã qua chế biến lại được đưa vào danh mục hàng cắt giảm thuế nhanh. Như vậy, khoảng cách hiệu quả giữa hàng nông sản chế và hàng nông sản chưa qua chế biến ngày càng trở nên rõ rệt, các nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển đều có xu hướng phát triển các hàng nông sản đã qua chế biến, đặc biệt qua quá trình chế biến sâu để nâng cao hiệu quả và sự cạnh tranh cho các sản phẩm của mình. So với các ngành công nghiệp trọng điểm khác, công nghiệp chế biến nông sản vừa nhỏ bé về quy mô, lạc hậu về trình độ công nghệ, đơn điệu về sản phẩm sản xuất ra. Từ đó, sự tác động của ngành công nghiệp chế biến nông sản đến sản xuất nông nghiệp còn hạn chế, tỉ trọng nông sản chế biến trong tổng sản lượng sản xuất còn rất thấp (chè: 55%; rau quả: 5%, thịt: 1%…). Cần nhìn nhận nguyên nhân của tình trạng này trên cà 3 phía: - Chưa chú trọng đúng mức việc đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông sản. - Vùng nguyên liệu chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp chế biến. - Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước còn bất cập. 2. Thực trạng phát triển công nghiệp chễ biến nông sản xuất khẩu Kinh tế Việt Nam đã bước vào tiến trình hội nhập kinh tế thế giới mà mở đầu là việc tham gia vào AFTA. Nước ta là nước có trên 70% dân số là nông nghiệp, do vậy khi bước chân vào tiến trình hội nhập, ngoài chuyện đem những tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân còn phải hiện đại hoá công nghệ sản xuất chế biến hàng nông sản. Thế nhưng, theo đánh giá của Viện Kinh tế nông nghiệp thuộc Bộ NN&PTNT, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo quản chế biến và tiêu thụ nông sản hiện đang đối đầu với thực trạng: thiếu vốn, cơ sở vật chất nghèo nàn, công nghệ chế biến lạc hậu, thiếu thông tin thị trường, đội ngũ cán bộ chưa đào tạo thích ứng với cơ chế thị trường. Những sự thiếu thốn này đã làm cho người nông dân bất an trong sản xuất. Trong khi đó, các mặt hàng chế biến nông sản của nước ta hiện đang chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Cơ sở để đưa ra nhận định này là Viện Kinh tế nông nghiệp đã tiến hành khảo sát 60 doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực bảo quản chế biến và tiêu thụ ba loại nông sản là chè, cà phê, rau quả tại một số tỉnh. Kết quả chỉ có 2 doanh Trang 6 nghiệp có công nghệ chế biến hiện đại (chiếm 2,22%) còn lại là sử dụng công nghệ đã qua 3 hoặc 4 thế hệ: 73% nhà xưởng của các cơ sở chế biến rất tạm bợ, chắp vá; 40% chủ doanh nghiệp không có trình độ chuyên môn, trình độ tay nghề mà chủ yếu là lao động phổ thông. Hầu hết các doanh nghiệp chưa có thị trường ổn định, hoạt động mang tính tự phát, không có chiến lược lâu dài trong kinh doanh nhất là chưa có chiến lược đầu tư cho vùng nguyên liệu và chiến lược thị trường trong và ngoài nước. Chính vì vậy, sản phẩm làm ra của các doanh nghiệp chỉ có khoảng 5,2 đạt chất lượng quốc tế phần còn lại chất lượng không bằng mặt hàng cùng loại ở các nước trong khu vực nhưng lại có giá thành cao. Còn lại số doanh nghiệp chưa có đăng ký chất lượng sản phẩm chiếm 85- 92%, nên khó có khả năng cạnh tranh. Lâu nay, người nông dân chẳng an tâm bởi sản phẩm nông sản của họ làm ra thường bị rớt giá khi trúng mùa, chính một phần là do các doanh nghiệp chế biến không thể đáp ứng. Thông tin dự báo về thị trường nói chung là ít ỏi và thiếu chính xác, làm cho cả các công nghiệp xuất khẩu và nông dân đều chịu nhiều thiệt hại đặc biệt là với các mặt hàng xuất khẩu nhiều như gạo, điều và cà phê. Công tác khuyến nông, phát triển vùng nguyên liệu chưa đi đôi với việc xây dựng nhà máy chế biến nông sản. Các nhà máy chế biến nông sản hiện có thì lạc hậu về thiết bị và công nghệ sản phẩm chất lượng thấp, giá thành cao. Công nghệ chế biến sau thu hoạch lạc hậu và ít phổ biến tới người dân, không được cơ quan chức năng quan tâm đúng mức đã làm trở ngại nhiều tới xuất khẩu, thiệt hại to lớn tới người nông dân và kinh tế đất nước. Nguồn gốc của yếu kém là sự bất cập ở các cơ quan nghiên cứu và quy hoạch nông nghiệp, các cơ quan có nhiệm vụ hoạch định chính sách và tham mưu cho ngành nông nghiệp. Trang 7 CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN XUẤT KHẨU. 1. Phƣơng hƣớng phát triển công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu - Tập trung đầu tư phát triển công nghiệp chế biến những loại nông sản có lợi thế cạnh tranh và nguồn nguyên liệu dồi dào, có thị trường tiêu thụ rộng (gạo, cà phê, hạt điều, hoa quả, cao su…) - Bám sát nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, nâng cao mức độ chế biến nông sản để đưa ra thị trường chủng loại nông sản chế biến đa dạng, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. - Tập trung đầu tư đổi mới công nghệ, hiện đại hóa thiết bị chế biến, đồng thời sử dụng hợp lý các công nghệ truyền thống; đặc biệt coi trọng chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm. - Có cơ chế thích hợp bảo đảm sự gắn bó chặt chẽ giữa chế biến nông sản và sản xuất nguyên liệu, bảo đảm nền tảng vững chắc cho việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi. - Huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế đầu tư phát triển vùng nguyên liệu và các cơ sở chế biến nông sản, trong đó khuyến khích phát triển mạnh các thành phần kinh tế ngoài Nhà Nước. 2.Một số giải pháp chủ yếu 2.1- Phát triển các vùng nguyên liệu tập trung Trên cơ sở các tài liệu điều tra cơ bản, đánh giá lợi thế của các vùng sinh thái để quy hoạch xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn tạo cơ sở nguyên liệu vững chắc cho phát triển công nghiệp chế biến. Quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu tập trung là cơ sở để quy hoạch mạng lưới giữa sản xuất nguyên liệu và chế biến nguyên liệu, nâng cao hiệu quả của cả sản xuất và chế biến nông sản. Thực tế cho thấy, việc phát triển nông nghiệp phân tán, manh mún như hiện nay đã gây bất lợi cho cả sản xuất và chế biến. Trong khi nhiều doanh nghiệp chế biến thiếu nguyên liệu, thì nông dân lại gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ nông sản xuất ra do nông dân không đáp ứng được yêu cầu chất lượng của chế biến công Trang 8 nghiệp. Từ đó, việc hình thành các vùng nguyên liệu tập trung cũng là điều kiện để ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào trồng trọt và chăn nuôi, thay thế các loại cây trồng, vật nuôi cũ không đáp ứng tốt yêu cầu chế biến và tiêu dùng bằng những giống cây con mới có năng suất cao, chất lượng tốt và giá thành rẻ. Cần nghiên cứu ban hành các chính sách vĩ mô nhằm thúc đẩy hình thành các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung: chính sách đất đai chính sách tín dụng, chính dụng hỗ trợ chuyển giao khoa học và công nghệ, chính sách khuyến nông. Chỉ khi nào có các chính sách thích hợp thì quy hoạch vùng nguyên liệu mới được thực hiện và công nghiệp chế biến nông sản mới có cơ sở nguyên liệu vững chắc để phát triển. 2.2- Đa dạng hoá các nguồn vốn bảo đảm các điều kiện phát triển công nghiệp chế biến nông sản. Công nghiệp chế biến nông sản có vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, song không phụ thuộc loại ngành then chốt. Bởi vậy, định hướng đầu tư phải thể hiện được tư tưởng “phân công” đầu tư rõ ràng và hợp lý, bảo đảm phát huy được sức mạnh tổng hợp trong việc giải quyết vấn đề kinh tế phức tạp này, tránh tình trạng Nhà nước ôm đồm thực hiện đầu tư phát triển doanh nghiệp chế biến khi nguồn lực tài chính hạn hẹp. Việc huy động các nguồn vốn cho phát triển công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu có thể thực hiện theo các hướng sau đây:  Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ khai thác và phát triển các vùng sứ mệnh lịch sản xuất nguyên liệu tập trung (hệ thống đường giao thông, thuỷ lợi, mạng lưới điện, hệ thống trạm trại giống).  Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ xây dựng và sản xuất của các cơ sở chế biến nông sản (hạ tầng các khu công nghiệp hoặc các cụm công nghiệp tập trung, giao thông, cấp thoát nước, mạng lưới điện).  Dành nguồn vốn thoả đáng cho thực hiện công tác khuyến nông nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và áp dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất nguyên liệu… Khuyến khích các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư không hạn chế để phát triển vùng nguyên liệu và phát triển công nghiệp chế biến nông sản, đặc biệt là nông sản xuất khẩu. Để hiện thực hoá việc khuyến khích, cần có các chính sách Trang 9 ưu đãi về đất đai, tín dụng, thuế… tạo sự hấp dẫn lớn với các nhà đầu tư trong việc tạo lập và vận hành doanh nghiệp, Nhà nước có thể hỗ trợ việc đào tạo lao động, cung cấp thông tin thị trường và chuyển giao công nghệ. Xúc tiến mạnh mẽ hơn quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước hiện có trong ngành chế biến nông sản. Đây là cách thức quan trọng để huy động các nguồn vốn đáp ứng yêu cầu đầu tư mở rộng sản xuất, thúc đẩy đổi mới công nghệ, hiện đại hoá công nghệ chế biến, nâng cao hiệu quả sản xuất- kinh doanh. Về đối tượng mua cổ phần, ngoài người lao đông trong doanh nghiệp, cá thể nhân và pháp nhân trong nước, cần mở rộng ra cả việc bán cổ phần cho người nước ngoài. Sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài là điều kiện quan trọng để hiện đại hoá công nghệ và mở rộng xuất khẩu nông sản chế biến. 2.3- Các giải pháp hỗ trợ xuất khẩu. Khai thông thị trường tiêu thụ là điều kiện quan trọng hàng đầu cho việc đẩy mạnh xuất khẩu nông sản chế biến của Việt Nam. Hội nhập kinh tế quốc tế, một mặt tạo cơ hội mở rộng phạm vi thị trường, mặt khác cũng tạo áp lực cạnh tranh gay gắt với các doanh nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Với trình độ công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh còn kém, để thắng lợi trong cạnh tranh quốc tế, xác lập và củng cố vị thế trên thị trường thế giới, ngoài những biện pháp trong sản xuất nguyên liệu và chế biến, cần coi trọng các giải pháp về thị trường. Những vấn đề quan trọng cần quan tâm nghiên cứu giải quyết là:  Hình thành chính sách thị trường ở tầm quốc gia cho hàng nông sản xuất khẩu. Trên cơ sở đánh giá lợi thế của hàng nông sản Việt Nam, đặc điểm và xu thế vận động của thị trường nông sản thế giới, cầ định rõ những thị trường trung tâm cho mỗi loại nông sản và các chính sách thích ứng để thâm nhập và củng cố chỗ đứng của hàng nông sản chế biến trên thị trường.  Cung cấp thông tin thị trường cho các doanh nghiệp, đặc biệt quan tâm đến các dự báo trung hạn và dài hạn để có sự điều chỉnh sản xuất và điều chỉnh chính sách thích hợp. Phát huy vai trò tích cực và chủ động của các cơ quan đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài trong việc cung cấp thông tin thị trường và vai trò là cầu nối giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các chủ thẻe kinh tế nước ngoài. Trang 10  Thiết lập và mở rộng các quan hẹ liên kết trong xuất khẩu nông sản chế biến..Sự phối hợp giữa các chủ thẻ sản xuất nguyên liệu, các doanh nghiệp chế biến, các doanh nghiệp xuất khẩu với nhau là cách thức quan trọng nâng cao khả năng ứng phó với các áp lực cạnh tranh của các chủ thể kinh tế nước ngoài trong các quan hệ thương mại quốc té.  Tăng cường các hoạt động xúc tiến xuất khẩu nông sản chế biến bằng những hình thức đa dạng: tham gia hội chợ… triển lãm quốc tế, quảng bá sản phẩm trên các thị trường truyền thống và thị trường mới; xây dựng thương hiệu nông sản chế biến; phối hợp hoạt động giới thiệu nông sản chế biến với hoạt động du lịch. Trang 11 KẾT LUẬN Thực hiện đường lối của Đảng và nhà nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nước ta đang đạt những thành tựu đáng kể trong đó phải kể đến những thành công vượt bậc của sản xuất nông nghiệp Nền nông nghiệp nước ta từ một nước tự cung tự cấp đã dần phát triển theo hướng nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá. Quy mô sản xuất và năng suất chất lượng ngày một tăng không những đáp ứng nhu cầu trong nước mà xuất khẩu ngày càng nhiều.Vấn đề tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá nông sản và nông sản đã qua chế biến luôn là vấn đề quan tâm không chỉ riêng người nông dân mà cả xã hội càng trở nên quan trọng đối với nước ta với 80% dân số sống trong khu vực nông thôn. Trang 12 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Sách quản lý và nghiệp vụ kinh doanh thương mại quốc tế PGS.TS Trần Văn Chu 2. Tạp chí doanh nghiệp và thương mại- Trần Đông Số 4 năm 2003 3. Tạp chí kinh tế và phát triển- Nguyễn Kế Tuấn - số 5 - 2004 4. Tạp chí ngoại thương- Doãn Kế Bôn số 13 năm 2003 5. .Sách “ Một số biện pháp tài chính phát triển nông sản hàng hoá xuất khẩu” XB tài chính, 2000. Trang 13 MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................................................. 1 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN XUẤT KHẨU ................................................................................................... 2 1. Lợi thế về so sánh xuất khẩu. ........................................................................................ 2 2. Tiềm năng xuất khẩu những mặt hàng nông sản đã qua chế biến. ............................... 2 3. Vị trí và vai trò của nông sản chế biến trong hoạt động xuất khẩu. ............................. 2 CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN XUẤT KHẨU ................................................................................................... 4 1. Tình hình xuất khẩu nông sản đã qua chế biến. ............................................................ 4 2. Thực trạng phát triển công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu. ................................ 6 CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN NÔNG SẢN XUẤT KHẨU. ........................................................................................................................ 8 1. Phương hướng phát triển công nghiệp chế biến nông sản xuất khẩu. .......................... 8 2. Một số giải pháp chủ yếu. ............................................................................................. 8 2.1. Phát triển các vùng nguyên liệu tập trung. .............................................................. 8 2.2. Đa dạng hoá các nguồn vốn bảo đảm các điều kiện phát triển công nghiệp chế biến nông sản. ....................................................................................... 9 2.3. Các giải pháp hỗ trợ xuất khẩu. ............................................................................. 10 KẾT LUẬN ............................................................................................................................ 12 Trang 14
- Xem thêm -