Thực trạng dịch vụ vận tải biển của công ty vinashin new world

  • Số trang: 82 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Phần I : Lời mở đầu Trong những năm qua tình hình thế giới có nhiều biến động và gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Song với đường lối đúng đắn của Đảng và sự chỉ đạo của chính phủ nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, với tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 7,5% trong giai đoạn 2005-2009 và liên tục xếp thứ hai trên thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Việt Nam dần dần khẳng định được vị thể của mình trong khu vực cũng như thế giới. Đây là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các Công ty mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá giữa các nước, các vùng kinh tế khác nhau vận tải luôn đóng một vai trò quan trọng. Ngày nay, vận tải đường biển chiếm vai trò quan trọng so với những ngành vận tải khác, khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển chiến tỷ trọng lớn và đang có xu hướng tăng lên. Nắm bắt được xu thế này trong những năm qua tập đoàn VinaShin đã không ngừng đầu tư cho các đơn vị thành viên mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhận được sự giúp đỡ đó, công ty Vinashin New World đã ra đời và đã không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh và đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực dịnh vụ vận tải đường biển. Sau thời gian đi thực tập em đã chọn đề tài ” Thực trạng dịch vụ vận tải biển của công ty Vinashin New World”. Một lĩnh vực mà Công ty đang có nhu cầu mở rộng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong thời gian tới. Trong quá trình thực tập được sự hướng dẫn, chỉ đạo rất tận tình của các anh chị trong phòng KH-KD và của PGS.TS Nguyễn Như Bình. Song do sự hiểu biết của bản thân về Công ty chưa được sâu sắc và toàn diện, với kinh nghiệm thực tế chưa nhiều do vậy trong báo cáo thực tập không thể tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy, rất mong các Anh, Chị trong phòng, thầy cô và độc giả quan tâm đến đề tài này góp ý để bài viết của em hoàn thiện hơn Chương I: Giới thiệu chung công ty Vinashin new world 1.1 Quá trình hình thành và phát triển. Cuối những năm 1980 đầu những năm 1990 phương thức vận tải bằng đường biển đang được phát triển mạnh mẽ ở các nước tiên tiến trên thế giới do được đánh giá là một trong những phương tiện tiên tiến và đạt hiệu quả cao về mọi mặt. So với hình thức vận tải truyền thống thì vận tải đường biển có những điểm nổi bật hơn so với vận tải đường bộ và đường hàng không. Việt Nam có hơn 3200 Km đường bờ biển và hơn 33 cảng lớn nhỏ chạy từ Bắc tới Nam đó là những yếu tố thuận lợi đối với việc phát triển vận tải đường biển. Với đà tăng trưởng kinh tế của nước ta hiện nay, đặc biệt là buôn bán với nước ngoài ngày càng tăng nắm bắt được yêu cầu thực tế vận tải hàng hóa bằng đường biển, những doanh nhân của tập đoàn Vinashin đã thành lập công ty Vinashin New World với mong muốn khai thác triệt để những lợi thế trên Vinashin New World là một đơn vị trực thuộc tập đoàn kinh tế Vinashin hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ vận tải đường biển. Giai đoạn đầu mới thành lập công ty chỉ hoạt động trong lĩnh vực vận tải đường biển. Không ngừng lớn mạnh theo thời gian và đến nay không chỉ đơn thuần kinh doanh dịch vụ vận tải đường biển mà còn hoạt động nhiều ngành nghề khác Tên và địa chỉ của công ty. + Tên giao dịch : Công ty Vinashin New World + Điện thoại: 0313686676. + Email:Vnwhp@vinashinnewworld.vn +Website : vinashinnewworld.com.vn + Trụ sở Công ty Số 3 Lê Thánh Tông Hải Phòng 1.2 Tổ chức bộ máy quản lý tại công ty Vinashin New World 1.2.1 Nhiệm vụ của Công ty . Là đơn vị vận tải biển với đội ngũ hùng mạnh và được sự quan tâm đặc biệt của tập đoàn nên Vinashin New World có những nhiệm vụ sau:  Chuyên chở hàng hoá trong nước, phục vụ nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước.  Vận tải hàng xuất khẩu, phục vụ công tác xuất nhập khẩu  Quản lý và khai thác phương tiện, vốn theo đúng nội quy của Nhà nước một cách có hiệu quả  Tổ chức các dịch vụ về vận tải như đại lý tàu, đại lý dầu, đại lý giao nhận kiểm đếm hàng hoá nhằm mở rộng quy mô của Công ty, tăng nguồn hàng vận chuyển giải quyết công ăn việc làm cho đội ngũ thuyền viên dự trữ  Nghiên cứu trình cấp trên về kế hoạch đầu tư đổi mới trang thiế bị,phương tiện, xây dựng phương pháp lao động hợp lý hơn, ứng dụng thông tin tin học vào sản xuất kinh doanh.  Tổ chức quản lý lực lượng lao động của Công ty một cách khoa học, triệt để và hiệu quả, giáo dục bồi dưỡng nâng cao trình độ tay nghề và năng lực quản lý của cán bộ thuyền viên của Công ty. Đồng thời chăm lo đến đời sống vật chất cho người lao động.  Chấp hành đầy đủ đường lối, chế độ chính sách pháp luật của đảng, nhà nước, nội quy kỷ luật của xí nghiệp. Đảmbảo an tàon lao động, vệ sinh môi trường, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và trật tự an toàn trong nội bộ Công ty 1.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Giám đốc Phòng khai thác Phòng marketting Phòng dịch vụ khách hàng Phòng kế toán Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty Giám đốc là người lãnh đạo có quyền cao nhất trong công ty, chỉ đạo sự hoạt động của toàn công ty và chịu trách nhiệm cao nhất trước nhà nước về hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Giám đốc: Trương Quốc Long Phòng khai thác: có nhiệm vụ lập kế hoạch khai thác, tổ chức vận chuyển, đề xuất các phương án vận chuyển sao cho có lợi nhất Trưởng phòng khai thác : Ngô Xuân Trường. Phòng Marketing: có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, tìm hiểu thị trường, tìm nguồn hàng, liên hệ với chủ hàng, giúp chủ hàng làm các thủ tục xuất nhập khẩu, thu thập chứng từ hoá đơn Trưởng phòng Marketing: Nguyễn Thị Hợi Phòng dịch vụ khách hàng: Có nhiệm vụ phát hành các hoá đơn, kiểm tra các hoá đơn chứng từ thu phí các dịch vụ. Đồng thời tham mưu cho lãnh đạo trực tiếp về các chính sách giá cả hợp lý và phát triển các dịch vụ nhằm hỗ trợ tốt cho các hoạt động thu hút khách hàng của công ty. Phòng dịch vụ khách hàng quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu (về mặt chứng từ). Trưởng phòng dịch vụ khách hàng: Nguyễn Thị Hoa Phòng kế toán: thực hiện công tác kế toán tính toán các hoạt động thu chi của chi nhánh và tính toán trả lương cho nhân viên. Ghi chép phản ánh số liệu hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn và kết quả các hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình sử dụng kinh phí của chi nhánh. Đặc biệt phòng còn kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch thu chi tài chính nộp ngân sách, thanh toán kiểm tra giữ gìn các loại tài sản. Đồng thời cung cấp các số liệu, tài liệu cho việc điều hành sản xuất kinh doanh, kiểm tra và phát triển các hoạt động khai thác tài chính phục vụ công tác thống kê và thông tin kinh tế. Trưởng phòng kế toán: Phạm Thị Hường. 1.3 Tình hình sử dụng các nguồn lực tại Công ty. Thông qua các báo cáo tài chính như bảng cân đối kế toán của công ty trong các năm 2007-2009 ta có thể tính toán và so sánh một số chỉ tiêu tài chính của công ty. 1.3.1 Phân tích tình hình tài sản của Công ty. Bảng 1: Bảng phân tích tình hình tài sản Chỉ tiêu Năm 2007 A: TSLĐ – ĐTNH 20.891.806 Năm 2008 Năm 2009 26.191.138 31.476.543 Tiền mặt + gửi 6.514.736 12.617.831 8.662.292 NH Khoản phải thu 8.437.360 4.543.969 81.835.268 Hàng tồn kho 2.494.023 4.429.834 6.808.493 TSLĐ khác 3.445.000 4.602.336 7.171.035 B:TSCĐ- ĐTDH 50.230.968 53.859.478 87.895.531 *TSCĐ 32.365.432 35.371.203 43.290.139 *Đầu tư TC 10.491,104 12.009.125 24.495.203 *TS dài hạn khác 7.374.432 6.479.150 20.110.189 Tổng tài sản 71.122.774 80.050.616 119.372.074 Nguồn : KH-KD Đơn vị tính: 1000 đồng Nhận xét chung : Nhìn vào bảng phân tích tình hình tài sản của Công ty ta thấy tài sản qua các năm đều tăng lên. Năm 2007, tổng tài sản của Công ty là 71,122 tỷ đồng nhưng đến năm 2008 con số đó đã lên tới 80,050 tỷ đồng tăng gần 9 tỷ so với 2007 tương ứng 12,5%. Trong đó chủ yếu là tăng tài sản lưu động và đến năm 2009 tổng tài sản là 119,372 tỷ đồng tăng 39,32 tỷ đồng tương ứng với 49,12 % so với năm 2008. Năm2009 công ty mạnh dạn mở rộng quy mô hoạt động sản xuất vào cuối năm nên mua thêm trang thiết bi, máy móc, phương tiện vận chuyển do đó tài sản năm 2009 tăng mạnh so với năm 2008 và 2007. 1.3.2. Tình hình nguồn vốn của công ty Bảng 2: Phân tích cơ cấu nguồn vốn của Công ty Năm 2008 Chỉ tiêu Năm 2007 A.Nợ phải trả 23.316.467 24.566.127 42.745.431 Nợ ngắn hạn 2.917.850 5.539.385 10.388.298 Nợ dài hạn 17.164.975 14.789.000 22.637.442 Nợ khác 3.233.642 4.237.742 9.719.691 B Vốn chủ sở hữu 47.806.307 55.484.489 76.626.642 Nguồn vốn 30.234.012 35.858.104 40.353.222 kinh phí, quỹ 10.353.222 12.542.930 20.015.359 Nguồn vốn khác 7.219.073 7.084.355 16.258.061 Tổng nguồn vốn 71.122.774 80.050.616 119.372.074 Năm 2009 Nguồn: KH-KD Đơn vị tính:1000 đồng Nhận xét chung : Nhìn vào bảng số liệu ta thấy trong hai nguồn vốn của Công ty thì tỷ lệ nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp luôn cao hơn tỷ lệ nợ phải trả. Điều này chứng tỏ rằng tình hình tài chính của doanh nghiệp khá lành mạnh hay nói cách khác là doanh nghiệp có tính tự chủ về tài chính, doanh nghiệp hoàn toàn không phải phụ thuộc hay bị ràng buộc bởi các chủ nợ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Năm 2007 tổng nguồn vốn là 71,122 tỷ đồng. Năm 2008 là 80,050 tỷ đồng còn năm 2009 là 119,372 tỷ đồng Tuy nhiên, nếu nhìn vào sự biến động về cơ cấu nguồn vốn qua các năm chúng ta sẽ thấy được tính tự chủ của doanh nghiệp có nhiều biến động. Năm 2007, nợ phải trả chỉ chiếm 32,7% tổng nguồn vốn. Sang đến năm 2008 nợ phải trả chỉ còn là 30,6% tổng nguồn vốn giảm 2,1 % so với năm 2007 là 1,1%. Nhưng đến năm 2009, số nợ phải trả đã tăng đến 35,8% tổng nguồn vốn. Như vậy, nợ phải trả qua các năm phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty. Nguyên nhân của việc tăng nợ phải trả là do khoản nợ ngắn hạn tăng từ 23,316 tỷ đồng năm 2007 đến 42,7 tỷ đồng năm 2009 là khoản vay từ nguồn vốn ODA để đầu tư cải tạo, mở rộng Cảng đồng thời việc đi chiếm dụng vốn của đơn vị khác ( nợ dài hạn và nợ khác tăng lên ) làm cho tổng nợ tăng lên nhiều. Nhưng việc đi vay và chiếm dụng là cần thiết cho nhu cầu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, việc tăng tổng nguồn vốn từ nợ phải trả vẫn là hợp lý và điều này là điều nên làm bởi mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư theo chiều sâu là yêu cầu cần thiết đối với doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay. 1.3.2 Tình hình nhân lực. Công ty là một công ty lớn hoạt động đa ngành vì vậy mà số lượng công nhân viên của công ty tương đối đông hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau với các trình độ tay nghề khác nhau và nó đựơc thể hiện trong bảng sau: Bảng 3: Nguồn nhân lực của công ty Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Số Số Số Lượng Tổng số lao động 65 % 100 Lượng 88 % 100 Lượng 106 % 100 Theo giới tính Lao động nữ 25 38,4 35 39,7 49 46,2 Lao động nam 40 61,6 53 603 57 53,8 Đại học, cao đẳng 10 15.4 18 20,4 25 23,5 Trung cấp 25 38,4 30 34,0 40 37,7 Công nhân kỹ thuật 10 15,4 20 22,8 25 23,5 Lao động phổ thông 25 30,8 20 22,8 16 15,3 Theo trình độ (Nguồn phòng KH-KD) Đơn vị:Người Nhận xét chung: Nhìn vào bảng số lượng lao động của công ty ta thấy số lượng lao động của công ty tăng đều qua các năm. Năm 2008 so với năm 2007 tổng số lao động trong công ty tăng 23 người tương ứng với 35,3%. Nhưng đến năm 2009 số lao động của công ty lại tăng 18 người tương ứng với 20,45 % so với năm 2008. Tốc độ tăng năm 2008 so với 2007 lớn hơn do trong năm 2008 công ty mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh sang những thị trường lân cận và phạm vi hoạt động của ngành dịch vụ vận tải biển rộng hơn nên đã tuyển một lượng lớn công nhân viên để đáp ứng nhu cầu đó. Còn năm 2009 tuy hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn nhưng số lao động tại công ty vẫn tăng lên, tuy tốc độ tăng không bằng năm 2008 nhưng con số trên khá lạc quan thể hiện công ty đang hoạt động rất hiệu quả. Do công ty hoạt động trong lĩnh vực vận tải và do đặc điểm nghề nghiệp nên phần lớn lao động của công ty là Nam còn lao động Nữ chiếm tỷ lệ rất ít. Phần lớn số lao động Nữ này đều là lao động gián tiếp hay lao động làm việc trong lĩnh vực thương mai của công ty. Năm 2008 lao động nữ tăng 40% so với 2007 còn năm 2009 tăng 40% so với 2008. Tốc độ tăng lao động nữ rất ổn định cho thấy không có nhiều biến động trong lĩnh vực thương mại của công ty mặc dù hoạt động sản xuất kinh doanh đã được mở rộng. Còn lao động Nam tốc độ tăng không đều qua các năm. Năm 2008 tăng 32,5 % so với năm 2007 còn năm 2009 chỉ tăng 7,5 % so với năm 2008. Giải thích cho tốc độ tăng năm 2009 chậm hơn so với năm 2008 là do năm 2009 công ty thu hẹp phạm vi hoạt động của ngành dịch vụ vận tải biển,phần khác do những hợp đồng sửa chữa tàu biển bị hủy bỏ nên lượng lao động Nam tăng không đáng kể. Qua bảng số liệu ta cũng thấy được số lao động có trình độ của công ty cũng khá cao. Năm 2007 lao động có trình độ đại học cao đẳng chiếm 15,4 %,năm 2008 là 20,4 % và năm 2009 là 23,5 %. Lao động có trình độ tăng qua các năm và chiếm tỉ trọng không nhỏ, điều đó cho thấy công ty đang có đội ngũ lao động có chất lượng tốt, được đào tạo chuyên sâu. Lao động có trình độ này giữ vị trí cao trong cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty và hàng năm vẫn được cử đi nước ngoài đào tạo để nâng cao trình độ, điều đó cho thấy Công Ty có chiến lược phát triển nguồn nhân lực theo chiều sâu. Mặt khác, lao động có trình độ trung cấp và công nhân kỹ thuất cũng chiếm tỷ lệ khá cao và không ngừng tăng qua các năm. Nhưng bên cạnh đó số lao động phổ thông còn chiếm tỷ lệ cao trên, mặc dù tỷ lệ lao động này có giảm trong những năm gần đây song tốc độ giảm còn chậm. Mặt khác số lao động có tay nghề cao lại chiếm tỷ lệ rất nhỏ khoảng 4,5%. Trong những năm qua mặc dù công ty luôn chú trọng đến việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên của công ty như: đưa công nhân viên đi đào tạo ở nước ngoài, cũng như mở các lớp tập huấn nâng cao tay nghề cho công nhân….. song nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của công ty. 1.3.3 Tình hình về cơ sở vật chất tại Công ty. Bảng 3: Bảng diện tích sử dụng Hạng mục Diện tích hiện Diện tích sử % Diện tích có dụng sử dụng Mặt nước 87580 24500 19,9 Nhà làm việc 1479 580 39,5 Phân xưởng 3804 944 24,8 Nhà kho 1500 578 38,7 Sân bãi 2099 740 35,2 Khu thương mại 849 500 58,4 Diện tích khác 1229 300 24,41 98540 28142 28,55 Tổng Nguồn: Phòng KH-KD Đơn vị: m2 Nhận xét chung : Công ty Vinashin New World hoạt động sản xuất trên nền diện khoảng 9,85ha bao gồm cả diện tích mặt nước và diện tích đất liền. Chiếm phần lớn diện tích mà công ty đang sở hữu là diện tích mặt nước với việc hoạt động của các khu cảng biển. Những cảng này phục vụ cho các tàu bè chung chuyển, lưu thông hàng hóa và là nơi bến đỗ của các tàu bè khu vực cảng. Nguồn thu từ hoạt động này đóng góp đáng kể vào doanh thu của công ty qua các năm và trong những năm tới công ty sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của những cảng này nhằm khai thác triệt để những lợi thể mà diện tích mặt nước mang lại. Mặc dù Hiện nay tổng diện tích mà Công ty đã đưa và sử dụng là chưa nhiều mới 2,82 ha chiếm 28,5% diện tích. Diện tích chưa sử dụng còn chiếm tỉ lệ lớn 71,5%. Đây là nguồn dự trữ khá lớn để cho Công ty có thể mở rộng sản xuất kinh doanh. Nhìn vào bảo số liệu trên ta có thể thấy được sự phát triển của Công ty trong những năm qua là chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của Công ty . Vấn đề đặt ra trong những năm tới là Công ty phải có chính sách và giải pháp phù hợp để có khai thác tối đa lợi thế mà mình đã có. Cơ sở hạ tầng của Công ty trong những năm qua không ngừng được nâng cấp và xây mới. Công ty có khu nha cao tầng tương đối khang trang và kiên cố toạ lạc trên khu đất rộng. Các phân xưởng, nhà kho phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh không ngừng nâng cấp và mởi rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng rộng lớn của công ty. Cùng với nó là một khu liên hợp thể thao tương đối hoàn chỉnh gồm: sân quần vợt, nhà thi đấu bóng bàn mà hiếm có công ty nào để đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của công nhân viên trong công ty. Chương II: Thực trạng dịch vụ vận tải biển của Công ty Vinashin new world  Mục đích Tr-íc khi ph©n tÝch c¸c vÊn ®Ò trong doanh nghiÖp cÇn ph¶i x¸c ®Þnh mét c¸ch ®óng ®¾n môc ®Ých ph©n tÝch. Môc ®Ých ph©n tÝch ho¹t ®éng kinh tÕ nãi riªng vµ ho¹t ®éng kh¸c cña con ng-êi nãi chung cã vai trß ®Æc biÖt quan träng víi ho¹t ®éng. Nã lµ kim chØ nam cña c¸c ho¹t ®éng võa lµ th-íc ®o ®¸nh gi¸ kÕt qu¶ cña c¸c ho¹t ®éng ®ã. Tuú theo tõng tr-êng hîp ph©n tÝch cô thÓ (kh«ng gian, thêi gian, chØ tiªu, doanh nghiÖp … mµ x¸c ®Þnh môc ®Ých cô thÓ cña ph©n tÝch nh÷ng môc ®Ých chung cña ph©n tÝch ho¹t ®éng kinh tÕ bao gåm:  Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các chỉ tiêu kinh tế.  Phân tích chi tiết các tầm quan trọng, trọng điểm …để xác định tiềm năng của doanh nghiệp về các vấn đề tổ chức quản lý điều hành sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất các điều kiện sản xuất.  Đề xuất ra các biện pháp về kĩ thuật tổ chức để khai thác tốt tiềm năng của doanh nghiệp để áp dụng trong thời gian tới nhằm phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả bảo đảm các lợi ích doanh nghiệp nhà nước người lao động.  Làm cơ sở cho những kế hoạch chiến lược về phát triển của doanh nghiệp trong tương lai và về các chỉ tiêu kinh tế kĩ thuật cho những kì kế tiếp. Tóm lại có thể phát biểu ngắn gọn mục đích của phân tích hoạt động kinh tế là nhằm xác định tiềm năng của doanh nghiệp và đề xuất các biện pháp để khai thác tốt nhất những tiềm năng ấy.  Ý nghĩa: Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp là công cụ của hoạt động nhận thức về các vấn đề kinh tế doanh nghiệp. Do vậy nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp nói chung, cá nhân những người làm kinh tế doanh nghiệp nói riêng. Nếu phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp diễn ra thường xuyên chất lượng tốt thì sẽ giúp cho nhà lãnh đạo nhận thức đúng đắn về các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp về tổ chức điều hành sản xuất, về các điều kiện kinh tế liên quan …từ đó đưa ra các quyết định phù hợp, khả thi góp phần định hướng, hướng dẫn các hoạt động quản lý doanh nghiệp nhờ đó làm cho doanh nghiệp phát triển không ngừng với hiệu quả kinh tế cao và ngược lại. Chính vì tầm quan trọng của phân tích hoạt động kinh tế mà doanh nghiệp và các cá nhân lãnh đạo doanh nghiệp đã đang và sẽ không ngừng phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp một cách thường xuyên liên tục sâu sắc và triệt để. 2.1 Dịch vụ vận tải biển và vai trò của nó trong phát triển kinh tế Vận tải đường biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác. Ngay từ thế kỷ thứ VI trước công nguyên con người đã biết lợi dụng biển làm các tuyến đường giao thông để giao lưu các vùng, các miền, các quốc gia khác nhau trên thế giới. Cho đến nay vận tải đường biển được phát triển mạnh mẽ và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế. 2.1.1 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của vận tải đường biển. 2.1.1.1 Vai trò Hiện nay vận tải đường biển giữ vị trí rất quan trọng trong chuyên chở hàng hoá trên thị trường thế giới. Vận tải đường biển là ngành vận tải chủ chốt so với các phương tiện vận tải khác trong chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu, nó đảm nhận chuyên chở gần 80% tổng khối lượng hàng hoá trong buôn bán quốc tế. Nguyên tắc “ tự do đi biển” đã tạo thuận lợi cho ngành vận tải đường biển và nhờ đó tàu thuyền mang mọi quốc tịch được tự do hoạt động trên các tuyến thương mại quốc tế. Khối lượng chuyên chở hàng hoá bằng đương biển quốc tế tăng nhanh qua các giai đoạn. 2.1.1.1 Đặc điểm.  Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoá trong buôn bán quốc tế. Vận tải đường biển thích hợp trên cự ly rất dài, khối lượng lớn. Tuy nhiên vận tải đường biển không thích hợp với chuyên chở hàng hoá đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh, trong chuyên chở đường biển gặp nhiều rủi ro và nguy hiểm.  Các tuyến đường trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên. Do đó không đòi hỏi phải đầu tư nhiều về tiền vốn, nguyên vật liệu, sức lao động để xây dựng và bảo quản các tuyến đường vận tải đưồng biển. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho giá thành vận tải đường biển thấp hơn so với các phương tiện vận tải khác.  Năng lực chuyên chở của vận tải biển là rất lớn. Nhìn chung năng lực chuyên chở của công cụ vận tải đường biển ( tàu biển) không bị hạn chế như các công cụ vận tải khác. Trên cùng một tuyến đường có thể tổ chức chạy nhiều chuyến tàu trong cùng một thời gian cho cả hai chiều. Trong những năm gần đây do tiến bộ của khoa học kỹ thuật, trọng tải trung bình của tàu biển tăng nhanh và có xu hướng tăng lên đối với tất cả các nhóm tàu. Ưu điểm nổi bật của tàu biển là giá thành thấp ( bằng 1/10 so với đường hàng không). Trong chuyên chở hàng hoá giá thành vận tải đường biển chỉ cao hơn giá thành vận tải đường ống còn thấp hơn nhiều so với các phương tiện khác. Nguyên nhân chủ yếu là trọng tải tàu biển lớn, cự ly chuyên chở trung bình dài, năng suất lao động cao. Với tiến bộ khoa học kỹ thuật và hoàn thiện cơ chế quản lý trong ngành vận tải đường biển, hiệu quả kinh tế chắc chắn ngày một tăng lên. Từ những đặc điểm trên của vận tải đường biển ta có thể rút ra kết luận một cách tổng quát về phạm vi áp dụng như sau: - Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá trong buôn bán quốc tế. - Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá có khối lượng lớn, chuyên chở cự ly dài nhưng không đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh chóng. 2.1.1.2 Tác dụng của vận tải đường biển.  Vận tải đường biển là yếu tố không tách rời thương mại quốc tế: Thương mại quốc tế và vận tải nói chung, vận tải đường biển nói riêng có mối quan hệ chặt chẽ và hữu cơ với nhau. Vận tải được phát triển trên cơ sở sản xuất và trao đổi hàng hoá. Ngược lại vận tải phát triển sẽ làm giảm giá thành chuyên chở, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ quốc tế, tự do hoá thương mại, thúc đẩy sản xuất phát triển. Thực tiễn trong thương mại cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hoá có vai trò quan trọng và liên quan chặt chẽ đến hợp đồng vận tải thậm chí bao gồm cả hợp đồng vận tải bởi vì hợp đồng mua bán hàng hoá là cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa người bán và người mua còn hợp đồng vận tải điều chỉnh quan hệ giữa người thuê chở và người chuyên chở mà người thuê chở là người bán hoặc người mua lại phụ thuộc vào quy định của hợp đồng mua bán.  Vận tải đường biển thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển: Khối lượng hàng hoá lưu chuyển giữa hai nước phụ thuộc vào nhiều điều kiện: tiềm năng kinh tế của hai nước, sự chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất của mỗi nước trong phân công lao động quốc tế, tình hình chính trị, điều kiện và khả năng vận tải giữa hai nước đó: Do tiến bộ khoa học kỹ thuật và tăng năng suất lao động trong ngành vận tải mà giá cước trung bình trong vận tải quốc tế có xu hướng giảm xuống. Vận tải đường biển có đặc điểm cước phí rẻ vì vậy vận tải đường biển làm tăng khối lượng luân chuyển hàng hóa trong buôn bán quốc tế, nói khác đi nó thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển  Vận tải đường biển phát triển góp phần làm thay đổi hàng hoá và cơ cấu thị trường buôn bán quốc tế: Trước đây vận tải đường biển chưa phát triển, công cụ vận tải thô sơ, sức chở của vận tải nhỏ, chi phí vận tải lại cao nên đã hạn chế việc mở rộng mua bán nhiều mặt hàng. Đặc biệt là mặt hàng nguyên, nhiên liệu. Việc buôn bán giữa các nước thời kỳ đó tập trung vào các mặt hàng thành phẩm. Sự ra đời của công cụ vận tải chuyên dùng có trọng tải lớn, đặc biệt là sự phát triển của vận tải đường biển, mạng lưới các tuyến đường phát triển đã cho phép hạ giá thành vận tải, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng chủng loại mặt hàng trong buôn bán quốc tế.  Trong bản thân nhóm hàng lỏng cũng có sự thay đổi về cơ cấu: tăng trỷ trọng dầu thô, giảm tỷ trọng mặt hàng sản phẩm dầu mỏ và xuất hiện nhiều mặt hàng lỏng trong buôn bán quốc tế như: hơi đốt ở thể lỏng, rượu, bia, nước ngọt,...buôn bán các nhóm mặt hàng khô cũng đa dạng và phong phú hơn gồm hàng thành phần có bao bì, hàng khô có khối lượng lớn như: quặng sắt, than đá, ngũ cốc, các loại khoáng sản khác...,vận tải đường biển phát triển đã làm thay đổi cơ cấu hàng hóa trên thị trường thế giới.  Trước đây khi vận tải đường biển còn chưa phát triển, hàng hóa chỉ có thể bán cho các nước lân cận, ở thị trường gần, ví dụ như Việt Nam bán hàng cho các nước Trung Quốc, Lào, Thái Lan... ngày nay vận tải đường biển đã phát triển, hàng hóa có thể được buôn bán ở bất kỳ thị trủờng nào trên thế giới. Vì vậy, vận tải đường biển góp phần thay đổi thị trường hàng hóa. Những nước xuất khẩu có khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình ở những thị trường xa xôi. Ngược lại nước nhập khẩu có điều kiện lựa chọn thị trường cung cấp hàng hóa rộng rãi hơn. Sự mở rộng thị trường và thay đổi cơ cấu thị trường trong buôn bán quốc tế được thể hiện ở cự ly chuyên chở trung bình trong vận tải đường biển quốc tế ngày càng tăng lên. Năm 1980 cự ly chuyển chở trung bình trong vận tải đường biển quốc tế là 3.601 hải lý, năm 1985 là 3.967 và năm 1990 là 4.285 hảo lý( 1 hải lý = 1,85km).  Vận tải đường biển tác động đến cán cân thanh toán quốc tế: Vận tải đường biển có tác dụng ảnh hưởng tích cực hoặc làm xấu đi cán cân thanh toán, chức năng phục vụ thể hiện ở chỗ vận tải quốc tể đảm bảo nhu cầu chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu của mỗi nước. Chức năng kinh doanh thể hiện trong việc thực hiện xuất khẩu sản phẩm vận tải đường biển. Xuất khẩu sản phẩm vận tải là một hình thức xuất nhập khẩu vô hình rất quan trọng. Thu chi ngoại tệ về vận tải đường biển và các dịch vụ liên quan đến vận tải đường biển là một bộ phận quan trọng trong cán cân thanh toán quốc tế. Phát triển vận tải đặc biệt là phát triển đội tàu buôn có tác dụng tăng thêm nguồn thu ngoại tệ bằng cách hạn chế nhập khẩu sản phẩm vận tải. Do đó vận tải ảnh hưởng tích cực đến cán cân thanh toán quốc tế. Nếu vận tải đường biển của một nước không đáp ứng được nhu cầu chuyên chở hàng hóa ngoại thương thì phải chi ra một lượng ngoại tệ nhất định để nhập khẩu sản phẩm vận tải. Sự thiếu hụt trong cán cân xuất nhập khẩu sản phẩm vận tải ảnh hưởng đến cán cấn thanh toán quốc tế. Trái lại dư thừa cán cân thanh toán về vận tải có thể bù đắp một phần thiếu hụt trong cán cân mậu dịch nói riêng và cán cân thanh toán quốc tế nói chung. 2.1.1 Dịch vụ vận tải 2.1.1.1 Khái niệm. Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sỡ hữu. Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí của hàng hoá và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác bằng các phương tiện vận tải. Dịch vụ vận tải là dịch vụ mà trong đó người vận tải thực hiện yêu cầu của khách hàng theo sự thoả thuận để vận chuyển hàng hoá và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác nhằm thu được lợi nhuận kinh tế. Căn cứ vào phạm vi sử dụng, vận tải được chia làm hai loại là vận tải công cộng và vận tải nội bộ. 2.1.1.2 Đặc điểm dịch vụ vận tải. Vận tải là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt.Bên cạnh những đặc điểm chung giống như các ngành sản xuất vật chất khác, vận tải còn có những đặc điểm riêng biệt:  Quá trình sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không gian lên đối tượng chuyên chở chứ không phải là quá trình tác động về mặt kỹ thuật lên đối tượng lao động.  Sản xuất trong vận tải không tạo ra sản phẩm mới, mà chỉ tạo ra một loại sản phẩm đặc biệt-sản phẩm vận tải.  Sản xuất trong vận tải không làm thay đổi hình dạng kích thước và tính chất lý hóa của chúng.  Sản phẩm của ngành vận tải cũng mang hai thuộc tính của hàng hoá là giá trị và giá trị sử dụng nhưng bản chất của nó là sự thay đổi vị trí của đối tượng chuyên chở.  Sản phẩm vận tải không có hình dạng kích thước cụ thể, không tồn tại ngoài quá trình sản xuất ra nó. Sản phẩm vận tải không có khảng cách về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng, nó được sản xuất và tiêu dùng cùng một lúc khi sản xuất kết thúc thì sản phẩm vận tải cũng được tiêu dùng ngay.  Sản phẩm vận tải là vô hình.  Vận tải không có khả năng dự trữ sản phẩm. 2.1.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải đường biển 2.1.3.1 Tuyến đường biển Từ lâu loài người đã biết lợi dụng đại dương làm tuyến đường giao thông để chuyên chở hành khách và hàng hoá giữa các nước với nhau. Các tuyến đường vận
- Xem thêm -