Thuc trang day mon ngu van hien nay

  • Số trang: 86 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

§Ò tµi khoa häc LỜI NÓI ĐẦU Nghiên cứu khoa học là một vấn đề cần thiết và quan trọng đối với con người dù ở bất kỳ xã hội nào ,thời kỳ nào của lịch sử. Nhờ có nghiên cứu khoa học mà con người làm chủ được thiên nhiên, làm chủ được vũ trụ bao la. Ngày nay, nghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động có tốc độ phát triển nhanh nhất thời đại ,nó nghiên cứu tất cả các góc cạnh của thế giới .Khoa học kỹ thuật và công nghệ đang phát triển mạnh mẽ đòi hỏi chúng ta phải có những vốn sống ,vốn hiểu biết về khoa học để hoà mình vào xu thế chung của thời đại. Nghiên cứu khoa học nhằm mục đích khám phá ra những chân lý mới ,những hiểu biết mới về thế giới khách quan .Có nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học thể hiện dưới nhiều hình thức song mục đích duy nhất là nghiên cứu để khám phá đối tượng ,trên cơ sở đó tìm ra biện pháp khoa học phù hợp tác động vào đối tượng thúc đẩy sự phát triển của đối tượng ,nâng cao hiệu quả của quá trình giáo dục. Nhà nước ta coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”,vì vậy giáo dục được sự quan tâm của toàn xã hội .Để việc dạy học đạt kết quả cao thì phải đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các lớp học ,bậc học,ngành học cho hợp với sự phát triển của trí thức nhân loại .Đổi mới phương pháp dạy học là xây dựng các phương pháp dạy học mới trên cơ sở những phương pháp dạy học đã có, kế thừa và phát triển các phương pháp truyền thống ,đổi mới các phần đã lạc hậu thành phương pháp mới. Đề tài này của tôi bước đầu đã nghiên cứu việc đổi mới phương pháp dạy và học ở môn văn -Trung học cơ sở .Tuy đã cố gắng rất nhiều trong công tác nghiên cứu nhưng cũng không thể tránh được những thiếu sót.Do vậy ,tôi rất mong sự góp ý của Thầy cô và bạn đọc để đề tài của tôi được hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn ! Hưng yên,10 tháng 5 năm 2007 1 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc A.phần mở đầu I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1.Cơ sở lý luận. 1.1 Xuất phát từ phương châm “học đi đôi với hành” lý thuyết phải gắn liền với thực tế, chúng tôi những giáo viên Văn cần phải đi tìm hiểu thực trạng dạy học môn văn ở trung học cơ sở sau một năm giảng dạy, nhằm rút ngắn khoảng cách giữa lý luận và thực tiễn. Để sau khi giảng dạy không khỏi bỡ ngỡ khi bước vào thực tế giảng dạy. 1.2 Muốn giảng dạy tốt phải có kỹ năng nghiên cứu tốt, nghiên cứu để giảng dạy, từ giảng dạy để đúc rút kinh nghiệm.Tất cả các ngành khoa học đều phải đi theo con đường này, dạy văn cũng vậy. 1.3 Môn văn từ trước đến nay đã có vị trí rất lớn trong việc hình thành nhân cách con người “Văn học là nhân học”. Đặc biệt các em đang học lớp 6 lứa tuổi từ 11-12 tuổi nhận thức còn non yếu thì việc học văn lại càng có tầm quan trọng.Qua các tác phẩm văn học trong nhà trường các em sẽ hiểu được cái hay cái đẹp của cuộc sống, học theo những tấm gương tốt, lên án những điều xấu xa, từ đó hình thành nên thái độ đối với cuộc sống hiện tại. 2.Cơ sở thực tiễn. 2.1Trong thời đại mới, khoa học công nghệ phát triển vuợt bậc.Đảng và nhà nước ta đã và đang đề ra những yêu cầu đổi mới của ngành giáo dục nhằm tạo ra những con người mới đáp ứng yêu cầu của xã hội. Một trong các chủ trương đổi mới đó là thay sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy và học. Lớp 6 là lớp đầu tiên của bậc học cơ sở và chính là đối tượng đang tiến hành cải cách giáo dục. 2.2 Thực tế của việc dạy và học văn hiện nay nói chung còn nhiều bất cập: Giáo viên giảng dậy chưa nhiệt tình, chưa gắn liền với thực tế. Học sinh vẫn còn coi nhẹ môn văn.Việc dạy và học môn văn còn tồn tại nhiều vấn đề tranh cãi.Vậy việc dạy và học văn lớp 6 nói riêng đã đáp ứng được yêu cầu của thời đại chưa? Cần phải nhìn đúng thực trạng và có cuộc cách mạng lớn . 2 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc Từ những nhận thức trên tôi đã chọn đề tài “Thực trạng dạy học môn ngữ văn” qua đó để có những hiểu biết ban đầu về thực trạng dạy và học môn ngữ văn hiện nay.Đồng thời tôi cũng mạnh dạn đưa ra một vài ý kiến nhỏ của mình về biện pháp khắc phục những mặt hạn chế còn tồn tại.Hơn nữa việc làm đề tài này cũng chính là thao tác làm quen với công tác nghiên cứu khoa học mà người giáo viên trung học cơ sở phải tham gia để góp phần củng cố sự nghiệp giáo dục của nước nhà. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU. 1.Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng môn văn ở lớp 6 trường trung học cơ sở Hồng Châu 2.Phạm vi nghiên cứu. Bài tập này tập trung đi sâu nghiên cứu giải quyết 2 vấn đề: + Giảng dậy ngữ văn 6 của giáo viên trường trung học cơ sở Hồng Châu +Học tập ngữ văn 6 của học sinh trường trung học cơ sở Hồng Châu Do hạn chế về thời gian nghiên cứu tôi chỉ tập trung nghiên cứu việc dạy và học văn ở lớp 6B (Lớp tôi được phân công chủ nhiệm).Tuy nhiên để có những kết luận chính xác tôi đã mở rộng phạm vi khảo sát chương trình sách ngữ văn 6 và việc dạy và học của giáo viên và học sinh 2 lớp 6A và 6B. III.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU. - Nhằm bước đầu làm quen với việc nghiên cứu khoa học, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu sau này.Nắm được các thao tác kỹ năng nghiên cứu, khả năng đề xuất kiến nghị thực nghiệm. - Nhằm nhìn đúng thực tế của việc dạy và học môn ngữ văn 6 hiện nay.Phân tích được thực trạng bước đầu có những đề xuất góp phần giải đáp được những khó khăn môn văn đang mắc phải . - Từng bước phấn đấu trở thành người giáo viên dạy giỏi. Muốn vậy, phải phát hiện được những hạn chế, vượt qua hạn chế và có những sáng tạo mới trong việc học văn và hướng dẫn học sinh lớp 6 học tốt văn. 3 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc IV.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ. -Việc điều tra đánh giá thực tế việc dạy và học môn văn trong nhà trường cũng như chương trình SGK xưa nay đã có rất nhiều người nghiên cứu. Đó chính là quá trình tổng kết rút kinh nghiệm cải tiến sửa đổi để không ngừng năng cao chất lượng dạy và học văn nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội. - Việc dạy và học môn ngữ văn 6 mới được tiến hành đại trà trong năm học 2002- 2003 nhưng cũng đã có rất nhiều nhà nghiên cứu điều tra tìm hiểu và trong tương lai sẽ có nhiều hơn nữa những người nghiên cứu thực trạng môn ngữ văn 6 ở THCS. - Cùng thực hiện đề tài này còn biết bao bài tập nghiên cứu khác của sinh viên, của các chuên viên ngành giáo dục muốn tìm hiểu thực trạng dạy và học môn văn 6- một vấn đề còn rất nhiều tranh cãi.Vì vậy khi thực hiện bài tập này tôi mong muốn cùng mọi người tìm ra một kết luận chung từ đó đề xuất những biện pháp khắc phục hạn chế để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học văn . - Bài tập này cũng hi vọng có nhiều phát hiện, ý kiến mới mà trong quá trình nghiên cứu sẽ nảy sinh. V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. 1.Phương châm nghiên cứu. Trước và trong khi nghiên cứu phương châm chính của tôi là lý luận gắn với thực tiễn, nghiên cứu phải dứt điểm, thực tế phải chính xác, dùng những phương pháp nghiên cứu so sánh thực tế với lý thuyết sư phạm để tìm ra phương pháp nâng cao chất lượng. 2.Phương pháp nghiên cứu. 2.1 Phương pháp thống kê phân loại. Trước khi nghiên cứu thực trạng môn ngữ văn 6 ở trường THCS Hồng Châu, tôi đã thống kê chất lượng môn văn học kỳ I của học sinh lớp 6B. Phân loại học sinh khá, TB, yếu. Từ những hiểu biết ban đầu đó tôi 4 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc tiếp tục nghiên cứu điều tra để thấy được thực trạng thực tế của việc dạy học văn của lớp. 2.2 Phương pháp khảo sát. Đây là đề khảo sát điều tra nên tôi sử dụng phương pháp trắc nghiệm là chủ yếu. Tôi đã phát phiếu điều tra để nghiên cứu việc dạy và học môn văn của lớp 6B. Cụ thể nghiên cứu hứng thú của học sinh đối với môn văn và việc học văn cuả học sinh. Bên cạnh đó tôi đã kết hợp phỏng vấn đối với giáo viên dạy văn trong trường đặc biệt là giáo viên dạy văn lớp 6. 2.3 Phương pháp so sánh đối chiếu. So sánh đối chiếu kết quả của việc dạy thử nghiệm, phát câu hỏi kiểm tra nhanh với kết quả học tập của học sinh qua sổ điểm của giáo viên và tổng kết chung của nhà trường. 2.4 Phương pháp phân tích tổng hợp. Dựa vào tất cả các kết quả điều tra, phân tích các mặt ưu nhược điểm, nguyên nhân sau đó tổng hợp lại. Từ kết quả này đề ra những biện pháp giải quyết tồn tại, phát huy ưu điểm các mặt của đối tượng ( Giáo viên, học sinh, việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh). VI. BỐ CỤC Ba phần: A. Phần mở đầu. B. Phần nội dung. C. Phần kết luận B.Phần nội dung. 5 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG MÔN VĂN Ở LỚP 6 TRƯỜNG THCS HỒNG CHÂU I. Môn văn trong sách ngữ văn 6. 1.Khảo sát chương trình và SGK môn văn lớp 6 . 1.1 Khảo sát nội dung chương trình ngữ văn 6. Ngữ văn 6 – tập I STT 1. 2. 3. BÀI Bài 1 (Tự học) Bài 2 TÊN BÀI HỌC TRANG Con rồng – cháu tiên Bánh trưng bánh giầy Thánh Gióng 5 9 19 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. 12. 13. 14. 15. 16. 17. 18. 19. 20. 21. Bài 3 Bài 4 Bài 5 Bài 6 Bài 7 Bài 8 Bài 9 Bài 10 ( Tù häc) Thµy bãi xem voi Bµi 11 Bµi 12 Bµi 13 Bµi 14 Bµi 15 Bµi 16 Bµi 17 Sơn Tinh – Thuỷ Tinh Sự tích Hồ Gươm Sọ Dừa Thạch Sanh Em bé thông minh Cây bút thần Ông lão đánh cá và con cá vàng ếch ngồi đáy giếng 31 39 49 61 70 80 91 100 101 §eo nh¹c cho mÌo Ch©n, Tay, Tai, M¾t, MiÖng Treo biÓn Lîn cíi, ¸o míi ¤n tËp truyÖn d©n gian Con hæ cã nghÜa MÑ hiÒn d¹y con ThÇy thuèc giái cèt ë tÊm lßng Ch¬ng tr×nh ®Þa ph¬ng (V¨n) 104 114 124 126 134 141 150 162 172 NhËn xÐt:TËp I s¸ch ng÷ v¨n 6 cã 17 bµi, cã 17 t¸c phÈm(v¨n b¶n) kÓ c¶ bµi ®äc thªm 6 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc Ng÷ v¨n 6 – tËp II BÀI TRANG TÊN BÀI HỌC 1. Bài 18 Bài học đương đời đầu tiên 3 2. Bài 19 Sông nước Cà Mau 18 3. Bài 20 Bức tranh của em gái tôi 30 4. Bài 21 Vượt thác 37 5. Bài 22 Buổi học cuối cùng 49 6. Bài 23 Đêm nay Bác không ngủ 63 7. Bài 24 Lượm 72 8. (Tự học) Mưa 76 9. Cô Tô 88 Bài 25 10. Bài 26 Cây tre Việt Nam 11. Bài 27 Lòng yêu nước 106 Lao xao 110 12. 95 13. Bài 28 Ôn tập truyện và ký 117 14. Bài 29 Cầu Long Biên- chứng nhân lịc sử 123 15. Bài 30 Bức thư của thủ lĩnh da đỏ 135 Động Phong Nha 144 Tổng Bài 31 kết phần văn1 7 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc 18.B Bài 33 ài 32 Chương trình địa phương văn 160 17. Nhận xét:Tập I sách ngữ văn 6 có 15 bài, có 15 tác phẩm(văn bản) kể cả bài đọc thêm. 1.2 Sách giáo khoa và các tài liệu khác. *Sách giáo khoa. Chương trình cũ:Văn học (Tập 1,2) Tiếng Việt (Tập 1,2). Tập làm văn. Chương trình mới: Ngữ văn (tập 1,2). Nhận xét: Trước 3 phân môn văn học, tiếng Việt, tập làm văn trước có SGK riêng cho từng phân môn. Nay tập chung lại trong một cuốn. Sách ngữ văn sử dụng nhiều tranh ảnh minh hoạ. Trung bình 1 văn bản có 1 tranh minh hoạ. CẤU TRÚC CỦA MỘT BÀI DẠY VĂN: Văn 6 Ngữ văn 6 Tiểu dẫn Mục đích yêu cầu Văn bản Văn bản Chú giải Chú giải Hướng dẫn học bài Đọc – hiểu văn bản (Hệ thống câu hỏi) (Hệ thống câu hỏi) Ghi nhớ Luyện tập Nhận xét: Cấu trúc của một bài dạy văn đã có sự thay đổi. Phần tiểu dẫn (Văn 6) thuộc phần chú giải trong sách ngữ văn. Ngữ văn 6 có thêm 3 phần mới (mục đích yêu cầu, ghi nhớ, luyện tập). SÁCH HƯỚNG DẪN VÀ CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 8 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc Sách mới Sách cũ Giáo viên Sách giáo viên (Tập 1,2) Học sinh Sách giáo viên (Tập 1,2) Bài soạn (Tập 1,2) Thiết kế bài giảng Văn học (Tập 1,2) Ngữ văn 6 (Tập 1,2 ) Để học tốt văn 6 (Tập 1,2) Bài tập ngữ văn 6 (Tập 1, 2) 1.3. Ý kiến của giáo viên giảng dạy: Sau khi chọn 6B là lớp nghiên cứu chính tôi đã tiến hàng phỏng vấn thầy (Giáo viên dạy văn lớp 6B ) và một số giáo viên khác. Thầy đã có một vài ý kiến về SGK văn 6: Hỏi: Chương trình SGK và các tài liệu môn ngữ văn mà cô đang sử dụng có ưu và nhược điểm lớn nhất là gì? Trả lời: *Ưu điểm: -Sách ngữ văn trình bày đẹp, có nhiều tranh minh hoạ. - Nội dung đã chú ý liên hệ thực tế. Đã có phần văn học địa phương - Có bộ tranh minh hoạ do nhà xuất bản phát hành (1 – 3 tranh/ bài) Tranh in to đẹp. *Nhược điểm: -Dung lượng một tiết quá nhiều, yêu cầu cao, nhiều kiến thức mới lạ, kiểu văn bản mới lạ. Sự tích hợp giữa văn – tiếng Việt – tập làm văn còn có chỗ chưa hợp lý. -Chưa có sự thống nhất trong việc hướng dẫn soạn giảng 1 bài trong sách giáo viên và sách thiết kế bài giảng . -Chương trình địa phương (phần văn) còn chưa thống nhất, sự chỉ đạo của phòng GD còn chậm. Hỏi:Theo ý kiến của thầy cô, chương trình SGK và các tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập môn văn 6 cần phải thay đổi những gì?. Trả lời: 9 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc Môn văn 6 được dạy theo kiểu tích hợp với phương pháp giảng dạy mới. Thể loại chính là văn học dân gian, truyện và ký. Tác phẩm chọn lọc nhưng có bài chất lượng nghệ thuật chưa cao nhiều bài nội dung còn trùng lặp: ( Ếch ngồi đáy giếng, Thầy bói xem voi). Vì vậy khi chọn văn bản đưa vào chương trình cần chú ý chọn những tác phẩm thật sự tiêu biểu có chất lượng nghệ thuật cao, có nhiều ứng dụng vào thực tiễn vào việc giáo dục thái độ nhận thức, hành động cho học sinh. Tác phẩm được chọn lọc cần có tính tích hợp cao hơn với phần Văn và Tiếng Việt. giáo viên dạy lớp 6A trả lời: -Thầy Sách giáo khoa có nhiều bài mới thuộc các thể loại mà văn học 6 cũ không có. Các bài này khó đối với trình độ học sinh lớp 6. Tài liệu phục vụ giảng dạy chưa nhiều và chưa có sự thống nhất. Cần chú ý chọn những bài có chất lượng nghệ thuật cao hơn và có ứng dụng nhiều trong việc dạy 2 phân môn Tiếng Việt và Tập làm văn. 1.4 Nhận xét: * Nội dung chương trình sách ngữ văn 6. -Số lượng văn bản (tác phẩm) là 34 (Kể cả các bài đọc thêm). Sách giáo khoa văn học 6 trước đây có 64 bài (Có 41 tác phẩm được giảng, 23 tác phẩm đọc thêm.Như vậy số lượng văn bản ít đi bài sẽ được khai thác kỹ hơn. -Số tiết: Nay: 2 tiết / tuần Trước: 3 tiết / tuần KL:Số lượng bài và số tiết đã được giảm đi đáng kể, đã thực hiện được việc giảm tải. * Loại thể: Văn học dân gian:Truyền thuyết. Cổ tích. Truyện cười. Truyện và ký. Học sinh lớp 6 vừa được chuyển tiếp lên từ cấp I, trình độ nhận thức còn hạn chế . Việc giảng dạy các tác phẩm văn học dân gian, Những tác 10 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc *Chất lượng tác phẩm (văn bản). Tác phẩm được lựa chọn đưa vào chương trình ngữ văn 6 có 34 bài, trong đó có 15 bài thuộc sách cũ (văn 6) và 19 bài mới. Có một số bài chuyển từ đọc thêm (Văn 6) sang bài học chính (Ngữ văn 6) VD :“Thầy bói xem voi” “Đeo nhạc cho mèo”.Một số bài từ văn 7 chuyển sang ngữ văn 6 (Thạch Sanh, Cây bút thần, Ông lão đánh cá và con cá vàng, Treo biển, Lợn cưới áo mới). Một số tác phẩm hay vắng mặt ( Mỵ Châu Trọng Thuỷ, Cây tre trăm đốt, Sự tích trầu cau, Nhớ con sông quê hương, Khúc hát ru những em bé trên lưng mẹ). Việc lựa chọn những tác phẩm đưa vài chương trình dựa theo nguyên tắc tích hợp đã có nhiều bài đáp ứng được yêu cầu này, tuy nhiên mức độ tích hợp giữa các bài không đều nhau. *Về SGK và các tài liệu khác. -Về SGK: Ba phân môn được dồn thành một quyển đó là sách ngữ văn rất thuận lợi cho việc giảng dạy của giáo viên và hạn chế việc mang nhiều sách của học sinh. Bố cục của một bài: Văn – Tiếng Việt – Tập làm văn Về cấu trúc của một bài dạy văn có phần mục đích yêu cầu, ghi nhớ, luyện tập, câu hỏi đa dạng tăng tính thực hành (Đây là điểm mới so với chương trình cũ). +Phần mục đích yêu cầu chính là cái đích mà học sinh và giáo viên cần đạt được trong bài học. 11 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc +Phần luyện tập thường là phần dành cho các em phát biểu cảm nghĩ về tác phẩm hoặc nâng cao kiến thức. +Phần đọc thêm ngắn gọn giúp học sinh tham khảo mở mang kiến thức văn học Như vậy cấu trúc một bài văn trong sách ngữ văn có nhiều điểm khác biệt so với cấu trúc một bài văn trong SGK văn 6. Điều nằy thể hiện sự tìm tòi đổi mới của những người biên tập SGK để đề ra cấu trúc một bài văn hoàn chỉnh nhất. -Về sách hướng dẫn và các tài liệu tham khảo: +Đối với giáo viên 2 cuốn sách được sử dụng nhiều hơn cả là sách giáo viên và sách thiết kế bài giảng ngữ văn 6 , hai cuốn sách này đều có ưu và nhược điểm riêng: SGV đã đề ra những nội dung cơ bản cần đạt của một bài dạy và hướng dẫn cách giải quyết. Tuy nhiên SGV không đưa ra nhiều cách cảm thụ khai thác khác nhau, nhiều cách cảm thụ khai thác chưa thật sự tối ưu. Sách thiết kế bài giảng ngữ văn 6 đã hướng dẫn chi tiết từng bước lên lớp, khai thác tác phẩm. Điều này giúp giáo viên thiết kế một giáo án chi tiết cụ thể nhưng cũng vì thế mà hạn chế khả năng sáng tạo của giáo viên, giúp giáo viên trở lên “lười” hơn. SGV và thiết kế bài giảng chỉ là tài liệu để GV tham khảo thêm. Mỗi giáo viên đều phải độc lập tư duy sáng tạo để có một bài giảng phù hợp với đối tượng học sinh ở từng nơi (Nhưng vẫn không xa dời mục đích yêu cầu của bài dạy và đảm bảo truyền thụ đầy đủ kiến thức cơ bản). *Đối với học sinh ngoài sách ngữ văn học sinh con sử dụng sách “Bài tập ngữ văn”. Sách bài tập này đã hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi trong SGK bên cạnh đó còn đề ra một số baì tập giúp học sinh tự học tự tìm hiểu sâu hơn về tác phẩm. 12 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc trung học cơ sở Hồng Châu. 1.Khảo sát kết quả môn văn lớp 6 học kỳ I qua điểm tổng kết. 1.1 Thống kê. STT HỌ VÀ TÊN ĐIỂM 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. 12. 13. 14. 15. 16. 17. 18. 19. 13 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc 21. 22 23 24 25 26 27 28. 29. PHÂN LOẠI Loại giỏi SL % Loại khá SL % Loại trung bình SL % Loại yếu SL % 1.2 Nhận xét: Nhìn vào bảng phân loại kết quả học tập của học sinh lớp 6 B ta thấy chất lượng học tập còn chưa cao. Không có học sinh đạt loại giỏi, có học sinh đạt loại yếu. Tỷ lệ học sinh đoạt loại yếu còn cao hơn tỷ lệ học sinh đạt loại khá. Như vậy so với yêu cầu không có học sinh yếu thì kết quả học tập học kỳ I chưa đạt. 2. Thực tế giảng dạy của giáo viên. 2.1 khảo sát. *Bài soạn CẤU TRÚC MỘT BÀI SOẠN Văn học 6 Ngữ văn 6 A. Mục tiêu C. Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy và học. 1. ổn định tổ chức. I. Mục đích yêu cầu III. Tiến trình lên lớp.B. Đồ dùng 1.ổn định tổ chức -ổn định trật tự 14 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc - Kiểm tra sĩ số ổn định trật tự Kiểm tra sĩ số 2.Kiểm tra bài cũ 3.Giới thiệu bài mới. 4.Các hoạt động dạy và học 5.Củng cố 6.Hướng dẫn về nhà 3.Bài mới. 4.Củng cố. 5. Hướng dẫn về nhà. II. Chuẩn bị Nhận xét:Cấu trúc một giáo án dạy môn văn lớp 6 tại trường THCS Hồng Châu có nhiều điểm mới so với giáo án cũ: +Cách đặt tiêu đề. +Các bước lên lớp. Giáo án luôn được chuẩn bị mới.Vì chiều thứ 2 hàng tuần giáo viên trong trường đều phải nộp giáo án để hiệu trưởng hoặc tổ trưởng bộ môn ký duyệt. Qua việc trực tiếp xem xét giáo án tôi nhận thấy: -Giáo án đảm bảo đủ lượng tri thức cho một bài dạy. - Giáo án được trình bày sạch đẹp khoa học. -Khi giảng GV đã thoát ly giáo án nhưng vẫn thực hiện đúng các bước đã chuẩn bị. *Đồ dùng dạy học. THCS Hồng Châu là trường sắp lên chuẩn quốc gia. Trường được uỷ ban nhân dân xã và phòng giáo dục Thị xã rất quan tâm trang bị cơ sở vật 15 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc *Kiểm tra đánh giá định kỳ học kỳ cuối năm . Một số đề kiểm tra 1. Em hãy kể tên những tác phẩm văn học dân gian mà em đã học ở trong chương trình Ngữ văn 6 học kỳ I 2. Em hãy kể lại một câu chuyện thuộc văn học dân gian mà em thích băng lời kể của mình. Việc kiểm tra đánh giá định kỳ được tiến hành một cách thường xuyên theo đúng quy định trong phân phối chương trình. Các đề kiểm tra đảm bảo kiểm tra được các tri thức mà các em đã tiếp thu và đã chú ý đến tính vừa sức của học sinh. Tuy nhiên còn thiếu tính sáng tạo và tính thực tiễn. Giữa các đề không có tính lôgíc mà chỉ đơn giản là sau mỗi phần học giáo viên cho một đề kiểm tra. Đề cuối học kỳ chưa có tính tổng kết nội dung của cả một học kỳ. Việc kiểm tra đánh giá khách quan, có rất ít hiện tượng quay cóp trong giờ kiểm tra. Việc chấm bài của học sinh thực hiện còn chưa tốt. Nhận xét: Việc kiểm tra còn nhiều hạn chế. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến thái độ học tập của học sinh. Giáo viên cần xác định đúng tầm quan trọng trong khi ra đề kiểm tra và chấm bài. 2.2 Dự giờ thăm lớp. Ngoài các tiết văn dự theo phân phối chương trình tôi đã xin dự các tiết văn khác.Cụ thể các tiết văn tôi đã được dự: +Bức tranh của em gái tôi – Thầy +Buổi học cuối cùng (Tiết 1,2).-Thầy +Đêm nay Bác không ngủ (Tiết 2)- Thầy Qua các tiết dự đó tôi mạnh dạn đưa ra một vài nhận xét: - Những yêu cầu bài dạy cần đạt: +Về tri thức: Đã truyền đạt đầy đủ tri thức cơ bản của bài +Về mục đích giáo dục: Đã nêu được giá trị giáo dục của từng bài. Tuy nhiên chưa để các em vận dụng những bài học giáo dục đó vào thực tiễn. +Về kỹ năng: Rèn kỹ năng nghe, đọc, nói, viết cho học sinh. 16 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc Nói: Bài giảng đã sử dụng hệ thống câu hỏi phong phú yêu cầu học sinh trả lời. Giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp thảo kuận theo nhóm tạo điều kiện cho học sinh bày tỏ ý kiến của mình.Tuy nhiên sau khi hnọc sinh phát biểu giáo viên thường chỉ nhận xét vè nội dung mà không nhận xét cách diễn đạt. Nghe, viết: Giáo viên còn chưa chú ý đến việc rèn kỹ năng nghe viết cho học sinh. -Về phương pháp truyền đạt. +Cách diễn đạt của giáo viên lưu loát rõ ràng +Các thao tác điều hành nhịp nhàng +Khi phân tích giáo viên đi từ văn liệu đến nghệ thuật đến nội dung. -Ghi bảng: Chữ viết sạch đẹp, trình bày bảng khoa học. Kiến thức ghi bảng chọn lọc. Sau mỗi phần phân tích đều có phần tiểu kết để chốt kiến thức cơ bản. Nhận xét: Cách học này có rất nhiều ưu điểm đã phát huy được tính chủ động tích cực của học sinh. Với cách học này học sinh sẽ đạt kết quả học tập khá cao. 2.3 Phỏng vấn: Hỏi: Để có một giờ học văn đạt kết quả tốt kinh nghiệm của thầy cô là gì? Trả lời: Thầy – GV dạy văn 6B trả lời: -Nghiên cứu kỹ bài giảng trước khi dạy -Tham khoả tài liệu chuẩn bị sẵn đồ dùng. - Học sinh chuẩn bị bài ở nhà theo yêu cầu của giáo viên. Thầy - GV dạy văn lớp 6A trả lời: -Khi dạy bài nào giáo viên phải thật sự hiểu về bài đó, thật sự hoà mình vào cảm xúc văn chương của tác giả để hiểu những tầng ý nghĩa ẩn sau các dòng chữ. - Giao bài tập cho học sinh về nhà tìm hiểu trước khi đến lớp. - Sử dụng phương pháp thảo luận để phát huy tính tích cực của học sinh. -Giáo viên phải thường xuyên khen ngợi động viên khuyến khích để học sinh tự tin khi tham gia ý kiến xây dựng bài. Hỏi:Những giờ văn nào khiến thầy cô hứng thú nhất và ngược lại? 17 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc Thầy trả lời: Những giờ văn tôi cảm thấy hứng thú nhất đó là những giờ học có sự kết hợp nhịp nhàng giữa thầy và trò. Học sinh thật sự chú ý hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài, giáo viên dạy thật tâm huyết và say mê. Thường những giờ văn học dân gian khiến tôi cảm thấy hứng thú. Những giờ văn tôi cảm thấy không hứng thú đó là những bài quá dài giáo viên chú ý dạy cho kịp giờ thì chất lượng văn chương thường không cao và đó là những giờ văn tôi cảm thấy không hứng thú nhất. Thầy trả lời: Tôi hứng thú khi giảng những giờ văn học dân gian vì trong ngững giờ học này học sinh tiếp thu bài rất nhanh và hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài. Những giờ dạy văn học địa phương thường không có nhiều hứng thú vì giáo viên không thực sự có nhiều hiểu biết về văn học địa phương trong khi đó học sinh cũng không thích thú khi học phần văn học này. Nhận xét: Qua việc phỏng vấn tôi nhận thấy những kinh nghiệm, suy nghĩ của thầy cô rất đúng và có nhiều điều gợi mở. Những ý kiến đó đã phản ánh đúng thực tế quá trình dạy và học môn văn ở trường THCS Hồng Châu. Thầy cô luôn cố gắng trong giảng dạy và mong muốn có sự chỉ đạo của cấp trên nhất là trong việc dạy phần văn học địa phương. III .Thực tế học tập của học sinh. 1. Khảo sát: Để khảo sát thực tế học tập của học sinh tôi đã phát phiếu thăm dò ý kiến với hệ thống 6 câu hỏi nhằm nghiên cứu hứng thú học tập của học sinh đối với bộ môn văn và những biểu hiện của học sinh trong quá trình học môn văn cũng như những kết quả mà học sinh đã thu được trong học kỳ I. Tôi đã phát 29 phiếu cho 29 em học sinh lớp 6B, thu về 29 phiếu (Đủ) Sau khi tổng hợp tôi đã thu được kết quả như sau: Câu hỏi 1: Em có thích học văn không? Kết quả: -Có : học sinh = -Không : học sinh = 18 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc Vậy thực trạng này được giải thích bởi những lý do nào chúng ta hãy quan sát bản thống kê dưới Câu hỏi 2:Vì sao em thích hay không thích học môn văn? Đánh dấu vào những lý do phù hợp với mình. Kết quả: STT 1. Mức độ Thích Không thích Lý do Kiến thức môn văn có liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai. 64% 29% Môn văn rất có ích, có nhiều ứng dụng trong cuộc sống. 87% 13% 3. Kiế 64% n thứ c mô n văn là cơ sở để học tốt các mô n khá c. 4. Môn văn giúp em rèn luyện cách diễn đạt tốt. 78% 22% 2. 19 TrÞnh ViÖt V¬ng §Ò tµi khoa häc 6. 7. 8. 9. môn văn Em có nhiều sách tham khảo về môn văn Em muốn có kiến thức sâu hơn về văn Giáo viên dạy văn hấp dẫn lôi cuốn Giáo viên đánh giá học sinh đúng và công bằng. 10. Giá 93% o viê n văn thư ờng xuy ên kiể m tra, củn g cố kiế n thứ c tron g giờ văn 11. Đây là một trong môn thi tốt nghiệp 20 42% 58% 22% 93% 88% 7% 56% 44% 71% 29% 7% 96% 4% TrÞnh ViÖt V¬ng
- Xem thêm -