Thực trạng của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nguyễn bỉnh khiêm, huyện châu thành, tỉnh an giang

  • Số trang: 96 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 33 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ------    ----- ĐOÀN THỊ KIỀU OANH LỚP DH10CT THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN BỈNH KHIÊM, HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ KHÓA HỌC 2009 - 2013 AN GIANG 04/2013 LỜI CẢM ƠN Trong thời gian học tập tại trường và trong suốt khoảng thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ tận tình từ Khoa, từ các đơn vị và giáo viên hướng dẫn. Nay tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn đến: Quý thầy, cô giáo khoa Lý luận Chính trị trường Đại học An Giang đã tận tình truyền đạt những tri thức quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khóa học và khóa luận tốt nghiệp. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Th.s Tôn Việt Thảo, người đã bỏ ra nhiều tâm huyết, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành cuốn khóa luận tốt nghiệp này. Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô, các em học sinh trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, quý bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và khóa luận. Tôi xin chân thành cảm ơn. Sinh viên Đoàn Thị Kiều Oanh MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU ....................................................................................... …………01 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................... 01 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................... 03 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .................................................... 04 4. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................. 04 5. Đóng góp của khóa luận .................................................................... 04 6. Cấu trúc khóa luận ............................................................................ 04 NỘI DUNG ................................................................................................... 04 Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1. Đặc thù của môn GDCD ở trƣờng THPT ........................................... 05 1.1.1. Vị trí của môn GDCD ở trường THPT.......................................... 05 1.1.2. Nhiệm vụ môn GDCD ở trường THPT ......................................... 06 1.1.3. Đặc thù tri thức môn giáo dục công dân ở trường THPT.............. 10 1.2. Quan điểm xây dựng chƣơng trình và những định hƣớng về đổi mới phƣơng pháp giảng dạy môn GDCD .......................................................... 13 1.2.1. Quan điểm xây dựng chương trình giảng dạy môn GDCD ở trường THPT .............................................................................................................. 13 1.2.2. Những định hướng về đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDCD ở trường THPT ............................................................................................... 15 1.3. Một số khái niệm liên quan .................................................................. 18 1.3.1. Khái niệm về tính tích cực và tính tích cực trong học tập............. 18 1.3.2. Các cấp độ của tính tích cực .......................................................... 21 1.3.3. Nguyên nhân của tính tích cực nhận thức ..................................... 22 1.4. Phƣơng pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trƣờng THPT ................................................................. 24 1.4.1. Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực ......................... 24 1.4.2. Quá trình sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong giảng dạy môn GDCD ở trường THPT ...................................................................... 28 1.4.3. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Giáo dục Công dân ở trường THPT ........................................................................................ 34 Chƣơng II: THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGUYỄN BỈNH KHIÊM, HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG 2.1. Đặc điểm trƣờng THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang .............................................................................................. 37 2.1.1. Giới thiệu sơ lược về trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang ............................................................................ 37 2.1.2. Giới thiệu sơ nét về Tổ Bộ môn Giáo dục Công dân ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang ........................... 38 2.1.3. Đặc điểm học sinh trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang ................................................................................... 39 2.2. Thành tựu của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Giáo dục Công dân ở THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang ................................................................................... 40 2.3. Những hạn chế trong việc dạy và học môn Giáo dục Công dân ở trƣờng THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm hiện nay .............................................. 50 2.4. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Giáo dục công dân trƣờng THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm ........................................................................... 54 2.4.1. Nguyên nhân của những thành tựu ................................................ 54 2.4.2. Nguyên nhân của những hạn chế .................................................. 56 2.5. Một số giải pháp góp phần phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Giáo dục công dân ở trƣờng THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm.... 59 PHẦN KẾT LUẬN ......................................................................................... 66 PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Quá trình dạy học là quá trình thống nhất, biện chứng giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, trong đó hoạt động học là trung tâm. Dạy học nhằm phát huy tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh thực chất, đó là quá trình tổ chức, hướng dẫn học sinh tìm hiểu, phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề trên cơ sở tự giác, được tạo khả năng và điều kiện để chủ động trong hoạt động học tập của học sinh. Quá trình đó thực chất là tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập. Việc phát huy tính tích cực trong hoạt động học tập của học sinh là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của người thầy trong quá trình dạy học. Vì vậy, việc nghiên cứu về lý luận thực tiễn, việc vận dụng nó trong dạy học như thế nào luôn là trung tâm chú ý của các nhà giáo dục. Muốn nâng cao tính tích cực của người học, đòi hỏi phải không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy. Đổi mới các phương pháp dạy học là thay thế các phương pháp dạy học chỉ đem lại cho người học sự thụ động, lệ thuộc vào người dạy bằng các phương pháp dạy học khác có khả năng làm phát huy tính tích cực chủ động của người học. Đổi mới phương pháp dạy học đối với giáo dục và đào tạo nước ta hiện nay là nhiệm vụ tất yếu, cấp thiết. Bởi vì, khoa học kỹ thuật – công nghệ hiện nay phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi giáo dục và đào tạo vừa truyền thụ hệ thống tri thức đã có vừa cập nhật kịp thời những thông tin, tri thức mới. Ngoài ra, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta đang hội nhập với kinh tế thế giới đòi hỏi giáo dục và đào tạo nước ta phải xây dựng ở thế hệ trẻ các thói quen, hình thành kỹ năng tự lực, nghi vấn, suy luận, sáng tạo, phản ứng nhanh và quyết đoán trước hoàn cảnh. Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Trong đó đổi mới giáo dục là một khâu vô cùng quan trọng để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho quá trình đổi mới đất nước. Nhận thức được vai trò quan trọng của giáo dục, Đảng và nhà nước ta khẳng định mục tiêu của giáo dục là “nhằm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của Trang 1 dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam; có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân; làm chủ tri thức khoa học và công nghệ, có tính tổ chức và kỉ luật, có sức khỏe; là người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “ chuyên” theo lời căn dặn của Bác Hồ” [7;29]. Vấn đề này cũng đã được cụ thể hóa trong khoản 2 điều 28 của luật giáo dục năm 2005 “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện ký năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [12;30]. Điều này đặt ra cho ngành giáo dục là phải đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại vào dạy học trong tất cả các môn học mà nhất là môn GDCD. Môn GDCD cùng các môn học khác có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành cho học sinh ý thức công dân, giúp các em phát triển một cách toàn diện cả về tri thức khoa học lẫn phẩm chất đạo đức, ý thức được trách nhiệm của bản thân với gia đình, xã hội. Đồng thời, môn GDCD còn góp phần hình thành năng lực, phẩm chất đạo đức gắn với đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, hình thành con người lao động mới có thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiên tiến, đạo đức trong sáng. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay ở nhà trường phổ thông đa số học sinh thường không mấy thiết tha với việc học tập môn GDCD. Các em quan niệm rằng môn GDCD là môn học phụ, lại không phục vụ cho lợi ích thiết thực trong cuộc sống …cho nên các em chỉ tập trung cho những môn nào thi tốt. Ngoài ra, muốn học tốt môn này đòi hỏi học sinh phải siêng năng chịu khó đọc sách, suy ngẫm và tìm tòi vận dụng phù hợp vào thực tiễn. Song thời đại công nghệ số, tự động hoá đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp nhận các giá trị, hứng thú trong học tập môn GDCD của học sinh. Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn GDCD là một điều rất quan trọng và cấp thiết. Trong những năm gần đây, trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không ngừng đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh trong học tập môn GDCD từng bước đem lại hiệu quả thiết thực. Nhưng vẫn còn một số học sinh thụ động trong việc tự, phần lớn ỷ lại, xem nhẹ môn học và chủ yếu dựa vào những kiến thức mà giáo viên Trang 2 truyền thụ, các em thụ động trong việc suy nghĩ xây dựng bài, ý thức học tập kém. Là sinh viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, tương lai ra trường sẽ trở thành giáo viên GDCD ở trường THPT, hơn ai hết tôi ý thức được tầm quan trọng của việc nắm vững và vận dụng sáng tạo các phương pháp giảng dạy để giáo dục tốt nhất cho học sinh nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Giáo dục Công dân ở trường trung học phổ thông. Thông qua đề tài này, tôi mong muốn cung cấp một bức tranh toàn cảnh về thực trạng của việc dạy và học môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, qua đó, giúp bản thân cũng như giáo viên có cái nhìn khách quan, toàn diện và nhận thức được những hạn chế, thiếu sót để từng bước đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm mang lại chất lượng cao trong dạy và học môn GDCD ở trường THPT. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Thực trạng của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Giáo dục Công dân ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang” làm khóa luận tốt nghiệp. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng của việc phát tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang. Trên cơ sở đề xuất một vài giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT. Thứ hai, tìm hiểu thực trạng của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang. Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang. Trang 3 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu Thực trạng của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ đề tài khóa luận tốt nghiệp, bước đầu đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng của việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT, phạm vi trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Khóa luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và hệ thống, phương pháp điều tra xã hội học,… 5. Đóng góp của khóa luận: Khóa luận tìm hiểu thực trạng của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang. Khóa luận góp phần làm tài liệu tham khảo cho sinh viên ngành Giáo dục Chính trị, cho hoạt động giảng dạy GDCD ở các trường phổ thông. 6. Cấu trúc khóa luận: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận kết cấu làm hai chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT. Chương 2: Thực trạng của việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn GDCD ở trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm, Huyện Châu Thành, Tỉnh An Giang. Trang 4 NỘI DUNG Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1. Đặc thù của môn GDCD ở trƣờng THPT 1.1.1. Vị trí của môn GDCD ở trƣờng THPT Trên cơ sở xác định mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển hài hòa, toàn diện tính chất xã hội chủ nghĩa của nền Giáo dục, Điều 27 của Luật Giáo dục của nước ta năm 2005 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. [20,tr.15]. Trên cơ sở mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, Luật giáo dục nước ta đã xác định rõ mục tiêu của từng cấp học, bậc học. Trong đó, mục tiêu của cấp THPT là “nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông, và có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động [1, tr15]. Mục tiêu trên trở thành định hướng chỉ đạo toàn bộ các hoạt động của hệ thống giáo dục quốc dân mà trước hết là thông qua quá trình dạy học các môn học ở trường THPT, trong đó có môn GDCD. Liên quan đến vị trí và vai trò môn GDCD, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 2 khóa VIII của Đảng đã nhấn mạnh “Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành…” nhằm “giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung và phương pháp giáo dục - đào tạo”, góp phần phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. [2, tr.13] Vị trí môn GDCD ở nhà trường THPT đã được xác định trong chỉ thị số 30/1998/CT-BGD & ĐT của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 20 tháng 5 năm 1998. Theo đó, “Môn GDCD ở trường THPT có vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách học sinh thông qua việc cung cấp hệ thống tri thức cơ bản về giáo dục đạo đức – nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và Pháp luật, kế thừa các truyền thống đạo đức, bản Trang 5 sắc dân tộc Việt Nam; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiếp thu những giá trị đẹp của nhân loại và thời đại”. [2, tr.13]. Xuất phát từ vị trí đã được xác định, trong thời gian qua, Bộ giáo Dục và Đào tạo đã thực thi nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn GDCD như: cải tiến nội dung chương trình, sách giáo khoa; đào tạo bồi dưỡng giáo viên để nâng cao chất lượng đội ngũ, bổ sung thêm tài liệu, trang thiết bị dạy học, khuyến khích giáo viên bộ môn tích cực đổi mới phương pháp, nội dung dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học… Tuy nhiên việc nhận thức hoặc đánh giá không đúng về vị trí của môn GDCD vẫn còn là một tình trạng phổ biến ở nhiều trường THPT hiện nay. Nhiều nhà quản lí, giáo viên (kể cả giáo viên bộ môn), học sinh và phụ huynh vẫn còn có những nhận thức, quan niệm lệch lạc khi cho rằng môn GDCD chỉ là một môn học phụ, môn bổ trợ hoặc đồng nhất môn GDCD với môn chính trị hoặc đạo đức thuần túy. Những sai lầm trong nhận thức đã kéo theo những hạn chế trong hoạt động thực tiễn dạy học bộ môn. Nhiều trường học và cấp quản lí không chú ý quan tâm đầu tư cho môn GDCD, đội ngũ giáo viên không được đào tạo chính quy, tình trạng giáo viên dạy chéo môn vẫn còn khá phổ biến, công tác bồi dưỡng giáo viên chưa được chú trọng đúng mức. Nhiều giáo viên chỉ dạy qua loa, theo lệ còn học sinh thì coi thường môn học… Hiện trạng của sự nhận thức và quan niệm sai lầm về vị trí của môn học đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy học cũng như vị thế của bộ môn này trong nhà trường phổ thông hiện nay. Để khắc phục tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo: “Các cấp quản lí Giáo dục – Đào tạo từ Bộ đến địa phương cần có nhận thức đúng về vị trí và mục tiêu đào tạo của bộ môn GDCD ở cấp trung học phổ thông, có kế hoạch và các giải pháp tích cực nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng giáo viên, đồng thời tăng cường công tác chỉ đạo đảm bảo chất lượng giảng dạy, giáo dục đạo đức và pháp luật trong các trường Trung học phổ thông, đáp ứng yêu cầu “dạy người và dạy chữ, dạy nghề, trong đó mục tiêu dạy người là quan trọng nhất” nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.[2, tr.14]. Trang 6 1.1.2. Nhiệm vụ môn GDCD ở trƣờng THPT Môn GDCD ở trường THPT có những nhiệm vụ cơ bản sau: a. Trang bị cho học sinh hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức – nhân văn, đƣờng lối chính sách của Đảng, Nhà nƣớc và Pháp luật Môn GDCD ở trường THPT là hệ thống kiến thức liên quan đến nhiều lĩnh vực như triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối, quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà nước, Pháp luật… Vì thế nhiệm vụ đầu tiên của môn học là trang bị và giúp cho học sinh nắm vững hệ thống tri thức cơ bản, thiết thực của bộ môn. Đối với phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phƣơng pháp luận khoa học (GDCD 10), giáo viên phải giúp học sinh nhận biết được nội dung cơ bản của thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng; Hiểu được bản chất của thế giới là vật chất vận động và phát triển theo những quy luật khách quan; Con người có thể nhận thức và vận dụng được những quy luật ấy. Đồng thời, giáo viên phải giúp học sinh thấy được mối quan hệ giữa hoạt động của chủ thể với khách thể qua các mối quan hệ: Thực tiễn với nhận thức, tồn tại xã hội với ý thức xã hội, con người là chủ thể của lịch sử và là mục tiêu phát triển của xã hội. Đối với phần thứ hai: Công dân với đạo đức (GDCD 10), giáo viên phải giúp cho học sinh nắm vững một số phạm trù cơ bản của đạo đức học có quan hệ trực tiếp đến mục tiêu đào tạo THPT; Giúp học sinh nắm các yêu cầu cơ bản về đạo đức của người công dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đối với phần thứ ba: Công dân với kinh tế (GDCD 11), giáo viên phải giúp cho học sinh hiểu được một số phạm trù, quy luật kinh tế cơ bản và phương hướng phát triển kinh tế trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta; Giúp học sinh hiểu được trách nhiệm công dân trong việc xây dựng, phát triển cá nhân, gia đình và xã hội. Đối với phần thứ tư: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội (GDCD 11), giáo viên phải giúp cho học sinh hiểu được tính tất yếu và đặc điểm của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Hiểu được bản chất của Nhà Nước và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; Giúp học sinh nắm được một số nội dung cơ bản về những chính sách lớn của Đảng và nhà nước hiện nay. Trang 7 Đối với phần thứ năm: Công dân với pháp luật (GDCD 12), giáo viên phải giúp học sinh hiểu được bản chất giai cấp, xã hội của pháp luật; mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo đức; Giúp học sinh nhận biết được những giá trị cơ bản của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội. Giúp học sinh hiểu được một số nội dung cơ bản của pháp luật liên quan đến việc thực hiện và bảo vệ quyền bình đẳng, tự do, dân chủ và phát triển của công dân. [2, tr.15]. b. Giúp học sinh từng bƣớc hình thành thế giới quan đúng đắn và phƣơng pháp luận khoa học. Trên cơ sở từng bước tiếp cận và nắm vững hệ thống kiến thức cơ bản của môn GDCD, học sinh sẽ từng bước có những hiểu biết cơ bản để hình thành thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận khoa học. Giúp học sinh biết cách quan sát để có được quan niệm đúng đắn, khách quan về thế giới xung quanh. Xuất phát từ thế giới quan đúng đắn và phương pháp luận khoa học, học sinh sẽ vận dụng nhằm năng cao hiệu quả quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của bản thân. Nhiệm vụ này được tập trung chủ yếu trong phần: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học (GDCD 10). Để thực hiện được nhiệm vụ này, trong quá trình dạy học, giáo viên bộ môn không nên sa đà vào các khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật triết học mang nặng tính chất hàn lâm, kinh điển. Thông qua việc dạy các khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật, giáo viên phải hướng học sinh đến các ý nghĩa về mặt phương pháp luận. Từ những ý nghĩa của phương pháp luận rút ra từ sau mỗi bài học, tiết dạy, học sinh sẽ tự liên hệ, rút ra những bài học cho bản thân, qua đó giúp các em từng bước hình thành cho mình phương pháp luận khoa học. [2, tr.16]. c. Góp phần giúp học sinh hình thành nhân sinh quan tiến bộ Thông qua hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức – nhân văn, đường lối, chính sách lớn của Đảng, Nhà Nước và Pháp luật, môn GDCD giúp học sinh ý thức được các giá trị của con người Việt Nam thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giúp các em có được những hiểu biết đúng đắn về xã hội xã hội chủ nghĩa, về nhà nước xã hội chủ nghĩa, về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, về các định hướng phát triển kinh tế-xã hội, về vai trò và giá trị của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, nhà nước và xã hội. Học sinh có cái nhìn đúng đắn về thế giới và thời đại, về con người và cộng đồng, về các hiện tượng khác nhau diễn ra trong đời sống. Các em biết phân tích, đánh giá các hiện tượng xã hội theo quan điểm khoa học, tiến bộ, biết đấu tranh để bảo Trang 8 vệ và ủng hộ cái mới, cái tích cực và chống lại những cái tiêu cực, lạc hậu, lỗi thời. [2, tr.16]. d. Trang bị cho học sinh những kĩ năng sống cần thiết Trong quá trình dạy học GDCD, nhiều giáo viên bộ môn đã không hoàn thành nhiệm vụ này. Nhiều giáo viên chỉ chú trọng đến việc truyền thụ tri thức trong khi không chú ý đến việc giáo dục các kĩ năng sống cần thiết cho học sinh. Do đó, bài học GDCD trở nên hàn lâm, đơn điệu, nhàm chán, không cuốn hút được học sinh, không đạt được mục tiêu đề ra. Những kĩ năng trong các bài học GDCD như: giao tiếp và ứng xử, tổ chức quản lí, hoạt động chính trị - xã hội, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, định hướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, thích ứng với những điều kiện và hoàn cảnh trước những biến động không ngừng của đời sống xã hội,… hoặc những kĩ năng cụ thể như quan hệ bạn bè, đồng chí, những cư xử trong tình yêu, hôn nhân, gia đình,… luôn cần thiết cho học sinh. Thông qua mỗi bài học, mỗi tiết dạy người giáo viên GDCD cần trang bị cho học sinh những kĩ năng tương ứng, giúp các em uốn nắn những biểu hiện, cử chỉ, hành vi lệch lạc, không ngừng tự hoàn thiện bản thân, biết đón nhận và giải quyết những thử thách của cuộc sống một cách khoa học và hiệu quả. [2, tr.17]. e. Định hƣớng phát triển nhân cách của học sinh Đối với môn GDCD, mục tiêu dạy người luôn được xác định là quan trọng nhất. Vì thế, môn GDCD luôn ở vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách của học sinh. Mỗi học sinh là một chủ thể của sự phát triển nhân cách, phát triển xã hội. Do đó, thông qua mỗi bài dạy, tiết học người giáo viên GDCD phải tích cực giáo dục, bồi dưỡng để giúp mỗi học sinh hình thành được cho mình những lẽ sống, lí tưởng và niềm tin lành mạnh. Giáo dục để các em trở thành những công dân có ích cho bản thân, gia đình và xã hội; những con người phát triển cao về trí tuệ, trong sáng về đạo đức và có đời sống tinh thần phong phú. Thông qua các bài học GDCD, người giáo viên bộ môn phải giúp các em trở thành những con người sống có nghĩa có tình, thủy chung, có tin thần tập thể, có ý thức tổ chức kỉ luật, có lòng nhân ái bao dung, biết yêu quê hương, đất nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện được nhiệm vụ này, người giáo viên GDCD phải biến những tri thức vốn khô khan, trừu tượng, khó hiểu của môn học thành tình cảm, lẽ sống, lí tưởng, niềm tin ở học sinh, thôi thúc các em hành động theo lẽ phải và không ngừng nỗ lực phấn đấu để tự hoàn thiện bản thân, vươn tới “chân - thiện - mĩ”. [2, tr.17]. Trang 9 Đối với người giáo viên GDCD, những nhiệm vụ nói trên hết sức nặng nề nhưng đó cũng là những nhiệm vụ rất đỗi vinh quang. Để hoàn thành được những nhiệm vụ ấy đòi hỏi người giáo viên GDCD với lương tâm và trách nhiệm của mình, phải không ngừng học hỏi, lắng nghe và trải nghiệm để mang lại cho học sinh những bài học GDCD bổ ích và hiệu quả. 1.1.3. Đặc thù tri thức môn giáo dục công dân ở trƣờng THPT a. Hệ thống tri thức môn Giáo dục công dân ở trƣờng Trung học phổ thông mang tính đa dạng tổng hợp Hệ thống tri thức môn Giáo dục Công dân ở trường Trung học phổ thông (THPT) được tổng hợp từ nhiều lĩnh vực, nhiều bộ môn khoa học khác nhau như triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà Nước, pháp luật học. Bên cạnh đó, mỗi phần, mỗi bài học lại có những nội dung liên quan đến các lĩnh vực, các môn khoa học khác nhau liên quan đến các lĩnh vực, các môn học khác nhau như: dân số, môi trường, ngoại giao, quốc phòng, giới tính và sức khỏe sinh sản, vật lí, sinh học, hóa học… Đặc thù nói trên đòi hỏi người giáo viên Giáo dục công dân bên cạnh trình độ nắm vững hệ thống tri thức triết học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, đường lối quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà Nước, pháp luật học, phải có tri thức về nội dung liên quan ở những lĩnh vực, những bộ môn khoa học khác nhau. Người giáo viên Giáo dục công dân phải không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ, phải am hiểu nhiều lĩnh vực, nắm vững và biết vận dụng các kiến thức của các lĩnh vực, các môn khoa học khác nhau vào bài học Giáo dục công dân. Sự đa dạng hệ thống tri thức đòi hỏi người giáo viên Giáo dục công dân phải sử dụng một cách đa dạng và linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sao cho phù hợp với đặc thù tri thức của từng phần, từng bài học giáo dục công dân. [2, tr.26]. b. Hệ thống tri thức môn Giáo dục Công dân ở trƣờng Trung học phổ thông mang tính khái quát, trừu tƣợng Tính khái quát, trừu tượng của hệ thống tri thức môn Giáo dục công dân trước hết thể hiện ở những nội dung, luận điểm được đề cập trong mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức. Những nội dung đó thường là những vấn đề lớn ở tầm vĩ mô, chẳng hạn như: những vấn đề cấp thiết của nhân loại, pháp luật với sự hòa bình và tiến bộ của nhân loại bao trùm một lĩnh vực rộng lớn nào đó Trang 10 như chính sách quốc phòng và an ninh, chính sách đối ngoại, chính sách dân số và giải quyết việc làm, chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tính khái quát, trừu tượng của hệ thống tri thức môn Giáo dục công dân còn thể hiện thông qua một số khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật hết sức đặc thù. Những khái niệm, phạm trù của môn Giáo dục công dân thường là những khái niệm, phạm trù triết học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học như: thế giới quan, phương pháp luận, lượng, chất, phủ định biện chứng, thực tiễn, phương thức sản xuất, đạo đức, lương tâm, nghĩa vụ, sản xuất vật chất, phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế, giá trị hàng hóa, chủ nghĩa xã hội. Những nguyên lí, quy luật môn Giáo dục công dân chủ yếu là những nguyên lí, quy luật của triết học, kinh tế chính trị học được trình bày một cách ngắn gọn như: sự vận động và phát triển của thế giới vật chất, nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, cách thức vận động , phát triển của sự vật, hiện tượng, khuynh hướng phát triển của sự vật hiện tượng, tồn tại xã hội và ý thức xã hội, mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cung cầu trong sản xuất lưu thông hàng hóa. Phạm vi phản ánh những khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật nói trên rất rộng vì thế chúng điều mang tính khái quát hóa, trừu tượng hóa rất cao. Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên Giáo dục công dân trước hết phải nắm vững nội dung, bản chất, đặc điểm của từng khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật, luận điểm liên quan. Ngoài ra người giáo viên giáo dục công dân phải lựa chọn được các phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học phù hợp với đối tượng để truyền thụ và giúp học sinh lĩnh hội chính xác những nội dung của bài học. Việc tăng cường liên hệ thực tiễn và đảm bảo tính vứa sức trong dạy học luôn là những yêu cầu có tính nguyên tắc trong dạy học giáo dục công dân, đặc biệt là những nội dung có tính khái quát, trừu tượng. [2, tr.27]. c. Hệ thống tri thức môn Giáo dục Công dân ở trƣờng Trung học phổ thông mang tính thời sự Tri thức của các môn học điều gắn liền với thực tiễn cuộc sống ở những gốc độ và lĩnh vực khác nhau. Đối với môn Giáo dục công dân, bên cạnh tính thực tiễn tri thức của môn học luôn mang tính thời sự sâu sắc. Những tri thức Trang 11 của môn học dù khái quát, trừu tượng hay cụ thể tập trung phản ánh những vấn đề, những hiện tượng đang nảy sinh trong cuộc sống hằng ngày. Từ những vấn đề thách thức của toàn cầu như bùng nổ dân số, dịch bệnh, ô nhiểm môi trường đến những vấn đề của một quốc gia như giải quyết việc làm, chính sách giáo dục, bảo vệ môi trường. Ngay cả những nội dung khái quát, trừu tượng như: quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật giá trị trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cạnh tranh trong sản xuất và lưu thông hàng hóa, quy luật cung cầu trong sản xuất lưu thông hàng hóa cũng đang hàng ngày, hàng giờ biểu hiện, tác động trong mọi lĩnh vực của đời sống. Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên Giáo dục công dân phải làm theo tri thức của bài học bắt nhịp với cuộc sống đang đổi mới từng ngày. Để làm được điều đó, mỗi người giáo viên giáo dục công dân phải có một tâm hồn nhạy cảm, biết cảm nhận, biết lắng nghe những thay đổi của cuộc sống, biết nắm bắt, sàng lọc, cập nhật, phân tích và xử lí thông tin để mang hơi thở cuộc sống, thời đại vào từng tiết dạy, bài học giáo dục công dân. Tuy nhiên, nếu lạm dụng đặc thù này, giáo viên sẽ biến giờ học giáo dục công dân trở thành một giờ nói chuyện thời sự. [2, tr.28]. d. Hệ thống tri thức môn Giáo dục Công dân ở trƣờng Trung học phổ thông mang tính định hƣớng chính trị sâu sắc Đối với môn Giáo dục Công dân ở trường THPT, mục tiêu dạy người – giáo dục để học sinh trở thành một công dân có ích cho xã hội luôn được xác định là quan trọng nhất. Quá trình giáo dục để học sinh trở thành những công dân có ích cho xã hội trước hết phải bắt đầu từ việc giáo dục ý thức công dân, ý thức chính trị cho các em. Ở nhà trường THPT nhiệm vụ này trước hết thuộc về môn Giáo dục công dân. Do hệ thống tri thức của môn học luôn hướng vào việc giúp học sinh hình thành được những thái độ, tình cảm công dân lành mạnh, có lập trường, quan điểm chính trị rõ rang. Nội dung của mỗi bài học tiết học giáo dục công dân luôn định hướng cho học sinh về trách nhiệm của em đối với bản thân, gia đình và xã hội. Đặc thù này đòi hỏi người giáo viên Giáo dục công dân phải luôn bám sát mục tiêu của mỗi bài học, tiết dạy, phải nắm vững nội dung của từng bài, từng đơn vị kiến thức, nắm bắt được đặc điểm trình độ, tâm sinh lý của học sinh để lựa chọn phương pháp dạy học sao cho phù hợp. Người giáo viên Giáo dục công dân phải không ngừng rèn luyện để có một nhân cách trong sáng, một tâm hồn phong phú, một bản lĩnh chính trị vững vàng. [2, tr.29]. Trang 12 e. Hệ thống tri thức môn Giáo dục Công dân ở trƣờng Trung học phổ thông gắn liền với việc hình thành kĩ năng sống cho học sinh Tất cả các môn học điều hướng vào rèn luyện kĩ năng cho người học. Do đặc thù về vị trí, nhiệm vụ của môn học môn Giáo dục công dân chủ yếu hướng vào việc rèn luyện cho học sinh những kĩ năng sống hết sức cần thiết cho các em. Những kĩ năng như: giao tiếp và ứng xử, tổ chức quản lý, hoạt động chính trị - xã hội, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, định hướng lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, thích ứng với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể trước những biến đổi không ngừng của đời sống xã hội. Gắn liền với nội dung mỗi bài học giáo dục công dân luôn có một loạt những kĩ năng tương ứng, có thể đó là những kĩ năng tiếp cận, phân tích, xử lý thông tin, cũng có thể là những kĩ năng tiếp cận, nhận diện, xử lý, giải quyết những thách thức, những hiện tượng vấn đề đang không ngừng nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày của chính bản thân học sinh. Có nhiều kĩ năng rất cần thiết và sẽ đi theo các em trong suốt cuộc đời như cách cư xử, ứng xử với chính bản thân các em, trong quan hệ với bạn bè, trong tình yêu, hôn nhân và gia đình, trong quan hệ cộng đồng. Trong quá trình dạy học Giáo dục công dân người giáo viên phải nắm vững những mục tiêu kĩ năng của từng bài, lưạ chọn giới thiệu, trang bị cho học sinh những kĩ năng cần thiết nhất.Khuyến khích các em đưa những kĩ năng đó vào thực hành và không ngừng tự hoàn thiện ngay trong cuộc sống hằng ngày của chính các em. Trong quá trình dạy học, người giáo viên Giáo dục công dân phải không ngừng trải nghiệm, quan sát, học hỏi và hoàn thiện chính mình. Một bài học giáo dục công dân thật sự bổ ích là bài học mà ở đó học sinh không chỉ học được những tri thức, tình cảm cần thiết mà các em còn học được ở đó cả sự trải nghiệm và những kĩ năng sống của chính người thầy. Những đặc thù tri thức của môn giáo dục công dân nói trên biểu hiện khác nhau trong mỗi bài học, mỗi đơn vị kiến thức khác nhau. Trước khi giảng dạy, người giáo viên bộ môn cần nghiên cứu kĩ những mục tiêu, nội dung, đặc thù của từng bài học, từng tiết học, từng đơn vị kiến thức để lựa chọn phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, nội dung thông tin, tài liệu, phương tiện dạy học sao cho phù hợp hiệu quả. [2, tr.29]. Trang 13 1.2. Quan điểm xây dựng chƣơng trình và những định hƣớng về đổi mới phƣơng pháp giảng dạy môn GDCD 1.2.1. Quan điểm xây dựng chƣơng trình giảng dạy môn GDCD ở trƣờng THPT Chương trình môn GDCD được xây dựng trên các môn khoa học cơ bản như: Triết học, Đạo đức học, Luật học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học và các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà Nước Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Môn GDCD còn tích hợp nhiều nội dung giáo dục xã hội cần thiết cho các công dân trẻ tuổi như: Giáo dục quyền trẻ em, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục văn hóa hòa bình, giáo dục môi trường, giáo dục giới tính – sức khỏe sinh sản vị thanh niên, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục phòng chống ma túy, phòng tránh HIV/AIDS… Tuy nhiên việc tích hợp phải hợp lí, phù hợp với đặc trưng môn học và không làm nặng nề thêm nội dung môn học. Quá trình dạy môn GDCD là quá trình khai thác tiềm năng và phát triển tâm lực, trí lực học sinh, phát triển tích cực hoạt động nhận thức và năng lực tự hoàn thiện của học sinh. Nội dung môn GDCD hướng học sinh vươn tới những giá trị cơ bản của người công dân Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đó là những giá trị tốt đẹp của dân tộc trong sự hòa nhập với tinh hoa văn hóa nhân loại, thể hiện sự thống nhất giữa tính truyền thống với tính hiện đại. Chương trình môn giáo dục công dân THPT đảm bảo tính hệ thống, tính phát triển của các giá trị; đáp ứng được mục tiêu của cấp học, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng nhận thức của học sinh Chương trình môn GDCD đảm bảo cân đối, hài hòa giữa yêu cầu trang bị kiến thức với việc rèn luyện kĩ năng và phát triển thái độ tích cực cho học sinh. Môn GDCD không những trang bị cho học sinh về thế giới quan khoa học và nhân sinh quan tiến bộ; về các giá trị đạo đức, pháp luật, lối sống, mà còn hình thành và phát triển ở các em những tình cảm, niềm tin, những hành vi và thói quen phù hợp với những giá trị đã học; giúp cho học sinh có sự thống nhất cao giữa ý thức và hành vi. Nội dung môn GDCD gắn bó chặt chẽ với thực tiễn cuộc sống của học sinh, gắn liền với sự kiện trong đời sống đạo đức, pháp luật, kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương, của đất nước. Vì vậy, ngoài nội dung thống nhất chung cho cả nước, chương trình còn có phần “mở” để dạy các vấn đề liên quan của địa phương. Trang 14 1.2.2. Những định hƣớng về đổi mới phƣơng pháp giảng dạy môn GDCD ở trƣờng THPT. Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1- 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12- 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), đặc biệt là Chỉ thị số 15 (4 -1999). Luật Giáo dục ( 2005), Điều 28.2 đã quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Có thể nói định hướng chung của việc đổi mới phương pháp dạy học là tăng cường vai trò chủ động, tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập, khắc phục tình trạng dạy học “ thầy thuyết trình, trò thụ động nghe, ghi chép”. Dạy học phát huy tính tích cực nhận thức cho học sinh là rất cần thiết. Đó chính là việc học sinh hoàn thành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có sáng kiến với những hoạt động trí óc và chân tay nhằm nắm vững kiến thức, hình thành kĩ năng và kĩ xảo để vận dụng những nội dung tri thức đã học vào thực tiễn. Từ định hướng chung kể trên, việc đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT cần thực hiện theo các định hướng cụ thể sau đây: a. Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động nhận thức cho học sinh Tâm lí học hiện đại đã chỉ ra rằng: Nhân cách của con người chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao tiếp. Chính vì vậy, để hình thành và phát triển nhân cách của thế hệ trẻ thông qua môn GDCD, việc dạy học không thể tiến hành theo kiểu thuyết lí, rao giảng mà phải thông qua các hoạt động tương tác của chính học sinh. Nói cách khác, quá trình dạy học môn GDCD phải thông qua quá trình tổ chức cho các em hoạt động và tương tác. Phương pháp dạy học phải tạo ra được sự cuốn hút học sinh vào các hoạt động học tập do giáo viên thiết kế, tổ chức và hướng dẫn, qua đó học sinh có thể tự khám phá và chiếm lĩnh nội dung bài học, học sinh sẽ hứng thú, thông hiểu và ghi nhớ những gì các em nắm được qua hoạt động chủ động, tích cực của chính mình. Các hoạt động này do giáo viên thiết kế dựa trên mục tiêu, nội dung của bài học; đặc điểm tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh, điều kiện, hoàn cảnh, cơ sở vật chất kĩ thuật của nhà trường, lớp học và sở trường của người giáo viên. Trang 15
- Xem thêm -