Thực trạng của ngành giấy và giải pháp cho ngành giấy hội nhập khi vn gia nhập wto

  • Số trang: 38 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24838 tài liệu

Mô tả:

Khoa Khoa học Quản lý Lời mở đầu Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước,mỗi Bộ,mỗi ngành, mỗi tổ chức,doanh nghiệp đêu có những điều chỉnh,cần thiết để tận dụng thời cơ,vượt qua thách thức mà tiến trình hội nhập mang lại.Yêu cầu này càng trở nên cấp bách hơn khi Việt Nam đang ở ngưỡng cửa của WTO. Trong khi cả thế giới đang nhộn nhịp trước quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực hoá.Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.Nó mở rộng hơn sự giao lưu thương mại giữa các nước trên thế giới.Trong quá trình hội nhập này,tất cả các ngành nghề,các lĩnh vực đều có những thuận lợi và và bất lợi của riêng mình.Ngành giấy là ngành công nghiệp nhẹ đã có nhiều đóng góp và phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong nhiều năm qua.Ngành giấy cũng đã cố gắng thay đổi về nhiều mặt để tiến gần hơn đến quá trình hội nhập WTO của Việt Nam nhưng khi Việt Nam gia nhập WTO thì ngành giấy đã có những thuận lợi và cũng có những khó khăn nhất định.Vì vậy,em chọn đề tài này: “Thực trạng của ngành giấy và giải pháp cho ngành giấy hội nhập khi Việt Nam gia nhập WTO” nhằm nhận định những khó khăn cũng như thuận lợi của ngành giấy.Từ đó có thể đề ra một số giải pháp nhằm có thể khắc phục những khó khăn mà ngành giấy gặp phải. 1 Khoa Khoa học Quản lý Chương I:Thực trạng của doanh nghiệp giấy Việt Nam trước khi Việt Nam gia nhập WTO 1.Sơ lược về tổ chức thương mại thế giới 1.1 WTO là gì? WTO là tên viết tắt từ tiếng Anh của Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization). WTO được thành lập theo Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới ký tại Marrakesh (Marốc) ngày 15/4/1994. WTO chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995. Có thể hình dung một cách đơn giản về WTO như sau: - WTO là nơi đề ra những quy định: để điều tiết hoạt động thương mại giữa các quốc gia trên quy mô toàn thế giới hoặc gần như toàn thế giới. Tính đến thời điểm 31/12/2005, WTO có 148 thành viên. (Xem thêm Phụ lục Danh sách các thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ). - WTO là một diễn đàn để các nước, các thành viên đàm phán: Người ta thường nói, bản thân sự ra đời của WTO là kết quả của các cuộc đàm phán. Sau khi ra đời, WTO đang tiếp tục tổ chức các cuộc đàm phán mới. "Tất cả những gì tổ chức này làm được đều thông qua con đường đàm phán". Có thể nói, WTO chính là một diễn đàn để các quốc gia, các thành viên tiến hành thoả thuận, thương lượng, nhân nhượng nhau về các vấn đề thương mại, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ..., để giải quyết tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại giữa các bên. - WTO gồm những quy định pháp lý nền tảng của thương mại quốc tế: 2 Khoa Khoa học Quản lý Ra đời với kết quả được ghi nhận trong hơn 26.000 trang văn bản pháp lý, WTO tạo ra một hệ thống pháp lý chung làm căn cứ để mỗi thành viên hoạch định và thực thi chính sách nhằm mở rộng thương mại, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập và nâng cao đời sống nhân dân các nước thành viên. Các văn bản pháp lý này bản chất là các "hợp đồng", theo đó các chính phủ các nước tham gia ký kết, công nhận (thông qua việc gia nhập và trở thành thành viên của WTO) cam kết duy trì chính sách thương mại trong khuôn khổ những vấn đề đã thoả thuận. Tuy là do các chính phủ ký kết nhưng thực chất mục tiêu của những thoả thuận này là để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các nhà sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ, các nhà xuất nhập khẩu thực hiện hoạt động kinh doanh, buôn bán của mình. (Xem thêm Phụ lục 2: Hệ thống văn bản pháp lý của WTO). - WTO giúp các nước giải quyết tranh chấp: Nếu "mục tiêu kinh tế" của WTO là nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại hàng hoá, dịch vụ, trao đổi các sáng chế, kiểu dáng, phát minh... (gọi chung là quyền tài sản sở hữu trí tuệ) thì các hoạt động của WTO nhằm giải quyết các bất đồng và tranh chấp thương mại phát sinh giữa các thành viên theo các quy định đã thoả thuận, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của công pháp quốc tế và luật lệ của WTO chính là ?mục tiêu chính trị? của WTO. Mục tiêu cuối cùng của các mục tiêu kinh tế và chính trị nêu trên là nhằm tới "mục tiêu xã hội" của WTO là nhằm nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân, phát triển bền vững, bảo vệ môi trường. 1.2 Mục tiêu của WTO: Hình dung đơn giản về WTO như nêu trên cũng chính là nội dung của các mục tiêu của WTO như được ghi nhận tại Lời mở đầu của Hiệp định thành lập WTO như sau: 3 Khoa Khoa học Quản lý "Các bên ký kết Hiệp định này thừa nhận rằng: Tất cả những mối quan hệ của họ (tức các bên ký kết thành lập ra WTO) trong lĩnh vực kinh tế và thương mại phải được thực hiện với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định; mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ, trong khi đó vẫn đảm bảo việc sử dụng tối ưu nguồn lực của thế giới theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường và nâng cao các biện pháp để thực hiện điều đó theo cách thức phù hợp với những nhu cầu và mối quan tâm riêng rẽ của mỗi bên ở các cấp độ phát triển kinh tế khác nhau. (Các bên ký kết Hiệp định) thừa nhận thêm rằng: cần phải có nỗ lực tích cực để bảo đảm rằng các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là những quốc gia kém phát triển nhất, duy trì được tỷ phần tăng trưởng trong thương mại quốc tế tương xứng với nhu cầu phát triển kinh tế của quốc gia đó; (Các bên ký kết Hiệp định) mong muốn đóng góp vào những mục tiêu này bằng cách tham gia vào những thoả thuân tương hỗ và cùng có lợi theo hướng giảm đáng kể thuế và các hàng rào cản trở thương mại khác và theo hướng loại bỏ sự phân biện đối xử trong các mối quan hệ thương mại quốc tế; Do đó, (Các bên ký kết Hiệp định), quyết tâm xây dựng một cơ chế thương mại đa biên chặt chẽ, ổn định và khả thi hơn; quyết tâm duy trì những nguyên tắc cơ bản và tiếp tục theo đuổi những mục tiêu đang đặt ra cho cơ chế thương mại đa biên này. 1.3 Chức năng của WTO: Theo ghi nhận tại điều III, Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, WTO có 5 chức năng sau: -WTO tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi, quản lý và điều hành và những mục tiêu khác của Hiệp định thành lập WTO, các hiệp định đa biên 4 Khoa Khoa học Quản lý của WTO, cũng như cung cấp một khuôn khổ để thực thi, quản lý và điều hành việc thực hiện các hiệp định nhiều bên; -WTO là một diễn đàn cho các cuộc đàm phán giữa các nước thành viên về những quan hệ thương mại đa biên trong khuôn khổ những quy định của WTO. WTO cũng là diễn đàn cho các cuộc đàm phán tiếp theo giữa các thành viên về những quan hệ thương mại đa biên; đồng thời WTO là một thiết chế để thực thi các kết quả từ việc đàm phán đó hoặc thực thi các quyết định do Hội nghị Bộ trưởng đưa ra; -WTO sẽ thi hành Thoả thuận về những quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp giữa các thành viên -WTO sẽ thi hành Cơ chế rà soát chính sách thương mại (của các nước thành viên), -Để đạt tới sự thống nhất cao hơn về quan điểm trong việc tạo lập các chính sách kinh tế toàn cầu, khi cần thiết, WTO sẽ hợp tác với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới và các cơ quan trực thuộc của nó 1.4 Những nguyên tắc, luật lệ, quy định cơ bản của WTO Cho dù có đến gần 30.000 trang văn bản, bao gồm rất nhiều văn bản pháp lý quy định nhiều lĩnh vực kinh tế - thương mại khác nhau như: thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư, nông nghiệp, viễn thông, các biện pháp kiểm dịch động - thực vật, sở hữu trí tuệ... song thực chất, tất cả các văn bản đó đều được xây dựng và chuyển tải các nguyên tắc cơ bản của WTO, hay nói cách khác, WTO hoạt động dựa trên một số nguyên tắc làm nền tảng cho hệ thống thương mại thế giới là: -Thương mại không phân biệt đối xử: Nguyên tắc này thể hiện ở hai nguyên tắc: đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia. Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN): 5 Khoa Khoa học Quản lý "Tối huệ quốc" có nghĩa là "nước (được) ưu đãi nhất", "nước (được) ưu tiên nhất". Nội dung của nguyên tắc này thực chất là việc WTO quy định rằng, các quốc gia không thể phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình. Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: mỗi thành viên của WTO phải đối xử với các thành viên khác của WTO một cách công bằng như những đối tác "ưu tiên nhất". Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một hay một số ưu đãi nào đó thì nước này cũng phải đối xử tương tự như vậy đối với tất cả các thành viên còn lại của WTO để tất cả các quốc gia thành viên đều được "ưu tiên nhất". Và như vậy, kết quả là không phân biệt đối xử với bất kỳ đối tác thương mại nào. Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT): “Đối xử quốc gia” nghĩa là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước ngoài và sản phẩm nội địa. Nội dung của nguyên tắc này là hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuất trong nước phải được đối xử công bằng, bình đẳng như nhau. Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới, trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu, bắt đầu đi vào thị trường nội địa, sẽ được hưởng sự đối xử ngang bằng (không kém ưu đãi hơn) với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước. Có thể hình dung đơn giản về hai nguyên tắc nêu trên như sau: Nếu nguyên tắc "tối huệ quốc" nhằm mục tiêu tạo sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa các nhà xuất khẩu hàng hoá, cung cấp dịch vụ... của các nước A, B, C...khi xuất khẩu vào một nước X nào đó thì nguyên tắc "đãi ngộ quốc gia" nhằm tới mục tiêu tạo sự công bằng, không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp nước A với hàng hoá, dịch vụ của doanh 6 Khoa Khoa học Quản lý nghiệp nước X trên thị trường nước X, sau khi hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp nước A đã thâm nhập (qua hải quan, đã trả thuế và các chi phí khác tại cửa khẩu) vào thị trường nước X. -Thương mại ngày càng tự do hơn (từng bước và bằng con đường đàm phán): Để thực thi được mục tiêu tự do hoá thương mại và đầu tư, mở cửa thị trường, thúc đẩy trao đổi, giao lưu, buôn bán hàng hoá, việc tất nhiên là phải cắt giảm thuế nhập khẩu, loại bỏ các hàng rào phi thuế quan (cấm, hạn chế, hạn ngạch, giấy phép...). Trên thực tế, lịch sử của GATT và sau này là WTO đã cho thấy đó chính là lịch sử của quá trình đàm phán cắt giảm thuế quan, rồi bao trùm cả đàm phán dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, rồi dần dần mở rộng sang đàm phán cả những lĩnh vực mới như thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ... Tuy nhiên, trong quá trình đàm phán, mở cửa thị trường, do trình độ phát triển của mỗi nền kinh tế của mỗi nước khác nhau, "sức chịu đựng" của mỗi nền kinh tế trước sức ép của hàng hoá nước ngoài tràn vào do mở cửa thị trường là khác nhau, nói cách khác, đối với nhiều nước, khi mở cửa thị trường không chỉ có thuận lợi mà cũng đưa lại những khó khăn, đòi hỏi phải điều chỉnh từng bước nền sản xuất trong nước. Vì thế, các hiệp định của WTO đã được thông qua với quy định cho phép các nước thành viên từng bước thay đổi chính sách thông qua lộ trình tự do hoá từng bước. Sự nhượng bộ trong cắt giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan được thực hiện thông qua đàm phán, rồi trở thành các cam kết để thực hiện. - Dễ dự đoán nhờ cam kết, ràng buộc, ổn định và minh bạch: Đây là nguyên tắc quan trọng của WTO. Mục tiêu của nguyên tắc này là các nước thành viên có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định và có thể dự báo trước được về các cơ chế, chính sách, quy định thương mại của mình nhằm 7 Khoa Khoa học Quản lý tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài có thể hiểu, nắm bắt được lộ trình thay đổi chính sách, nội dung các cam kết về thuế, phi thuế của nước chủ nhà để từ đó doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạch định kế hoạch kinh doanh, đầu tư của mình mà không bị đột ngột thay đổi chính sách làm tổn hại tới kế hoạch kinh doanh của họ. Nói cách khác, các doanh nghiệp nước ngoài tin chắc rằng hàng rào thuế quan, phi thuế quan của một nước sẽ không bị tăng hay thay đổi một cách tuỳ tiện. Đây là nỗ lực của hệ thống thương mại đa biên nhằm yêu cầu các thành viên của WTO tạo ra một môi trường thương mại ổn định, minh bạch và dễ dự đoán. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm các công việc như sau: Về các thoả thuận cắt giảm thuế quan: Bản chất của thương mại thời WTO là các thành viên dành ưu đãi, nhân nhượng thuế quan cho nhau. Song để chắc chắn là các mức thuế quan đã đàm phán phải được cam kết và không thay đổi theo hướng tăng thuế suất, gây bất lợi cho đối tác của mình, sau khi đàm phán, mức thuế suất đã thoả thuận sẽ được ghi vào một bản danh mục thuế quan. #ây gọi là các mức thuế suất ràng buộc. Nói cách khác, ràng buộc là việc đưa ra danh mục ấn định các mức thuế ở mức tối đa nào đó và không được phép tăng hay thay đổi theo chiều hướng bất lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài. Một nước có thể sửa đổi, thay đổi mức thuế đã cam kết, ràng buộc chỉ sau khi đã đàm phán với đối tác của mình và phải đền bù thiệt hại do việc tăng thuế đó gây ra. Về các biện pháp phi thuế quan: Biện pháp phi thuế quan là biện pháp sử dụng hạn ngạch hoặc hạn chế định lượng khác như quản lý hạn ngạch. Các biện pháp này dễ làm nảy sinh tệ nhũng nhiễu, tham nhũng, lạm dụng quyền hạn, bóp méo thương mại, gây khó khăn cho doanh nghiệp, làm cho thương mại thiếu lành mạnh, thiếu 8 Khoa Khoa học Quản lý minh bạch, cản trở tự do thương mại. Do đó, WTO chủ trương các biện pháp này sẽ bị buộc phải loại bỏ hoặc chấm dứt. để có thể thực hiện được mục tiêu này, các hiệp định của WTO yêu cầu chính phủ các nước thành viên phải công bố thật rõ ràng, công khai ("minh bạch") các cơ chế, chính sách, biện pháp quản lý thương mại của mình. #ồng thời, WTO có cơ chế giám sát chính sách thương mại của các nước thành viên thông qua Cơ chế rà soát chính sách thương mại. -Tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng hơn: Trên thực tế, WTO tập trung vào thúc đẩy mục tiêu tự do hoá thương mại song trong rất nhiều trường hợp, WTO cũng cho phép duy trì những quy định về bảo hộ. Do vậy, WTO đưa ra nguyên tắc này nhằm hạn chế tác động tiêu cực của các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như bán phá giá, trợ cấp...hoặc các biện pháp bảo hộ khác. Để thực hiện được nguyên tắc này, WTO quy định trường hợp nào là cạnh tranh bình đẳng, trường hợp nào là không bình đẳng từ đó được phép hay không được phép áp dụng các biện pháp như trả đũa, tự vệ, chống bán phá giá... -Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế bằng cách dành ưu đãi hơn cho các nước kém phát triển nhất: Các nước thành viên, trong đó có các nước đang phát triển, thừa nhận rằng tự do hoá thương mại và hệ thống thương mại đa biên trong khuôn khổ của WTO đóng góp vào sự phát triển của mỗi quốc gia. Song các thành viên cũng thừa nhận rằng, các nước đang phát triển phải thi hành những nghĩa vụ của các nước phát triển. Nói cách khác, "sân chơi" chỉ là một, "luật chơi" chỉ là một, song trình độ "cầu thủ" thì không hề ngang nhau. Trong khi đó, hiện số thành viên của WTO là các nước đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế chiếm hơn 3/ 4 số nước thành viên của 9 Khoa Khoa học Quản lý WTO. Do đó, WTO đã đưa ra nguyên tắc này nhằm khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi bằng cách dành cho những nước này những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt để đảm bảo sự tham gia sâu rộng hơn của các nước này vào hệ thống thương mại đa biên. Để thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định trong việc thực hiện các hiệp định của WTO. Chẳng hạn, WTO cho phép các nước này một số quyền và không phải thực hiện một số quyền cũng như một số nghĩa vụ hoặc cho phép các nước này một thời gian linh động hơn trong việc thực hiện các hiệp định của WTO, cụ thể là thời gian quá độ thực hiện dài hơn để các nước này điều chỉnh chính sách của mình. Ngoài ra, WTO cũng quyết định các nước kém phát triển được hưởng những hỗ trợ kỹ thuật ngày một nhiều hơn. 2..Lợi ích của doanh nghiệp khi Việt Nam gia nhập WTO 2.1 Mở rộng thị trường,tăng cường khả năng tiếp cận thị trường cho doanh nghiệp Gia nhập Việt Nam sẽ thực sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới vì WTO là tổ chức có 148 thành viên (tính đến 10/2005) chiếm trên 85%tổng thương mại hàng hoá và khoảng 90% tổng thương mại dịch vụ toàn cầu.Gí nhập WTO,ngoài việc được đối sử bình đẳng trong quan hệ thương mại như tất cả các thành viên khác của WTO,Việt Namcòn được hưởng những ưu đãi thương mại cho một nước đang phát triển ở trình độ thấp.Với những lợi thế do WTO mang lại,Việt Nam sẽ có điều kiện để tăng cường tiếp cận thị trường của các nước thành viên WTO,mở rộng thị trường xuất khẩu những mặt hàng Việt Nam có tiềm năng,có lợi thế,và một khi xuất khẩu tăng 10 Khoa Khoa học Quản lý cưiừng sẽ tạo đầu ra cho sản xuất trong nước,mang lại sự tăng trưởng cho sản xuất trong nước,tạo thêm niều công ăn việc làm. - Tăng số lượng thị trường xuất khẩu hàng hoá cho doanh nghiệp: Nhờ tư cách thành viên của WTO,doanh nghiệp Việt Nam có thể xuất khẩu vào toàn bộ 148 nước thành viên của WTO với mức thuế ưu đãi thay vì chỉ có một số thị trường truyền thống(Nga,Đông Âu) và một số thị trường mới khai thác (Mỹ,Nhật Bản,EU).Nừu nhớ lại rằng,giá trị xuất khẩu acủa Việt Nam hiện chiếm 1/2 giá trị tổng sản phẩm quốc nội(GDP)thì sẽ thấy rõ lợi ích to lớn của việc mở rộmh không gian thương mại,mở rộng thị trường xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam.Một quy mô sản xuất hàng xuất nhập khẩu phát triển lên đến một mức nào đó,nếu không giải quyết được bài toán đầu ra,doanh nghiệp giấy khó lòng phát triển,chứ chưa nói đến phát triển bền vững. -Tăng số lượng hàng hoá xuất khẩu ra các nước: Nhờ thành quả đàm phán cắt giảm thuế quan và loại bỏ dần các hàng rào phi thuế quan trong lịch sử 50 qua của WTO đến nay,doanh nghiệp Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ việc xuất khẩu vào các thị trường các nước thành viên của WTO với mức thuế đánh vào hàng nhập khẩu thấp.Nêú không là thành viên của WTO,chắc chắn doang nghiệp Việt Nam không thể xuất khẩu hàng hoá sang các nước đang là thành viên WTO.Bởi lẽ,các nước này cần ưu tiên,hay nói đúng hơn,thực hiện quy chế đãi ngộ tối huệ quốc với các thành viên WTO;còn trong khi đó họ có thể phân biệt đối sử với hàng hoá Việt Nam thể hiện qua việc họ có thể đánh thuế caovào hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam hoặc sử dụng các biện pháp phi thuế quan để ngăn trở hàng hoá Việt Nam.Do vậy,nếu được hưởng mức thuế xuát nhập khẩu thấp,sẽ tạo điều kiện cho hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam có mức giá cạnh tranh được với việc mở rộng không gian thương mại,mở rộng thị trường xuất 11 Khoa Khoa học Quản lý khẩu,mức thuế nhập khẩu thấp cũng sẽ giúp doanh nghiệp có cơ hội thúc đẩy sự xâm nhập hàng hoá của mình vào các nước thành viên WTO. Ngoài ra,doanh nghiệp Việt Nam có thể tận dụng cơ hội từ những quy định của WTO về ưu đãi cho các nước đang phát triển để tăng lượng xuất khẩu,chẳng hạn,các mặt hàng sơ chế khi xuất khẩu sang các nước phát triển sẽ được hưởng mức thuế đánh vào hàng nhập khẩu thấp,hoặc không có thuế,hoặc hưởng chế độ của hệ thống ưu đãI thuế quan phổ cập(GSP)…Khi tham gia WTO,doanh nghiệp Việt Nam cũng được hưởng lợi từ quy chế miễn trừ quy định cấm trợ cấp xuất khẩu đối với các nước đang phát triển có thu nhập dưới 1.000USD/người/năm. -Tạo cơ hội sản xuất và xuất khẩu cho các doanh nghiệp thuộc các nghành mà Việt Nam có ưu thế cạnh tranh: Doanh nghiệp Việt Nam được hưởng cơ hội này từ hai bình diện: + Một là do những quy định của WTO. + Hai la do ưu thế cạnh tranh về giá cả,chi phí đem lại. - Đối với những cơ hội do quy định của WTO đem lại: Đối với hàng nông sản: Vốn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của các nước đang phát triển,nơi mà công nghiệp chế biến chưa phát triển,trình độ chế biến thấp.ở những nước này, tỷ trọng hàng nông sản xuất khẩu còn chiếm ở mức cao,do đó,nếu bị đánh thuế cao,số kượng xuất khẩu sẽ không đựoc nhiều,chắc chắn ảnh hưởng đến tổng sản lượng xuẩt khẩu,làm giảm doanh thu xuất khẩu.Nhưng khi vào WTO,các nước đang phát triển,trong đó có Việt Nam,sẽ được hưởng những thành quả nhờ những vòng đàm phán đa phương trước đó của WTO về nông nghiệp.Chẳng hạn,ở vòng đàm phán Doha,các nước thành viên WTO cam kết đàm phán toàn diện về tất cả vấn đề của Hiệp định nông 12 Khoa Khoa học Quản lý nghiệp,bao gồm việc tăng trưởng tiếp cận thị trường(mở rộng hạn ngạch thuế quan và giảm leo thang thuế quan đối với sản phẩm chế biến) giảm và loại bỏ mọi dạng trợ cấp xuất khẩu,giảm đáng kể hỗ trợ trong nước.Tuy nhiên,WTO cũng quy định:các nước đang phát triển không phải đưa ra các cam kết về giảm trợ cáp xuất khẩu(các nước công nghiệp phát triển phảI cắt giảm 36%nguồn ngân sách dành cho trợ cấp xuất khẩu nông phẩm trong vòng 6 năm,các nước phát triển nói chung phảI cắt giảm 24%trong vòg 10 năm).Việt Nam cũng không cắt giảm hỗ trợ trong nước đối với nông dân(các nước phát triển phảI cắt giảm 20%mức hỗ trợ trong nước trong thời gian 6 năm,các nước đang phát triển khác là 13,3%trong vòng 10 năm).Theo hiệp định nông nghiệp,các hạn chế về số lượng trong đó có gạo,nông sản khác sẽ dược chuyển thành thuế quan và cắt giảm dần.Do đó,nếu trở thành thành viên WTO,Việt Nam sẽ có khả năng mở rộng xuất khẩu gạo và các mặt hàng nông sản khác sang các thị trường mới.Mặt khác,các sản phẩm nông sản xuất khẩu của các nước không phải là thành viên sẽ phải chịu thuế suất cao do việc thuế quan hoá của các thành viên. - Đối với những cơ hội do ưu thế cạnh tranh về giá cả,chi phí đem lại: Khi tham gia vào WTO, doanh nghiệp Việt Nam sẽ tham gia vào sự phân công lao động, sản xuất trong thị trường mang tính toàn cầu.Doanh nghiệp Việt Nam sẽ có ưu thế do giá cả rẻ,chi phí thấp(do lương nhân công thấp). Chẳng hạn, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều ưu thế về các mặt hàng sử dụng tay nghề truyền thống,sử dụng lao động rẻ(ví dụ lao động nông nhàn,lao động học vấn thấp nên lương công nhân thấp),nguyên liệu sẵn có trong nước như hàng mây tre, thủ công mỹ nghệ,đồ gỗ…); khí hậu nhiệt đới cho phép trồng được những loại cây cà phê, hạt tiêu cao su, thanh long,dừa…;hoặc các mặt hàng mang tính truyền thông,là đặc sản của địa phương,vùng miền(phở,mỳ tôm,gia vị,mực khô,cá khô…).Một số mặt hàng 13 Khoa Khoa học Quản lý tuy sư dụng nguyên liệu nhập khẩu như dệt may,da dày…song cũng có thể tận dụng ưu thế chi phí lao động rẻ,tiền lương thấp.Đồng thời,đây cũng là những mặt hàng mà đến nay nhiều nước phát triển không tập trung sản xuất nữa… 2.2 Nâng cao vị thế trong quan hệ thương mại quốc tế và bình đẳng trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế - Tiếp cận bình đẳng vào thị trường các nước thành viên: Các doanh nghiệp Việt Nam được hưởng các quy định chỉ dành cho các thành viên của WTO,qua đó hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam được tiếp cận bình đẳng vào các thị trường của 148 thành viên WTO mà không bị chèn ép,đối xử không bình đẳng như khi chưa là thành viên WTO.Đặc biệt,đối với những quy định chỉ danh cho thành viên của WTO,nếu Việt Nam là thành viên của WTO,hàng hoá dịch vụ của Việt Nam cũng sẽ được đối xử bình đẳng trên thị trường quốc tế.Ví dụ,một nước khi đã là thành viên của WTO, có quyền được áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng đối với các hàng nhập khẩu của nước khác chưa phải là thành viên trong việc thực hiện Hiệp định nông nghiệp.Trong khi đó các quy định này không áp dụng đối với các nước chưa phải là thành viên WTO.Ngoài ra,một số cường quốc thương mại vẫn tiếp tục duy trì các biện pháp phân biệt đối xử đối với các nước với cáI gọi là”thương mại nhà nước” hay các nước co nền kinh tế thị trường,các nước có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.Các biện pháp này sẽ không được áp dụng đối với các nước thành viên WTO. - Bảo hộ sản xuất trong nước theo các khuôn khổ quy định của WTO: Các doanh nghiệp Việt Nam thông qua các hiệp hội của mình hoặc thông qua cơ quan quản lý nhà nước về thương mại (Cục quản lý cạnh tranh …) để kiến nghị Chính phủ áp dụng các biện pháp bảo vệ sản xuất trong nước. Chẳng hạn , với tư cách là thành viên WTO, doanh nghiệp có thể kiến 14 Khoa Khoa học Quản lý nghi Chính phủ tiến hành điều tra về mức gây phương hại của hàng nhập khẩu để thực hiện áp dụng thuế đối kháng hoặc chống bán phá giá theo quy định của Hiệp định về chống bán phá giá và thuế đối kháng; thực hiện điều tra để áp dụng thuế chống trợ cấp hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam; áp dụng các biện pháp tự vệ trong trường hợp nhập khẩu hàng hoá nước ngoài vào Việt Nam quá mức, gây thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước… -Sử dụng hệ thống giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả của WTO để giải quyết tranh chấp trong thương mại, tránh bị các nước lớn chèn ép khi xảy ra tranh chấp thương mại quốc tế: Doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận, sử dụng hệ thống giảI quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả của WTO để giải quyết tranh chấpỉtong thương mại, tránh bị các nước lớn chèn ép khi xảy ra tranh chấp thương mại quốc tế. Ví dụ, nếu trước kia các quy định của GATT còn nhiều hạn chế với đặc trưng là thiếu cơ chế đảm bảo cho các nghị quyết được thực hiện thì ở WTO, được xem như một “ Liên hợp quốc” trong lĩnh vực thương mại quốc tế, mà trong đó mỗi quốc gia thành viên đều có một phiếu bầu, cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đã đảm bảo mục tiêu công bằng hơn, thống nhất và chắc chắn hơn; đảm bảo một quy trình, thủ tục và thời gian biểu chặt chẽ cho việc giải quyết tranh chấp; đảm bảo có được kết luận đúng cho tranh chấp. 2.3 Hưởng lợi từ các chính sách cải cách trong nước - Nhờ gia nhập WTO, tham gia vào một “sân chơi” chung trên phạm vi toàn cầu, WTO mang lại một cơ hội toàn diện về thị trường hàng hoá, thị trường dịch vụ, thị trường vốn và thị trường lao động. Với một không gian kinh tế mới rộng lớn hơn nhiều, với hệ thống cơ chế chính sách, luật pháp minh bạch, có thể tiên liệu được, thông qua sự phân công lao động toàn cầu, 15 Khoa Khoa học Quản lý việc gia nhập WTO hay nói rộng hơn là tham gia vào quá trình toàn cầu hoá sẽ giúp Việt Nam thúc đẩy các cải cách kinh tế trong nước, làm sâu sắc hơn các thành quả của cải cách. - Nhờ việc Việt Nam tham gia vào WTO, thực thi chính sách mở cửa thị trường, tự do hoá thương mại, nền kinh tế trong nước sẽ phảI cải cách, mở cửa, táI cơ cấu. Nền hành chính sẽ được cải cách nhằm đáp ứng các yêu cầu công khai, minh bạch, dễ dự đoán của “luật chơi quốc tế”, bộ máy quản lí hành chính nhà nước sẽ trở nên gần dân hơn, trở thành một nền hành chính phục vụ dân, phục vụ doanh nghiệp, làm cho môi trường kinh doanh thông thoáng, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp, đồng thời giảm thiểu các chi phí tốn kém của doanh nghiệp trong quá trình gia nhập, tiếp cận và tham gia thị trường. - Một khi các cam kết khi gia nhập WTO được thực hiện, một mặt quá trình mở cửa, tự do hoá, thuận lợi hoá thương mại, đầu tư minh bạch hoá chính sách sẽ dần đáp ứng yêu cầu của luật chơI quốc tế, mặt khác tạo điều kiện cho chúng ta bổ sung những nguồn lực mà trong nước còn thiếu, còn yếu như vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý. Các nhà sản xuất, kinh doanh trong nước sẽ được đặt trong môi trường cạnh tranh, năng động hơn; tiếp cận với công nghệ, trình độ, chất lượng quốc tế. Kết quả là các nhân tố nói trên sẽ tạo ra động lực quan trọng giảI phóng sức sản xuất trong nước, thúc đẩy việc sử dụng hiệu quả, hợp lý các nguồn tiềm năng sẵn có của chúng ta như tài nguyên, lao động, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Mike Moore, Cựu tổng giám đốc WTO ( trong chuyến thăm Việt Nam 11/4/2005) đã từng nói: WTO sẽ tạo ra môI trường kinh doanh minh bạch hơn, dễ tiên đoán hơn và hạn chế tham nhũng cho bản thân các nước thành viên. Kinh nghiệm 50 năm qua đã chứng minh rằng những nước có mức sống cao nhất là những quốc gia theo đuổi chính sách tự do 16 Khoa Khoa học Quản lý hoá thương mại. MôI trường kinh doanh lành mạnh sẽ tạo ra những doanh nhân sẵn sàng đối mặt với cạnh tranh chứ không phảI kiếm lời từ sự trợ giúp của Chính phủ hay lợi dụng những hạn chế, bảo hộ của nhà nước. 2.4 Tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài -Về khía cạnh thị trường: Khi tham gia vào hệ thống phân công lao động toàn cầu, tham gia vào thị trường toàn cầu rộng lớn, Việt Nam trở thành địa điểm hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài muốn tận dụng cơ hội đầu tư vào các nghành, lĩnh vực tạo ra hàng hoá để xuất khẩu hoặc phục vụ các nhà xuất khẩu. Đồng thời, khi các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, sẽ tạo ra thị trường tiêu thụ hàng hoá của các doanh nghiệp trong nước sản xuất ra (mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mua để làm nguyên liệu của họ); tạo ra thị trường làm thuê, nhận gia cônh, chế tác, cung cấp linh kiện, cung cấp lao động cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tạo việc làm cho các doanh nghiệp trong nước. - Về khía cạnh pháp lý: Khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế nói vhung và tham gia WTO nói riêng,thực chất Việt Nam đã chấp nhận thực hiện các cam kết quốc tế về mở cửa thị trường,thực hiện thuận lợi hoá,tự do hoá thương mại và đầu tư giữa các quốc gia.Việc thực hiện các cam kết này cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam(hoặc bất cứ một quốc gia nào muốn gia nhập WTO) cần phải có một hệ thống luật pháp minh bạch,phù hợp với thông lệ của WTO,bao gồm cả về thương mại hoá,thương mại dịch vụ,đầu tư và sở hưu trí tuệ.Hệ thống luật pháp và hệ thống cơ chế chính sách minh bạch,tiên liệu được sẽ làm tăng tính hấp dẫncủa môi trường đầu tư,kinh doanh ở Việt Nam. 2.5 Tiếp thu công nghệ,kỹ năng quản lý,quản trị kinh doanh,tiếp thị,xây dung thương hiệu của nước ngoài 17 Khoa Khoa học Quản lý - Khi tham gia WTO,tham gia thị trường toàn cầu,các luồng vốn đầu tư khoa học công nghệ,nguồn nhân lực trong nước có cơ hội giao lưu,tham gia vào sự phân công lao động toàn cầu .Trong sự giao lưu và phân công,phân công lại mang tính thị trường như vậy,tất yếu thị trường trong nước được tiếp nhận những yếu tố tiên tiến,vuợt trội về công nghệ,khoa học quản lý,tiếp thị,đồng thời nguồn nhân lực trong nước được đào tạo,được cọ xát,học hỏi tiếp thu những thành quả,tinh hoa của các nền kinh tế phát triển hơn. -Trực tiếp hơn,thông qua quá trình đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài(khi họ đem theo vốn,đem theo bí quyết,công nghệ sản xuất mới,phương thức tổ chức các kênh phân phối,tiếp thị,cách thức xây dựngthương hiệu,quảng bá nhãn hiệu hàng hoá,sản phẩm…vào Việt Nam),các doanh nghiệp trong nước nói chung và đội ngũ lãnh đạo,quản lý,nhân viên nói riêng có thể học hỏi,rút tỉa,mô phỏng các công nghệ sản xuất,dịch vụ của nước ngoài;đồng thời rèn luyện,học hỏi được kỹ năng,kỹ xảo,bí quyếtvề quản lý doanh nghiệp,về tiếp thị,xây dung và quảng bá thương hiệu… 3. Những bất lợi của doanh nghiệp giấy khi Việt Nam gia nhập WTO 3.1 Mất cân đối năng lực sản xuất bột giấy Chưa có lúc nào tình hình bột giấy lại căng thẳng như lúc này. Giá nguyên liệu bột giấy tăng liên tục, bình quân trên 120 USD/tấn so với đầu năm, nhưng giá bán hầu như không tăng. Những doanh nghiệp chủ động được bột giấy có khả năng sẽ thắng to, trong đó có thể kể hàng đầu là Giấy Bãi Bằng. Hiện nay, đơn vị này gần như chủ động hoàn toàn nguyên liệu sản xuất giấy in, giấy viết. Kế đến, Giấy Tân Mai có dây chuyền sản xuất bột DIP (sản xuất bột giấy từ giấy in báo cũ có khử mực) nên chủ động được nguồn bột giấy in báo. 18 Khoa Khoa học Quản lý Thêm vào đó, Tân Mai cũng đã đưa nguyên liệu bột cây keo tai tượng vào thay thế bột gỗ thông, góp phần giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh đối với mặt hàng giấy báo khi thuế nhập khẩu giấy in báo từ các nước trong khu vực giảm từ 40% vào năm 2003 xuống còn 5% trong năm nay. Công ty Giấy Sài Gòn cũng có dây chuyền sản xuất bột giấy từ giấy phế nên chủ động nguồn bột cho sản xuất giấy carton và giấy vệ sinh… Một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng đang có những dây chuyền sản xuất bột giấy từ giấy phế, có khả năng cạnh tranh tốt hơn. Tuy nhiên, năng lực sản xuất bột giấy của các doanh nghiệp này cũng chưa đủ để cung ứng cho sản xuất và vẫn còn phải nhập khẩu thêm bột giấy. Trong khi đó, đa phần các nhà máy giấy khác mới đầu tư hoặc không chủ động được nguồn bột giấy đều rơi vào tình trạng căng thẳng, sản phẩm làm ra có giá thành cao, nếu bán với giá thị trường sẽ bị thua lỗ nặng. Do ngành giấy chưa đầu tư được một nhà máy sản xuất bột giấy lớn nào đáng kể để cung cấp cho toàn ngành, phần lớn các doanh nghiệp phải nhập khẩu nên phụ thuộc hoàn toàn vào giá thế giới, mỗi năm phải nhập khẩu bình quân 130.000-150.000 tấn bột. 3.2 Chưa làm chủ được công nghệ Hiệp hội Giấy Việt Nam cho biết, riêng nhu cầu nhập khẩu giấy bao bì công nghiệp, giấy tráng phấn chiếm 36,84% (175.000 tấn), giấy làm lớp mặt carton sóng chiếm 18,69%, giấy làm lớp sóng carton chiếm 29,27%, giấy duplex (một mặt hoặc hai mặt trắng) chiếm 5,7%, giấy làm bao xi măng chiếm 9,5%. Như vậy, nhu cầu giấy tráng phấn rất lớn. Vừa qua, đầu tư vào sản xuất giấy tráng phấn có Công ty Giấy Việt Trì, Công ty Giấy Bình An và Công ty Giấy Hải Phòng… 19 Khoa Khoa học Quản lý Đây được xem là đầu tư đúng hướng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Tuy nhiên, hầu hết các mặt hàng giấy tráng phấn chưa được sản xuất ổn định, sản phẩm làm ra chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước là một tổn thất rất lớn. Ngoài dự án của Công ty Giấy Hải Phòng mới đưa vào hoạt động nên chưa có đánh giá chuẩn xác, hai dự án giấy Việt Trì và giấy Bình An đã trở thành gánh nặng tài chính do thiết bị đầu tư không hiệu quả, không khai thác hết năng lực đã đầu tư. Theo nhận xét của một số chuyên gia, nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp chưa làm chủ được công nghệ, chưa có kinh nghiệm sản xuất mặt hàng này và thị trường sản phẩm chưa ổn định. Thậm chí đến nay, ngành giấy trong nước vẫn chưa làm chủ được công nghệ sản xuất giấy làm lớp giữa sóng carton (về nguyên tắc dễ hơn làm giấy mặt) và trong năm qua phải nhập khẩu trên 139.000 tấn, còn sản phẩm sản xuất trong nước bán không được. Không chỉ có vậy, đối với mặt hàng giấy in và giấy viết, trong những năm qua giấy Bãi Bằng, Tân Mai, Đồng Nai đã chủ động được công nghệ sản xuất. Tuy nhiên, có nhiều dự án đầu tư của tư nhân sản xuất mặt hàng này nhưng mới chỉ chú trọng thiết bị mà chưa làm chủ được công nghệ, khiến cho sản phẩm làm ra không tiêu thụ được. Đến nay, nhiều doanh nghiệp tư nhân trong số này đang có nguy cơ phá sản vì không trả được nợ và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. 3.3 Đầu tư quy mô quá nhỏ Trong 20 năm qua, năng lực ngành giấy được tăng lên gấp đôi, từ 100.000 tấn/năm lên gần 1 triệu tấn/năm (thực tế sản xuất được khoảng 800.000 tấn/năm). Tính ra, với 300 doanh nghiệp trong ngành, quy mô bình quân khoảng 3.000 tấn/năm/nhà máy thì không thể nào mang lại hiệu quả. Không những thế, các chuyên gia còn cho rằng quy mô này sẽ gây hậu quả 20
- Xem thêm -