Thực trạng công tác tư pháp hộ tịch tại cấp xã

  • Số trang: 28 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 48 |
  • Lượt tải: 1
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

A. PHẦN MỞ ĐẦU GIỚI THIỆU VỀ CHUYÊN ĐỀ Đăng ký và quản lý hộ tịch là lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống của người dân. Trong thời gian vừa qua với sự phân cấp thẩm quyền một cách mạnh mẽ, cùng với cải cách thủ tục hành chính đã làm cho công tác hộ tịch tại cơ sở hoạt động đạt kết quả cao. Điều đó góp phần làm tốt công tác quản lý nhà nước về dân số, phản ánh tình hình dân số thành phố tại một thời điểm hiện tại. Từ đó có những chính sách đúng đắn về dân số. Trong thời gian vừa qua công tác hộ tịch của các xã phường luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của Ủy ban nhân dân (UBND) xã phường và sự hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Phòng Tư Pháp quận, huyện nên nhìn chung công tác hộ tịch được thực hiện tốt, hiệu quả đăng ký hộ tịch cao đáp ứng được yêu cầu của người dân khi đăng ký hộ tịch. Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, đoàn thể trong hoạt động tuyên truyền nội dung Nghị định 158, nâng cao ý thức người dân về công tác hộ tịch được tổ chức bằng nhiều hình thức, cách thức tuyên truyền tới mọi đối tượng của địa phương. Đặc biệt là việc Ban Tư pháp phối hợp với ban dân số của xã theo dõi vận động nhân dân đi đăng ký khai sinh và phối hợp với Ban văn hoá xã tiến hành đăng ký khai tử ở địa phương. Để nói về công tác tư pháp hộ tịch ở địa phương là rất rộng nó được phân cấp thẩm quyền đối với Sở Tư pháp Thành Phố có nhiệm vụ đăng ký quản lý hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Song ở phạm vi chuyên đề này nhóm em xin được trình bày về thực trạng của công tác tư pháp hộ tịch tại cấp xã. Vấn đề nhóm em nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót. Sự quan tâm chỉ bảo của thầy cô là bài học kinh nghiệm quý báu giúp em hoàn thiện về nhận thức. Em xin chân thành cảm ơn! 1 B. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH THU THẬP THÔNG TIN TẠI NƠI THỰC TẾ Thông qua quá trình tìm hiểu tại nơi thực tế (Ủy ban nhân dân xã Cao Viên); nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan về công tác hộ tịch, cùng với những báo cáo tổng kết về hộ tịch của thành phố Hà Nội từ năm 2005 đến 2010 cho thấy công tác hộ tịch tại thành phố như sau: I. Các thủ tục hành chính trong lĩnh vực Tư pháp Hộ tịch tại Uỷ ban nhân dân xã Cao Viên. (Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch; Thông tư 01/2008/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch; Thông tư số 01/2008/TT-BTP của Bộ Tư pháp ngày 02 tháng 6 năm 2008, Quyết định số 17/2007/QĐUBND của Uỷ ban nhân dân về việc quy định mức thu, quản lý sử dụng các loại phí trên địa bàn TP Hà Nội; Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg tăng cường chấn chỉnh việc thực hiện các quy định của pháp luật về phí, lệ phí, chính sách huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân). Tên STT thủ tục 1 Đăng ký khai sinh Thời gian giải quyết (ngày) Hồ sơ - Giấy chứng sinh; - Xuất trình Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết hôn); Biên bản xác nhận trẻ em bị bỏ rơi (nếu là trẻ em bị bỏ rơi); Hộ chiếu của cha, mẹ (nếu cha, mẹ là người Việt Nam định cư ở nước ngoài). Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. 2 Trong ngày Phí, lệ phí (nghìn đồng) Bộ phận giải quyết Không thu phí, lệ phí Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 2 3 4 5 6 Tờ khai (theo mẫu); bản sao giấy khai sinh đã cấp hợp lệ trước đây (hoặc bản sao các giấy tờ hợp lệ khác: CMND, Sổ hộ khẩu, học bạ, Trong bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý Đăng ngày lịch đảng viên…). Trường hợp đăng ký lại (TH cần ký lại tại Uỷ ban nhân dân xã, không việc xác minh phải nơi đăng ký khai sinh trước đây sinh là 3 - 5 thì Tờ khai phải có xác nhận của Uỷ ngày) ban nhân dân xã, nơi đã đăng ký về việc đã đăng ký khai sinh trước đây hoặc xác nhận về việc sổ đăng ký hộ tịch của năm đó không còn lưu trữ - Giấy chứng sinh; - Xuất trình Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ của trẻ em có đăng ký kết Trong Đăng hôn); Biên bản xác nhận trẻ em bị bỏ ngày ký khai rơi (nếu là trẻ em bị bỏ rơi); Hộ (TH cần sinh chiếu của cha, mẹ (nếu cha, mẹ là xác minh quá hạn người Việt Nam định cư ở nước là 3 - 5 ngoài). Trong trường hợp không có ngày) người làm chứng, thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực. Đăng Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay cho Trong ký khai giấy báo tử theo quy định của pháp ngày tử luật Tờ khai (theo mẫu) và bản sao Giấy khai tử đã được cấp trước đây. Trường hợp đăng ký lại tại Uỷ ban nhân dân xã, không phải nơi đăng ký Trong khai tử trước đây thì Tờ khai phải có ngày Đăng xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, (TH cần ký lại nơi đã đăng ký về việc đã đăng ký xác minh việc tử khai tử trước đây (trường hợp không là 3- 5 xuất trình được bản sao được cấp ngày) hợp lệ trước đây) hoặc xác nhận về việc sổ đăng ký hộ tịch của năm đó không còn lưu trữ Trong Đăng Nộp Giấy báo tử hoặc giấy tờ thay ngày ký khai thế cho giấy báo tử (TH cần tử quá xác minh hạn là 3- 5 ngày 3 Không thu phí, lệ phí Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Không thu phí, lệ phí Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Không thu phí, lệ phí Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 7 8 9 10 - Tờ khai (theo mẫu); - Xuất trình CMND của 2 bên nam nữ. Trường hợp một người cư trú tại xã, thị trấn này nhưng đăng ký kết hôn tại xã, phường, thị trấn khác thì Trong phải có xác nhận của UBND xã, nơi ngày Đăng người đó cư trú về tình trạng hôn (TH cần ký kết nhân của người đó (nếu là cán bộ, xác minh hôn chiến sỹ công tác trong lực lượng vũ là 3 -5 trang thì phải xin xác nhận của thủ ngày) trưởng đơn vị). - Đối với người đang học tập công tác ở nước ngoài phải có xác nhận của cơ quan ngoại giao nước đang công tác, học tập. Tờ khai (theo mẫu) và bản sao hợp lệ giấy chứng nhận kết hôn đã cấp trước đây. Trường hợp đăng ký lại tại Uỷ ban nhân dân xã, không phải Trong nơi đăng ký kết hôn trước đầy thì Tờ ngày Đăng khai phải có xác nhận của Uỷ ban (TH cần ký lại nhân dân xã, nơi đã đăng ký về việc xác minh việc kết đã đăng ký kết hôn trước đây (nếu là 3 -5 hôn không xuất trình được bản sao được ngày) cấp hợp lệ trước đây) hoặc xác nhận về việc sổ đăng ký hộ tịch của năm đó không còn lưu trữ Giấy thoả thuận về việc cho và nhận con nuôi hoặc tờ khai (theo mẫu) trong trường hợp trẻ được nhận làm con nuôi là trẻ bị bỏ rơi, không tìm được cha, mẹ đẻ mà chưa đưa vào cơ sở nuôi dưỡng; cả cha, mẹ đẻ của trẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành Đăng vi dân sự hoặc hạn chế năng lực ký nuôi hành vi dân sự mà không có người 3-5 con hoặc tổ chức giám hộ. Nếu người ngày nuôi được nhận làm con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên thì trong giấy thoả thuận phải có ý kiến của người đó về việc đồng ý làm con nuôi; Bản sao giấy khai sinh của người được nhận làm con nuôi; Biên bản xác nhận tình trạng trẻ bị bỏ rơi, nếu người được nhận làm con nuôi là trẻ bỏ rơi. Đăng Tờ khai (theo mẫu) và bản sao giấy 3-5 4 Không thu phí, lệ phí Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Không thu phí, lệ phí Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 20.000 (miễn thu trong trường hợp trẻ bị nhiễm HIV) Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 20.000 Bộ phận tiếp ký lại việc nuôi con nuôi 11 12 13 14 15 Đăng ký chấm dứt, thay đổi việc giám hộ tờ đã được cấp hợp lệ trước đây. Trường hợp đăng ký lại tại Uỷ ban nhân dân xã, không phải nơi đăng ký nuôi con nuôi trước đây thì Tờ khai phải có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, nơi đã đăng ký về việc đã đăng ký nuôi con nuôi trước đây (trường hợp không xuất trình được bản sao được cấp hợp lệ) hoặc xác nhận về việc sổ đăng ký hộ tịch của năm đó không còn lưu trữ Tờ khai (theo mẫu); quyết định công nhận việc giám hộ đã được cấp trước đây và xuất trình các giấy tờ cần thiết để chứng minh đủ điều kiện chấm dứt việc giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự; danh mục tài sản (nếu người được giám hộ có tài sản riêng) Giấy cử giám hộ do người cử giám hộ lập, (nếu có nhiều người cùng cử Đăng một người làm giám hộ thì tất cả ký phải cùng ký vào giấy cử giám hộ) giám và danh mục tài sản và tình trạng của hộ tài sản đó do người cử giám hộ lập (nếu có). Tờ khai (theo mẫu), trường hợp cha, mẹ nhận con chưa thành niên, thì Đăng phải có sự đồng ý của người hiện là ký việc mẹ hoặc cha của người đó; Giấy khai nhận sinh (bản chính hoặc bản sao) của cha, người con; Các giấy tờ, đồ vật hoặc mẹ, con các chứng cứ khác để chứng minh quan hệ cha, mẹ, con (nếu có) Người có yêu cầu cấp bản sao giấy Cấp tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch lưu tại Uỷ bản sao ban nhân dân xã trực tiếp đến hoặc các có thể uỷ quyền cho người khác hoặc giấy tờ gửi đề nghị đến cơ quan hộ tịch qua hộ tịch đường bưu điện. Thay Tờ khai (theo mẫu); bản chính giấy đổi, cải khai sinh và các giấy tờ liên quan để chính làm căn cứ cho việc thay đổi, cải hộ tịch chính hộ tịch cho 5 ngày (miễn thu trong trường hợp trẻ bị nhiễm HIV) Trong ngày 5.000/ 1 lần nhận và trả kết quả Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 03 -5 ngày 5.000/ 1 lần 03 ngày 10.000/ 1 lần Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 1/2 buổi 2.000/ bản sao Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Không thu phí, lệ phí Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 03 ngày 16 17 18 19 người dưới 14 tuổi; Bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch Cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân - Xác nhận các giấy tờ hộ tịch Các công việc khác về đăng ký hộ tịch Bản chính giấy khai sinh và giấy tờ liên quan đến việc bổ sung, điều chỉnh của người cần bổ sung hộ tịch. Tờ khai (theo mẫu); Trích lục bản án, quyết định ly hôn (nếu đã ly hôn); Giấy chứng tử (nếu vợ hoặc chồng đã chết) Trong ngày Không thu phí, lệ phí Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 3 ngày 3.000 Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 3.000 Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 5.000 Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Giấy tờ hộ tịch cần xác nhận 2 ngày Giấy tờ hộ tịch cần xác nhận Trong ngày 6 II. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ CÔNG TÁC HỘ TỊCH TẠI CẤP XÃ, PHƯỜNG, CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác hộ tịch tại cơ sở trong những năm vừa qua các phòng tư pháp huyện, phối hợp với Sở Tư pháp thành phố Hà Nội (cơ quan cao nhất chịu trách nhiệm về quản lý hộ tịch tại thành phố Hà Nội) đã được nâng cao và bồi dưỡng kinh nghiệm cho các cán bộ tư pháp xã - phường để đáp ứng được yêu cầu đặt ra giúp cho UBND xã, phường nhận thấy được tình hình dân số của địa phương. Thông qua đó có chính sách đúng đắn về kinh tế; xã hội, tạo điều kiện cho người dân vừa làm tròn nghĩa vụ với nhà nước, vừa nâng cao ý thức pháp luật của người dân. III. KẾT QUẢ CỦA CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH XÃ PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1. Cải cách thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế "Một cửa" trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch. 7 Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực này là một nội dung quan trọng trong công cuộc cải cách hành chính của nước ta. Góp phần tích cực thực hiện công cuộc cải cách hành chính, đón đầu sự hội nhập quốc tế khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Chính phủ, Bộ Tư pháp đã có nhiều văn bản quy định mang tính đổi mới, công khai, minh bạch, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực hộ tịch và Nghị định 158/2005/NĐ - CP ngày 27 - 12 - 2005 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch thay thế cho Nghị định 83/1998/NĐ - CP ngày 10 - 10- 1998 của chính phủ đăng ký hộ tịch với những quy định mang tính cải cách mạnh mẽ, sâu, rộng và khá triệt để về thẩm quyền trình tự, thủ tục thời gian giải quyết việc hộ tịch, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người dân là một bước chuyển biến quan trọng trong hệ thống quy định pháp luật về hộ tịch một điểm nhấn rõ nét trong quá trình cải cách thủ tục hành chính, tư pháp. 1.1. Sự phân cấp mạnh mẽ về thẩm quyền: - Theo quy định của Nghị định 158 gần như toàn bộ các việc trước đây thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh (theo quy định của Nghị định 83) đã được phân cấp - giao cho Sở Tư pháp và UBND cấp huyện thậm chí phân cấp đến UBND cấp xã. Cụ thể là: việc thay đổi cải chính hộ tịch cho n gười trên 14 tuổi, xác định lại dân tộc, giới tính điều chỉnh, bổ sung hộ tịch được giao cho UBND cấp huyện quy định, việc đăng ký khai sinh có cha hoặc mẹ là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người dưới 14 tuổi thẩm quyền hiện nay được giao cho UBND cấp xã thực hiện. Có thể thấy đây là một sự chuyển giao mạnh mẽ và hợp lý, mở rộng thẩm quyền cho cơ sở, sẽ mở rộng đầu nối giải quyết việc hộ tịch, song song đó là sự tăng cường về chủ động trong công việc cho cơ quan đăng ký hộ tịch, thuận lợi cho người dân trong việc đến làm thủ tục và chắc chắn sẽ rút ngắn cơ bản thời gian giải quyết việc cho công dân. 1.2. Đơn giản hoá cơ bản về thủ tục giấy tờ trong đăng ký hộ tịch. 8 Phù hợp với chủ trương loại bỏ cơ chế xin cho, chuyển một số hoạt động tư pháp sang cơ chế dịch vụ công, về hình thức các biểu mẫu hộ tịch cũng đã có sự thay đổi, các biểu mẫu trước đây có tên gọi là "Đơn" nay được đặt tên là "Tờ khai", thể hiện phần nào sự bình đẳng giữa người có yêu cầu đăng ký và cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch. Nhiều loại giấy tờ, nếu như trước đây, khi đi làm thủ tục đăng ký, kngười có yêu cầu buộc phải xuất trình thì nay đã được lược bỏ như bỏ việc xuất trình giấy khai sinh khi đăng ký kết hôn, hoặc quy định mang tính linh hoạt, giản lược hơn như không phải xuất trình CMND, hộ khẩu nếu cán bộ hộ tịch biết rõ về nhân thân, hoặc không phải xuất trình giấy chứng nhận kết hôn khi đi đăng ký khai sinh cho con nếu cán bộ hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của cha mẹ đứa trẻ - điều này đặc biệt phù hợp với văn hóa làng xã Việt Nam, và tạo thuận lợi lớn cho người dân ở khu vực nông thôn. Vừa thể hiện sự cầu thị, tính khoa học, vừa thể hiện tính thực tế của quy định, Nghị định 158 đã đơn giản hoá khá nhiều thủ tục trong quá trình giải quyết các việc đăng ký hộ tịch xét thấy không thực sự cần thiết như: Bỏ qua quy định niêm yết việc kết hôn tại UBND cấp xã, đơn xin nhận con nuôi, biên bản giao nhận con nuôi trong thủ tục đăng ký kết hôn; Không yêu cầu đơn trong thủ tục khai sinh, khai tử quá hạn, không yêu cầu các giấy tờ cần thiết và xác nhận của người làm chứng khi đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi, bỏ quy định yêu cầu ghi chú việc ly hôn tại nước ngoài trước khi làm thủ tục đăng ký kết hôn mới. 1.3. Tạo điều kiện thuận tiện cho n gười có yêu cầu đăng ký hộ tịch bằng các quy định mới và việc rút ngắn thời gian giải quyết phần lớn các loại việc hộ tịch. Để đảm bảo quyền lợi cho người dân, khuyến khích và tạo điều kiện cho người dân tự giác thực hiện việc đăng ký hộ tịch nhằm đạt hiệu quả quản lý Nhà 9 nước trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch, Nghị định 158 đã có nhiều chế định mới mang tính cởi mở, tạo thuận tiện hơn nữa cho người có yêu cầu đăng ký hộ tịch, cụ thể: cho phép uỷ quyền cho người khác thực hiện phần lớn các việc đăng ký hộ tịch (trừ ĐKKH, nuôi con nuôi, giám hộ, nhận cha - mẹ - con), thậm chí không cần văn bản uỷ quyền nếu người được ủy quyền là người ruột thịt như ông, bà, cha, mẹ...; Bảo hộ quyền lợi của trẻ em bằng quy định mở rộng thêm thẩm quyền đăng ký khai sinh cho trẻ em tại nơi cư trú của người cha, hay nơi cư trú thực tế trong trường hợp không xác định được nơi cư trú của người mẹ hoặc của cả cha và mẹ, quy định rõ việc cho phép kết hôn, thủ tục nhận con và thủ tục đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, việc đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi không phải là trẻ sơ sinh, quy định mở rộng và thống nhất thời hạn khai sinh, khai tử, cho phép cấp lạiu giấy khai sinh chính, cho phép con ngoài giá thú được nhận cha, mẹ kể cả khi cha mẹ đã chết. Việc cấp giấy xác nhận tình tranạg hôn nhân sử dụng vào mục đích không phải ĐKKH và một số quy định khác liên quan đến việc cải chính, điều chỉnh, bổ sung Giấy khai sinh và các giấy tờ hộ tịch khác. Đồng thời với các quy định trên, nghị định 158 đã đặt yêu cầu cao hơn về thời gian giải quyết việc đối với cán bộ hộ tịch, đối với các việc về hộ tịch theo quy định của Nghị định 83 thời hạn giải quyết là 07 ngày, trường hợp cần xác minh thì thời hạn này tăng thêm 7 ngày, nay Nghị định 158 rút ngắn xuống còn 05 ngày, nếu cần xác minh thì cũng chỉ kéo dài thêm 5 ngày nữa. Đặc biệt, một số việc không đặt ra thời hạn, yêu cầu cán bộ hộ tịch phải giải quyết ngay như: việc đăng ký khai sinh, khai tử, bổ sung hộ tịch, ghi vào sổ các thay đổi hộ tịch. 1.4. Thực hiện cơ chế "một cửa" trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch. Một biện pháp quan trọng và không thể thiếu trong quá trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính đó là triển khai thực hiện có hiệu quả việc tiếp nhận hồ sơ 10 và trả kết quả hồ sơ hành chính theo cơ chế "một cửa". Tại Hà Nội, ngành Tư Pháp đã sớm tham mưu với UBND cùng cấp cho triển khai thực hiện việc tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế "một cửa" một số việc thuộc lĩnh vực tư pháp, trong đó có việc đăng ký hộ tịch. Việc triển khai thực hiện cơ chế "một cửa" được tiến hành ở cả 3 cấp, trong đó, Sở Tư pháp là một trong các đơn vị được UBND thành phố chọn làm thí điểm; đồng thời ngành Tư pháp là đơn vị đầu tiên trình UBND thành phố ban hành quy định về trình tự, thủ tục và lệ phí giải quyết việc trong lĩnh vực mình phụ trách theo cơ chế "một cửa" (Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 1579/2005/QĐ - UB ngày 20 - 7 - 2006). Sau một thời gian triển khai thi hành Nghị định 158, để kip thời cập nhật các quy định mới mang tính cải cách của Nghị định, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống văn bản pháp quy do thành phố ban hành, Sở Tư pháp đã tiếp tục tham mưu với UBND thành phố ban hành bản quy định mới thay thế, thể hiện rõ tinh thần cải cách, phân cấp của Nghị định 158 và cũng là tinh thần đổi mới, cải cách của ngành Tư pháp thành phố Quyết định số 2322/2006/NĐ - CP(ngày 24 - 10 - 2006). Các bản quy định này đều được "công khai, minh bạch" bằng việc đưa tin thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng: triển khai thực hiện tại tất cả các xã, phường, thị trấn, quận huyện, thị xã trên địa bàn thành phố; Nội dung quy định về thủ tục, trình tự, thời hạn và lệ phí giải quyết các loại việc về hộ tịch được niêm yết rõ ràng tại địa điểm tiếp công dân của bộ phận một cửa; các cán bộ, công chức ngành tư pháp được phân công tham gia "Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế "một cửa" đều các là các cán bộ có năng lực chuyên môn, nhiều kinh nghiệm và khả năng tác nghiệp về công tác hộ tịch, có phẩm chất đạo đức tốt và biết giao tiếp, ứng xử. Sơ kết việc triển khai thực hiện cơ chế "một cửa" trong lĩnh vực hộ tịch cho thấy chúng ta đã thu được những kết quả hết sức tốt đẹp: Số lượng việc đăng ký hộ tịch tăng, tỷ lệ đăng ký cao do nhân dân tăng cường ý thức 11 tự giác đi đăng ký vì được tuyên truyền pháp luật tốt, phấn khởi do được tạo điều kiện tiến hành thủ tục đăng ký thuận tiện, việc được giải quyết nhanh chóng, dư luận nhân dân cho thấy người dân đã bớt đi cảm giác bị sách nhiễu, phiền hà, không còn cảm giác bỡ ngỡ của người dân khi đến đăng ký hộ tịch vì mọi giấy tờ, thủ tục đã được công khai, minh bạch. Như vậy, những kết quả khả quan của công cuộc cải cách hành chính nói chung, cải cách tư pháp nói riêng, cùng với nỗ lực của cán bộ tư pháp - hộ tịch các cấp ở thành phố, đã đưa công tác hộ tịch ở thành phố đáp ứng được yêu cầu của người dân, đưa pháp luật về hộ tịch đến gần với người dân, nhân dân phấn khởi, đồng tình và ngày càng ý thức cao hơn về quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của mình. 2. Kết quả của công tác hộ tịch tại cấp tại thành phố Hà Nội Công tác hộ tịch của các xã, phường luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo UBND xã, phường và các phòng tư pháp quận, huyện. Do đó công tác ở cơ sở trong những năm vừa qua đạt kết quả cao. Tạo cho Nhà nước quản lý tốt về dân số, giúp cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong lĩnh vực hộ tịch một cách đúng đắn. Thời gian vừa qua công tác đăng ký hộ tịch ở cấp cơ sở không có trường hợp nào sai về thẩm quyền, hàng năm hàng quý các cấp cơ sở đều có báo cáo về đăng ký hộ tịch gửi cho Phòng Tư pháp quận - huyện và Sở Tư pháp. Cụ thể công tác hộ tịch tại cấp cơ sở trong thời gian vừa qua như sau: * Đăng ký hộ tịch trong nước: năm 2005. - Tổng số đăng ký khai sinh là: 28520 trường hợp. Trong đó 14.356 nam; 14.164 nữ. - Tổng số đăng ký khai tử: 9.242 trường hợp. Trong đó 5.314 nam; 3.928 nữ. 12 - Thay đổi họ tên, chữ đệm cải chính ngày tháng năm sinh là 424 trường hợp. Trong đó 199 nam và 225 nữ. - Xác định lại dân tộc là 09 trường hợp. Trong đó có 06 nam và 03 nữ. - Tổng số đăng ký kết hôn là: 13.194 trường hợp. * Cụ thể như sau: Đăng ký Sự việc Tổng Không đăng ký Trong đó Nam Nữ A. Đăng ký sinh 28.52 0 1435 6 1416 4 1. Con cha mẹ có ĐKKH 27795 1400 1 1379 4 2. Con cha mẹ không có ĐKKH 725 355 370 3. Con có cha mẹ ở N2 hồi hương về VN 12 7 5 4. Con thứ ba trở lên 738 404 334 B. Đăng ký tử 9242 5314 3928 1. Trẻ em dưới 1 tuổi 44 25 19 2. Trẻ em từ đủ 1 tuổi đến dưới 5 tuổi 64 38 26 3. Trẻ em từ đủ 5 tuổi đến dưới 16 tuổi 71 43 28 4. Người đủ 16 tuổi trở lên 9063 5208 3855 a. Do ốm đau già yếu 8497 4776 3721 b. Do bệnh dịch 42 29 13 c. Do tai nạn 302 223 79 d. Do tự tử 34 25 9 đ. Do bức tử 2 1 1 e. Do bị giết tử hình 15 9 6 13 Tổng Trong đó Nam Nữ f. Các T/h khác (chết đuối, điện giật, rắn cắn) 171 145 26 C. Đăng ký nuôi con nuôi 35 21 14 Đ. Thay đổi họ tên chữ đệm cải chính 433 ngày tháng năm sinh, xác định lại danh tính 205 228 1. Thay đổi cải cách hộ tịch 424 199 225 2. Xác định lại danh tính 9 6 3 E. ĐKKH 13194 D. Đăng ký giám hộ F. Tảo hôn * Đăng ký hộ tịch trong nước năm 2006. - Tổng số đăng ký khai sinh là: 41.278 trường hợp trong đó có: 20817 nam và 20.461 nữ. - Tổng số đăng ký khai tử là: 9.201 trường hợp. Trong đó có: 517 nam và 4022 nữ. - Tổng số đăng ký việc giao nhận con nuôi là: 75 trường hợp - Tổng số đăng ký kết hôn là: 15510 trường hợp. - Cấp lại bản chính giấy khai sinh là3.522 trường hợp. * Cụ thể như sau: Số liệu ĐKHT tại UBND cấp xã: Trong đó Sự kiện hộ tịch I. Sinh Tổng số 41.278 Nam 20.817 14 Nữ 20.461 ĐK ĐK đúng quá hạn hạn 26.503 3.568 Đăng ký 11.207 1. Con trong giá thú 38.955 19.722 19.233 24.426 3.322 11.207 2. Con ngoài giá thú 2.307 1.089 1.218 2.061 246 0 3. Trẻ bị bỏ rơi 16 6 10 16 0 0 II. Tử 9201 5.179 4.022 8.744 421 36 1. Trẻ em dưới 1 tuổi 15 8 7 12 3 0 2. Trẻ em từ đủ 1 tuổi 65 46 19 59 6 0 9.121 5.125 3.996 8.673 412 36 8.296 4.483 3.813 7.973 278 36 2. Chết do tai nạn 372 289 83 318 54 0 3. Chết do tự tử 38 29 9 36 2 0 4. Các trường hợp khác 495 117 417 78 0 Theo độ tuổi đến <16 tuổi 3. Người từ đủ 16 tuổi trở lên Theo nguyên nhân chết 1. Chết do bệnh tật già yếu Trong đó Tổng III. Kết hôn Đăng ký kết hôn 15.520 Đăng ký lại việc KH 15.398 112 Trong đó IV. Nuôi Tổng Nam Nữ con nuôi 75 V. Giám 42 33 3 15 Con nuôi Con nuôi Đăng ký <15 tuổi >15 tuổi lại 71 3 1 hộ Trong đó VI. Nhận cha mẹ Con chưa thành Tổng nuôi 1. Cha mẹ nhận con 2. Con nhận cha mẹ còn sông 3. Con nhận cha mẹ đã mất niên Con đã thành niên 301 289 12 11 0 11 7 0 7 16 CHƯƠNG II: XỬ LÝ KẾT QUẢ THÔNG TIN ĐÃ THU THẬP ĐƯỢC Cùng với cải cách hành chính nói chung và trong lĩnh vực hộ tịch nói riêng với chức năng là cơ quan quản lý, và hướng dẫn về công tác hộ tịch trong những năm vừa qua Sở tư pháp thành phố Hà Nội đã phối hợp cùng với các phòng tư pháp quận, huyện, xã phường, hướng dẫn cán bộ hộ tịch về chuyên môn, giúp cán bộ hộ tịch làm tốt nhiệm vụ đặt ra. Hàng năm Sở Tư pháp đã tiến hành tuyên truyền pháp luật đối với cán bộ cơ sở. Hiện nay về chuyên môn tất cả các cán bộ hộ tịch tại cơ sở đã có bằng trung cấp Luật. Tại đơn vị đều đã thực hiện cơ chế một cửa từ đầu 2005, niêm yết công khai, đầy đủ, thủ tục thời gian, lệ phí, lịch tiếp dân đảm bảo đúng quy trình với thời gian giải quyết việc từ các khâu tiếp nhận, thụ lý và trả kết quả, tạo thuận lợi và tăng hiệu quả giải quyết công việc hộ tịch của công dân. Song mặt bằng nơi tiếp công dân của bộ phận "tiếp nhận và trả kết quả" của một số đơn vị như xã Đồng Mai, xã Thanh Cao huyện Thanh Oai còn chật hẹp, điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế. Các đơn vị đã triển khai thực hiện tốt công tác đăng ký và quản lý hộ tịch theo quy định của pháp luật. Kết quả cho thấy các quy định đó đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân khi đăng ký các việc về hộ tịch được đại đa số nhân dân đồng tình ủng hộ. 1. Công tác tuyên truyền pháp luật. Với mục đích tạo thuận lợi cho người dân khi đến đăng ký hộ tịch tại xã, phường, nhằm thực hiện các quy định mới, các các cơ sở trong địa bàn thành phố Hải Phòng trong thời gian vừa qua đã tổ chức tuyên truyền nội dung của các văn bản pháp luật liên quan như: Nghị định 158/2005/NĐ - CP với nhiều hình thức. Tiêu biểu là Bình Minh,xã Thanh Mai huyện Thanh Oai. Ban Tư pháp xã Bình Minh đã phối hợp với ban dân số, gia đình và trẻ em, trạm y tế xã nắm và quản lý 17 các đối tượng sinh đẻ nên trong thời gian vừa qua trẻ em ra đời đã được đăng ký khai sinh đầy đủ, đồng thời tất cả các trường hợp đã được khai sinh kịp thời. 2. Việc ghi chép và lưu trữ, quản lý sổ hộ tịch. Nhận thức được ý nghĩa của việc ghi chép và lưu trữ các sổ hộ tịch trong thời gian vừa qua cùng với công tác nghiệp vụ các cán bộ tư pháp cơ sở đã ý thức được tầm quan trọng của việc lưu trữ giấy tờ này. Đồng thời khi đăng ký và viết các thông tin của công dân vào các giấy tờ hộ tịch cũng được nâng cao và cẩn trọng hơn. Bởi những giấy tờ hộ tịch này có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó là tiền đề cho những giao dịch của công dân sau này như: Giấy khai sinh, giấy chứng nhận đăng ký kết hôn... Các đơn vị cơ sở đều lập đầy đủ sổ đăng ký khai sinh, sổ đăng ký kết hôn, sổ đăng ký khai tử và sổ theo dõi cấp giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân của năm 2005 và năm 2006. Sổ hộ tịch của cơ sở trong địa bàn thành phố Hà Nội đều được bảo quản, lưu trữ tốt, thực hiện đúng quy định mở, khoá sổ được ghi chép tương đối rõ ràng. Việc sai sót không nhiều và đều được sửa theo đúng quy định của pháp luật. Một số các cán bộ hộ tịch của các phường trong nội thành và các xã như Tam Hưng, Xã Cao viên huyện Thanh Oai khi viết các thông tin vào giấy hộ tịch đã sử dụng sự tiện ích của máy vi tính, tránh sai sót và bảo quản tốt cho sau này. Nhưng thực tế cho thấy rằng công tác lưu trữ và bảo quản sổ hộ tịch của cấp cơ sở còn nhiều hạn chế như: - Hiện các sổ, giấy hộ tịch của các cấp cơ sở hiện tại chỉ lưu giữ được từ năm 1989 đến nay. Bởi quá trình chuyển phòng tư pháp xã phường tư nơi này sang nơi khác, hay chuyển cán bộ từ khoá này sang khoá khác cũng là một nguyên nhân. - Chất lượng giấy tờ hộ tịch trước kia thường kém đa phần là để thấm nước và mực dễ bị hoen, do đó công tác lưu trữ còn gặp nhiều khó khăn. 18 - Hiện nay các Ban tư pháp thường không có kho lưu trữ riêng và thường phải lưu trữ cùng với các phòng ban khác của uỷ ban, một số xã còn để lên nóc tủ phòng làm việc của ban tư pháp xã. - Nhìn chung các đơn vị đều lưu trữ hồ sơ đăng ký tương đối tốt đúng quy định, đánh số và sắp xếp khoa học, tiện cho việc tra tìm đối chiếu. Tuy nhiên các đơn vị vẫn mắc phải sai sót trong lưu trữ hồ sơ, giấy tờ lưu trữ trong hồ sơ không đầy đủ nội dung hoặc sửa chữa không đúng quy định như hồ sơ đăng ký khai sinh của xã Thanh Văn, hồ sơ đăng ký kết hôn của xã Bích Hòa huyện Thanh Oai. Duy chỉ có hồ sơ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là các đơn vị lưu trữ chưa đầy đủ một số xã hiện không có hồ sơ cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân như: xã Cao Viên Huyện Thanh Oai. Bên cạnh đó vẫn còn hiện tượng sai lệch nội dung giữa hồ sơ và sổ đăng ký khai sinh của xã Đồng Mai... Trong đó nhiều trường hợp có chữ ký của đương sự không thống nhất giữa "tờ khai" và sổ đăng ký kết hôn. - Một số hồ sơ đăng ký kết hôn không lưu giấy chứng tử hoặc bản án có hiệu lực pháp luật đối với những trường hợp kết hôn lần thứ hai. Sai sót này hầu như các đơn vị cơ sở đều mắc phải đặc biệt việc lưu hồ sơ khai tử của các đơn vị gặp nhiều khó khăn do ý thức người dân đối với công tác này còn chưa cao. Do đó đối với các trường hợp chết đột ngột, chết do tai nạn hầu như không có văn bản xác định nguyên nhân chết của cơ quan có thẩm quyền. - Hiện nay việc lưu trữ còn gặp nhiều khó khăn nhưng cùng với cơ sở vật chất vốn có, cùng kinh nghiệm của cán bộ hộ tịch cơ sở việc lưu trữ sổ hộ tịch thể hiện cụ thể ở bảng số liệu sau: 19 ST T 1 Giao Năm Khai sinh Khai tử kết hôn nhận con nuôi 10 năm Cải chính hộ tịch 241.418 58857 74859 95 333 (1989 - 1998) 2 1998 22662 6415 8084 15 104 3 1999 20.104 7558 8454 25 141 4 2000 24.395 6579 10114 11 121 5 2001 27.450 6986 11059 24 136 6 2002 26.791 7538 14666 23 206 3. Nhận xét tình hình chung về công tác tư pháp hộ tich tại Ủy ban nhân dân xã Cao Viên Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác hộ tịch tại cơ sở trong những năm vừa qua các phòng tư pháp huyện, phối hợp với sở Tư pháp thành phố Hà Nội đã nâng cao và bồi dưỡng kinh nghiệm cho các cán bộ Tư pháp xã để đáp ứng nhu cầu đặt ra giúp cho Ủy ban nhân dân xã nhận thấy được tình hình dân số của địa phương. Thông qua đó có chính sách đúng đắn về kinh tế; xã hội, tạo điều kiện cho người dân vừa làm tròn nghĩa vụ với nhà nước, vừa nâng cao ý thức pháp luật của người dân. Những năm qua, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch của xã đã đáp ứng tốt nhu cầu đăng ký các sự kiện hộ tịch của công dân. Các hoạt động như đăng ký kết hôn, khai sinh, khai tử, thực hiện đăng ký nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch, cấp lại bản chính giấy khai sinh, bản sao giấy tờ hộ tịch... đều được thực hiện có nền nếp, hiệu quả. Việc bố trí cán bộ, công chức và tổ chức bộ máy làm công tác đăng ký và quản lý hộ tịch từ cấp xã đến cơ sở luôn được quan tâm củng cố, kiện toàn. Tuy nhiên, thực tế hoạt động cho thấy đội ngũ cán bộ làm công tác tư pháphộ tịch của xã hiện vẫn còn thiếu về số lượng và chưa đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn. Theo quy định tại Nghị định 92/2009/NĐ-CP (ngày 22-2-2009) về quy định chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ công chức 20
- Xem thêm -