Thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương nha trang

  • Số trang: 123 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 11 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 LỜI MỞ ĐẦU Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, hệ thống Ngân hàng Việt Nam đã đạt được sự phát triển đáng kể, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội theo các mục tiêu định hướng của Đảng và Nhà nước. Là một doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình Tổng Công ty 90, 91. Ngân hàng Ngoại thương được xem là Ngân hàng thương mại phục vụ đối ngoại lâu đời nhất tại Việt Nam, là Ngân hàng thương mại đầu tiên tại Việt Nam quản lý vốn tập trung, là trung tâm thanh toán ngoại tệ liên ngân hàng của trên 100 Ngân hàng trong nước và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, và cũng là Ngân hàng thương mại đầu tiên tại Việt Nam hoạt động kinh doanh ngoại tệ, luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng. Thanh toán quốc tế được xem là lĩnh vực hoạt động mạnh nhất tại Ngân hàng Ngoại thương, một lĩnh vực góp phần thúc đẩy mở rộng quan hệ quốc tế cũng như tăng cường hoạt động đầu tư và xuất nhập khẩu của Việt Nam với các nước. Trong các phương thức thanh toán quốc tế thì hiện nay phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Đặc biệt là tại Việt Nam, khi mà hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng mở rộng ra với các nước trên thế giới, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu phát triển mạnh, các nhà xuất khẩu muốn đảm bảo hơn trong việc thanh toán khi đã thực hiện việc giao hàng, còn các nhà nhập khẩu thì mong muốn nhận được hàng hoá đúng như yêu cầu trong hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận khi đã thanh toán đầy đủ. Rõ ràng họ cần đến một phương thức thanh toán có thể đảm bảo được lợi ích hai chiều như vậy. Và phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có thể thực hiện được điều này. Tuy nhiên, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ không phải không có những nhược điểm mà không phải lúc nào cũng có thể khắc phục được. Nhận thức được tầm quan trọng của phương thức này, em đã chọn đề PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 2 tài: Thực trạng công tác thanh toán xuất nhập khẩu theo phương thức tín dụng chứng từ tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Nha Trang. 1. Mục đích nghiên cứu: Vận dụng những kiến thức đã được học tại trường vào thực tiễn để hiểu biết sâu hơn về các phương thức thanh toán quốc tế, đặc biệt là về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và thực trạng hoạt động tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Nha Trang - Khánh Hòa. Trong phạm vi đề tài của em, em chỉ tập trung nghiên cứu về quy trình thanh toán phương thức tín dụng chứng từ như quy trình thanh toán xuất khẩu và nhập khẩu, số liệu được thu thập từ năm 2003-2005. 3. Phương pháp nghiên cứu: Bằng việc thu thập các thông tin liên quan tới Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng như chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Nha Trang, từ đó thống kê, phân tích các dữ liệu có được. Bên cạnh đó em kết hợp thêm một số phương pháp phỏng vấn, quan sát để làm rõ đề tài nghiên cứu của mình. 4. Nội dung và kết cấu đề tài: Nội dung của đề tài gồm 4 chương: Chương I: Cơ sở lý luận chung. Chương II: Tình hình hoạt động của ngân hàng Ngoại Thương chi nhánh Nha Trang trong thời gian qua Chương III: Thực trạng công tác thanh toán bằng phương thức L/C tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Nha Trang. Chương IV: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại Thương Nha Trang. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 3 CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG I. Phương thức tín dụng chứng từ I.1. Khái niệm và phân loại phương thức tín dụng chứng từ I.1.1. Khái niệm - Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng. - Phương thức tín dụng chúng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng đáp ứng những nhu cầu của khách hàng, cam kết hay cho phép ngân hàng khác chi trả hoặc chấp nhận những yêu cầu của người hưởng lợi khi những điều kiện quy định trong thư tín dụng được thực hiện đầy đủ. Như vậy, thư tín dụng được coi là: Một phương tiện thanh toán. Một khi đã thỏa thuận thời hạn của hợp đồng thương mại, tín dụng thư kèm chứng từ được chọn như hình thức thanh toán có liên quan đến nhiệm vụ độc lập với các nhiệm vụ quy định tại hợp đồng nói riêng. Một hình thức tín dụng bằng chữ ký mà một ngân hàng dành cho một khách hàng mua, trong đó người bán phải xuất trình chứng từ. Qua khái niệm trên về phương thức tín dụng ta thấy có liên quan đến các bên sau: v Người xin mở L/C (Applicant for the credit): Thông thường là người mua, tổ chức nhập khẩu. v Người hưởng lợi (Beneficiary): Là người bán, người xuất khẩu. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 4 v Ngân hàng mở thư tín dụng (Ngân hàng phát hành - The issuing bank): Là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ở bên nước người nhập khẩu, nó cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu và là ngân hàng thường được hai bên xuất khẩu và nhập khẩu thoả thuận, lựa chọn và được quy định trong hợp đồng, nếu chưa có sự quy định trước người nhập khẩu có quyền lựa chọn. v Ngân hàng thông báo thư tín dụng (The advising bank ): Là ngân hàng phục vụ người xuất khẩu, thông báo cho người bán biết thư tín dụng đã mở. Đây có thể là ngân hàng chi nhánh hoặc đại lý của ngân hàng phát hành. Ngân hàng này thường ở nước người xuất khẩu. v Ngoài ra còn có thể có các ngân hàng khác tham gia trong phương thức thanh toán này: · Ngân hàng xác nhận (The confirming bank): Là ngân hàng xác nhận trách nhiệm của mình sẽ cùng với ngân hàng mở thư tín dụng, bảo đảm việc trả tiền cho người xuất khẩu trong trường hợp ngân hàng mở thư tín dụng không đủ khả năng thanh toán. Ngân hàng xác nhận có thể là ngân hàng thông báo thư tín dụng hay là một ngân hàng khác do người xuất khẩu yêu cầu, thường là một ngân hàng lớn, có uy tín trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế. · Ngân hàng thanh toán (The paying bank ): Có thể là ngân hàng mở thư tín dụng hoặc có thể là ngân hàng khác được ngân hàng mở thư tín dụng chỉ định thay mình thanh toán trả tiền cho người xuất khẩu hay chiết khấu hối phiếu. · Ngân hàng thương lượng (Negotiating bank ): Là ngân hàng đứng ra thương lượng bộ chứng từ và thường cũng là ngân hàng thông báo L/C. Trường hợp L/C thương lượng tự do thì bất kỳ ngân hàng nào cũng có thể là ngân hàng thương lượng. Tuy nhiên, cũng có trường hợp L/C quy định thương lượng tại một ngân hàng nhất định. · Ngân hàng chuyển nhượng (Transfering bank), ngân hàng chỉ định (nominater bank), ngân hàng hoàn trả (Reimbursing bank), ngân hàng đòi PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 5 tiền (Claiming bank), ngân hàng chấp nhận (Accepting bank), ngân hàng chuyển chứng từ (Remitting bank). Tất cả được giao trách nhiệm cụ thể trong thư tín dụng. I.1.2. Phân loại tín dụng chứng từ Các loại thư tín dụng thường thấy trong thanh toán quốc tế gồm có : 1. Thư tín dụng huỷ ngang (Revocable L/C) - Là thư tín dụng sau khi đã được mở thì ngân hàng mở L/C và người mở L/C có thể tự ý sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho người hưởng lợi L/C. . - Loại thư tín dụng này ít được sử dụng trong thực tế vì thực ra đây chỉ là một lời hứa trả tiền chứ không phải là cam kết trả tiền, nó không ràng buộc ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo với người thụ hưởng. Nó có thể thay đổi hoặc hủy ngang vào bất cứ thời điểm nào. 2. Thư tín dụng không thể huỷ ngang (Irrevocable L/C ) - Là loại thư tín dụng sau khi đã mở ra thì ngân hàng mở L/C không được sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ trong thời gian hiệu lực của thư tín dụng và phải có trách nhiệm thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu. - Nếu trong thư tín dụng không ghi chữ IRREVOCABLE thì vẫn được coi là không thể huỷ bỏ được. - Loại thư tín dụng này được áp dụng rộng rãi nhất trong thanh toán quốc tế. Đây là loại thư tín dụng đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu. 3. Thư tín dụng không huỷ ngang có xác nhận (Confirming Irrevocable L/C) - Là loại thư tín dụng không thể hủy ngang và được một ngân hàng khác uy tín hơn đứng ra bảo đảm việc trả tiền theo thư tín dụng đó cùng với ngân hàng mở L/C. Điều đó có nghĩa là ngân hàng xác nhận chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho người xuất khẩu, nếu như ngân hàng mở thư tín dụng không trả tiền được do mất khả năng thanh toán, bị phá sản v.v…Do đó L/C này quyền lợi tổ chức xuất khẩu đảm bảo hơn. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 6 - Nguyên nhân sử dụng loại L/C này là do người xuất khẩu không hoàn toàn tin tưởng vào ngân hàng mở L/C, hoặc tình hình kinh tế, chính trị bấp bênh ở nước người nhập khẩu và giá trị hợp đồng tương đối lớn nên phải yêu cầu một ngân hàng có uy tín hơn xác nhận vào thư tín dụng đó. Người xuất khẩu được tùy ý chọn ngân hàng xác nhận. - Trong L/C này trách nhiệm của ngân hàng xác nhận nặng hơn ngân hàng mở L/C. Do đó để bảo đảm, ngân hàng xác nhận sẽ yêu cầu ngân hàng mở L/C phải ký quỹ trước và phải trả tiền thủ tục phí xác nhận thường rất cao. Thông thường ngân hàng mở sẽ nhờ ngân hàng thông báo đóng luôn vai trò là ngân hàng xác nhận. 4. Thư tín dụng không thể hủy ngang không xác nhận( Unconfirmed Irrevocable L/C) - Thư tín dụng không hủy ngang được coi là không có xác nhận khi được thông báo cho người hưởng thụ qua ngân hàng phục vụ người xuất khẩu và không có một sự cam kết nào thêm về phía ngân hàng này. - Với loại thư tín dụng này, ngân hàng phát hành là đơn vị duy nhất chịu trách nhiệm đối với người hưởng thụ để thanh toán hay chấp nhận đối với các hối phiếu, nếu người này xuất trình chứng từ phù hợp với thư tín dụng. 5. Thư tín dụng không thể huỷ ngang, miễn truy đòi (Irrevocable without recowese L/C) - Là loại L/C không thể huỷ ngang trong đó quy định ngân hàng mở L/C sau khi đã thanh toán tiền cho tổ chức xuất khẩu thì không được quyền truy đòi lại tiền lại tiền với bất cứ trường hợp nào. - Đối với loại L/C này, người xuất khẩu được ghi trên hối phiếu hàng chữ: “ không được truy đòi người phát phiếu ”, nhất là đối với hối phiếu trả tiền có kỳ hạn. 6. Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C) - Là thư tín dụng không thể huỷ bỏ, trong đó quy định quyền của Ngân hàng trả tiền được trả toàn bộ hay một phần số tiền của L/C cho một hay PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 7 nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên. L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần. Chi phí chuyển nhượng do người chuyển nhượng đầu tiên chịu. 7. Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C) Là loại L/C không thể huỷ bỏ sau khi sử dụng xong hoặc đã hết thời hạn hiệu lực thì nó lại tự động có giá trị như cũ, và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng trị giá hợp đồng được thực hiện. - Có 3 cách tuần hoàn: Tuần hoàn tự động, tuần hoàn bán tự động, và tuần hoàn hạn chế. + L/C tuần hoàn tự động là L/C tự động có giá trị như cũ, không cần có sự thông báo của ngân hàng mở L/C cho người xuất khẩu biết. + L/C tuần hoàn hạn chế là L/C mà chỉ khi nào ngân hàng mở L/C thông báo cho người xuất khẩu biết thì L/C kế tiếp mới có giá trị hiệu lực. + L/C bán tự động là L/C mà sau khi L/C trước sử dụng xong hoặc hết hạn hiệu lực, nếu sau một vài ngày mà ngân hàng mở L/C không có ý kiến gì về L/C kế tiếp và thông báo cho người hưởng lợi L/C thì nó lại tự động có giá trị như cũ. - Loại thư tín dụng này thường được sử dụng khi các bên tin cây lẫn nhau, mua hàng thường xuyên, định kỳ, khối lượng lớn và trong thời gian dài. Ngoài ra L/C tuần hoàn còn có thể được chia làm hai loại: + Loại L/C tuần hoàn có tích lũy: Là loại L/C cho phép chuyển kim ngach L/C trước vào L/C sau và cứ như vậy cho đến L/C cuối cùng + Loại L/C tuần hoàn không tích lũy: Là loại L/C tuần hoàn không cho phép chuyển số dư của L/C trước vào L/C sau. 8. Thư tín dụng giáp lưng (back to back L/C): Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ, được mở ra sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở cho mình hưởng, người xuất khẩu dùng L/C này để thế chấp mở một L/C khác cho người hưởng lợi khác hưởng với nội dung gần giống như L/C ban đầu. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 8 L/C này có một số điểm khác so với L/C ban đầu là: - Số chứng từ của L/C giáp lưng nhiều hơn L/C gốc. - Kim ngạch L/C giáp lưng nhiều hơn L/C gốc, khoản chênh lệch này do người trung gian hưởng, dùng để trả chi phí mở L/C giáp lưng và phần hoa hồng của họ. - Thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng sớm hơn L/C gốc. - Nghiệp vụ thư tín dụng giáp lưng rất phức tạp, nó đòi hỏi hải có sự kết hợp khéo léo và chính xác các điều kiện của L/C gốc với L/C giáp lưng, nhất là các vấn đề có liên quan đến vận đơn và các chứng từ hàng hoá khác. 9. Thư tín dụng dự phòng (standby L/C ) Là loại thư tín dụng được mở nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà nhập khẩu trong trường hợp đơn vị xuất khẩu không giao hàng theo đúng hợp đồng. Đơn vị nhập khẩu yêu cầu đơn vị xuất khẩu mở một thư tín dụng dự phòng qui định rằng nếu đơn vị xuất khẩu không thực hiện hợp đồng, ngân hàng mở tín dụng dự phòng sẽ thanh toán tiền đền bù thiệt hại cho đơn vị nhập khẩu. Ngoài ra thư tín dụng dự phòng còn được sử dụng trong đấu thầu quốc tế và đầu tư quốc tế sử dụng phổ biến ở Mỹ, Nhật… và một số nước mà các ngân hàng không thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh. 10. Thư tín dung đối ứng (Reciprocal L/C) Là loại thư tín dụng chỉ bắt đầu có hiệu lực khi thư tín dụng đối ứng với nó đã được mở ra, nghĩa là khi nhận được L/C do nhà nhập khẩu mở thì nhà xuất khẩu phải mở L/C đối ứng thì L/C đó mới có giá trị. Trong L/C ban đầu thường phải ghi: “L/C này chỉ có giá trị khi người hưởng lợi đã mở một L/C đối ứng” và trong L/C đối ứng phải ghi: “L/C đối ứng với L/C số:… mở ngày:… qua ngân hàng”. Thư tín dụng này thường được sử dụng trong phương thức mua bán hàng đổi hàng. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 9 11. Thư tín dụng với điều khoản đỏ (Red clause L/C) Là loại thư tín dụng có điều khoản đặc biệt, trước đây được ghi bằng mực đỏ ở điều khoản đặc biệt này. Thông thường trong điều khoản đặc biệt, người mở L/C cho phép tổ chức xuất khẩu được quyền tháo khoán trước một số tiền nhất định trước khi giao hàng. 12. Thư tín dụng có điều khoản T/TR (Telegraphic transfer Reimbursement ) - Là loại thư tín dụng thông thường nhưng trong thư có quy định: Cho phép Ngân hàng phuc vụ người hưởng lợi sau khi kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ, phù hợp với điều kiện đã quy định trong L/C thì được phép điện đòi tiền Ngân hàng mở L/C hay một Ngân hàng chỉ định trong thư tín dụng. 13. L/C có thể chuyển nhượng được (Irrevocable Transferable L/C) Là loại L/C không thể huỷ bỏ, trong đó quy định quyền được chuyển nhượng một phần hay toàn bộ trị giá L/C cho một hay nhiều người theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên. Tuy nhiên, việc chuyển nhượng chỉ được phép tiến hành một lần. Do đó, nó không thể được chuyển nhượng theo yêu cầu của người hưởng lợi thứ hai cho bất kỳ người hưởng lợi nào khác. Trong trường hợp người thứ hai không giao hàng hoặc không giao đúng hạn hàng hay chứng từ không hoàn hảo, thì người hưởng lợi thứ nhất phải chịu trách nhiệm về phía bên xuất khẩu theo hợp đồng đã ký. Và chi phí chuyển nhượng cũng do người hưởng lợi đầu tiên thanh toán. - L/C này được sử dụng khi mua hàng qua các đại lý, mua hàng qua trung gian, hàng do các công ty con, chi nhánh giao nhưng công ty mẹ là người hưởng lợi. - Mục đích của thư tín dụng này là nhằm giúp cho các nhà xuất khẩu tiến hành các dịch vụ xuất khẩu mà không cần đến vốn của mình. Cụ thể như trong trường hợp nhà xuất khẩu không đủ tiền mua hàng hóa từ một nhà cung cấp để bán hàng đó cho một người mua cuối cùng, nhà xuất khẩu này yêu cầu nhà nhập khẩu đề nghị Ngân hàng mở phát hành một thư tín dụng không huỷ bỏ chuyển nhượng cho nhà xuất khẩu hưởng. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 10 I.2.. Quy trình tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ trong xuất nhập khẩu của Ngân hàng thương mại I.2.1. Quy trình mở thư tín dụng: Sơ đồ 1. Biểu diễn phương thức tín dụng chứng từ: (4) NH-DV Nhà nhập khẩu (1) Nhà xuất khẩu (8) (3) (9) L/C (5) (2) L/C Ngân hàng mở (6) (7) Ngân hàng thông báo Bước 1: Căn cứ vào hợp đồng mua bán ngoại thương (hoặc hoá đơn chào hàng) tổ chức nhập khẩu viết đơn xin mở tín dụng gởi đến ngân hàng phục vụ mình (nơi đơn vị mở tài khoản ngoại tệ) để yêu cầu Ngân hàng mở một thư tín dụng cho người bán, người xuất khẩu hưởng. Khi viết đơn xin mở thư tín dụng đơn vị nhập khẩu cần chú ý đến nhưng điểm sau: - Viết đúng nội dung theo mẫu đơn xin mở thư tín dụng do Ngân hàng mở thư tín dụng ấn hành . - Tổ chức xuất khẩu cần phải thận trọng và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi đưa ra những điều kiện ràng buộc bên xuất khẩu vào thư tín dụng, làm thế nào để vừa đảm bảo được quyền lợi của mình, vừa để bên xuất khẩu có thể chấp nhận được. - Khi viết đơn xin mở thư tín dụng, đơn vị phải tôn trọng những điều kiện trên hợp đồng tránh tình trạng mâu thuẫn trái ngược nhau. Tuy nhiên, PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 11 khi cần điều chỉnh hợp đồng thì cũng có thể thay đổi một số nội dung đã ký trên hợp đồng. - Đơn xin mở thư tín dụng sẽ được viết tối thiểu là hai bản. Sau khi Ngân hàng đóng dấu, ký xác nhận và gởi trả lại cho đơn vị một bản. - Đơn xin mở tín dụng là cơ sở pháp lý để giải quyết vấn đề tranh chấp giữa người xin mở thư tín dụng với Ngân hàng mở thư tín dụng và là cơ sở để Ngân hàng viết thư tín dụng gởi cho bên xuất khẩu. Bên cạnh đơn xin mở thư tín dụng, tổ chức nhập khẩu còn phải gởi kèm theo đơn các chứng từ quan trọng sau đây: - Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp. - Giấy phép nhập khẩu lô hàng hoặc quota nhập. - Hợp đồng thương mại. Bước 2: Căn cứ vào yêu cầu xin mở thư tín dụng của tổ chức nhập khẩu và các chứng từ có liên quan. Nếu đồng ý Ngân hàng trích tài khoản đơn vị mở tài khoản tín dụng (ký quỹ 100 % trị giá thư tín dụng trong trường hợp thanh toán ngay hoặc X % trị giá thư tín dụng trong trường hợp thanh toán có kỳ hạn). Sau đó, Ngân hàng viết thư tín dụng gởi cho tổ chức xuất khẩu thông qua Ngân hàng thông báo tại nước xuất khẩu. Việc mở thư tín dụng qua bên xuất khẩu có thể thực hiện bằng đường hàng không bưu chính hoặc bằng diện tích(telex ), bằng hệ thống Swift. Bước 3: Khi nhận được thông báo này, Ngân hàng thông báo sẽ kiểm tra tính chân thật bề ngoài của L/C và thông báo cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở thư tín dụng đó, và khi nhận được bản gốc thư tín dụng, thì chuyển ngay cho người xuất khẩu. Nếu Ngân hàng thông báo từ chối thông báo L/C thì phải báo ngay quyết định đó cho ngân hàng phát hành, không được chậm trễ. I.2.2. Quy trình thanh toán thanh toán thư dụng chứng: Bước 4: Tổ chức xuất khẩu nhận được thư tín dụng do Ngân hàng thông báo gửi đến, tiến hành kiểm tra, dịch thuật, đối chiếu với hợp đồng PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 12 mua bán ngoại thương đã ký trước đây. Đây là khâu quan trọng đối với tổ chức xuất khẩu vì thư tín dụng có thể giống hợp đồng và cũng có thể khác hợp đồng nhưng khi thanh toán thì phải thực hiện điều khoản của tín dụng. Vì vậy sau khi kiểm tra chặt chẽ L/C nếu đồng ý thì tiến hành cho bên nhập khẩu nếu không đồng ý thì đề nghị bên nhập khẩu điều chỉnh hoặc bổ sung thêm cho đến khi hoàn chỉnh thì mới giao hàng. Những nội dung quan trọng cần kiểm tra trên thư tín dụng: -Thời gian mở L/C: Thông thường L/C được bên nhập khẩu mở trước ngay giao hàng một thời gian nhất định, để bên xuất khẩu có đủ thời gian cần thiết chuẩn bị hàng hoá gửi đi. Nếu L/C được mở sớm thì có lợi cho bên xuất khẩu để gửi hàng đi. Nhưng ngược lại, nếu bên nhập khẩu mở sớm quá trước ngày giao hàng thì vốn của họ bị ứ đọng vì khi mở L/C tổ chức nhập khẩu phải ký quỹ một phần hay toàn bộ giá trị kim ngach L/C. Vì vậy thời gian mở L/C cần phải hợp lý cho cả hai bên xuất khẩu và nhập khẩu. -Ngân hàng mở L/C: Ngân hàng mở L/C là ngân hàng cam kết, bảo đảm việc thanh toán cho tổ chức xuất khẩu, vì vậy tổ chức xuất khẩu cần xem xét người đảm bảo (Ngân hàng mở L/C) có uy tín hay không, trách nhiệm cam kết thanh toán có rõ ràng, cụ thể không… -Loại thư tín dụng: Thư tín dụng có nhiều loại: thư tín dụng có thể huỷ bỏ (Revocable letter of credit), thư tín dụng không thể huỷ bỏ (Irrevocable letter of credit), thư tín dụng không thể huỷ bỏ có xác nhận (confirmed irrevocable letter of credit), thư tín dụng chuyển nhượng ( Transferable letter of credit)… -Thời hạn hiệu lực: Tất cả thư tín dụng đều quy định ngày cuối cùng có hiệu lực cho việc xuất trình chứng từ để thanh toán. Nếu tổ chức xuất khẩu sau khi giao hàng, xuất trình bộ chứng từ thanh toán vượt qua ngày giá trị cuối cùng của thư tín dụng thì sẽ không chấp nhận thanh toán. -Kim ngạch thư tín dụng : Được định mức bằng một số tiền nhất định. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 13 Theo UCP 500: Trừ khi một tín dụng quy không được giao hàng nhiều hơn hay ít hơn số lượng hàng quy định, thì một dung sai 5% hơn hoặc kém có thể được chấp nhận, miễn là lúc nào số tiền của các lần thanh toán cũng không được vượt quá số tiền của tín dụng. Dung sai này không được áp dụng khi tín dụng quy định số lượng tính bằng một số đơn vị bao kiện hoặc một số đơn vị chiếc. -Địa điểm nhận hàng: Thông thường hàng hoá được gửi trên tàu từ một cảng nước xuất khẩu đến một hay nhiều cảng do nhà nhập khẩu quy định trong thư tín dụng. -Bộ chứng từ thanh toán: Tổ chức xuất khẩu cần cẩn thận, nghiên cứu tổ chức nhập khẩu yêu cầu xuất trình những chứng từ loại nào, ai cấp, bao nhiêu bản. Tự thấy khả năng có thể đáp ứng đầy đủ được hay không. -Điều kiện về hàng hoá : Số lượng, chất lượng, quy cách hàng hóa. -Điều kiện về các loại phí như phí xác nhận, phi gửi chứng từ… Như vậy, tổ chức xuất khẩu khi nhận được thư tín dụng cần hết sức thận trọng kiểm tra, phân tích từng điều khoản để tiến hành giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán phù hợp với thư tín dụng. Chỉ cần sai một chi tiết nhỏ trong L/C thì sẽ không được thanh toán. Bước 5: Sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, tổ chức lập bộ chứng từ thanh toán theo đúng điều khoản trong thư tín dụng xuất trình cho Ngân hàng thông báo để yêu cầu thanh toán. Bước 6: Ngân hàng thông báo kiểm tra trên bộ mặt chứng từ một cách cân rthận và hợp lý. Nếu kiểm tra thấy không phù hợp thì yêu cầu nhà xuất khẩu sửa đổi và bổ sung cho phù hợp. Khi bộ chứng từ đã phù hợp với những điều khoản, điều kiện đã ghi trong L/C, thì chuyển bộ chứng từ cho Ngân hàng mở thư tín dụng. Thời gian kiểm tra chứng từ là hai ngày làm việc. Bước 7: Ngân hàng mở thư tín dụng kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với những điều kiện và điều khoản đã ghi trong L/C thì tiến hành trả PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 14 tiền(Hoặc chấp nhận thanh toán đối với L/C trả chậm) cho nhà xuất khẩu. Nếu không phù hợp thì Ngân hàng từ chối thanh toán (hoặc từ chối chấp nhận thanh toán đối với L/C trả chậm) và gửi trả lại bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu. Thời gian kiểm tra tại Ngân hàng mở L/C là bảy ngày làm việc. Nếu quá bảy ngày làm việc mà không thông báo gì về phía Ngân hàng mở L/C thì đương nhiên coi như Ngân hàng đồng ý thanh toán (hoặc chấp nhận thanh toán đối với L/C trả chậm) và có nhiệm vụ phải thông báo cho nhà xuất khẩu bằng phương tiện nhanh nhất. Bước 8: Ngân hàng mở L/C chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu và ghi nợ trên tài khoản của nhà nhập khẩu và báo có cho Ngân hàng thông báo. Bước 9: Ngân hàng thông báo L/C ghi có vào tài khoản của nhà xuất khẩu hoặc gửi hối phiếu đã chấp nhận thanh toán cho nhà xuất khẩu hoặc chiết khấu hối phiếu này theo yêu cầu của nhà xuất khẩu. I.3. Các ưu, nhược điểm khi sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ I.3.1. Đối với nhà xuất khẩu ( người hưởng lợi): v Ưu điểm: - Nhà xuất khẩu được đảm bảo nhận được số tiền tương ứng với hàng hóa mà họ đã cung ứng nếu xuất trình bộ chứng từ hợp lệ. Phương thức này bảo vệ người bán tránh được những rủi ro do những nguyên nhân bất khả kháng ngoài ý muốn hay lừa đảo từ đối tác. - Nhà xuất khẩu có thể được ngân hàng tài trợ xuất khẩu, do đó có vốn kịp thời để thu mua nguyên vật liệu để chế biến hàng hóa xuất khẩu. - Nhà xuất khẩu được chiết khấu bộ chứng từ, vì vậy thu hồi vốn nhanh chóng trước khi hàng hóa đến nơi để tiếp tục tham gia chu trình sản xuất kinh doanh mới. - Bằng sự bảo đảm, cam kết của ngân hàng thông qua việc phát hành thư tín dụng không hủy ngang, người bán không cần phải dựa vào thiện chí hay năng PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 15 lực của người mua để đạt được sự thanh toán. - Được ngân hàng khống chế bộ chứng từ không sợ mất quyền sở hữu về hàng hóa hay tốn chi phí vận chuyển hàng nếu làm đúng theo yêu cầu của L/C. v Nhược điểm: - Thủ tục của phương thức thanh toán L/C phức tạp, phải trải qua nhiều giai đoạn nên thời gian thanh toán lâu hơn so với các phương thức khác. - Nhà xuất khẩu phải lựa chọn loại thư tín dụng nào đảm bảo quyền lợi của mình nhiều nhất, đồng thời phải kiểm tra kỹ lưỡng những điều khoản trong L/C có phù hợp với hợp đồng đã thỏa thuận hay không và xem xét khả năng của mình có đáp ứng được các yêu cầu của L/C hay không để đảm bảo lập bộ chứng từ phù hợp với L/C. - Thủ tục phí và phí thanh toán cao. - Đối với phương thức này, đòi hỏi nhà xuất khẩu phải có kiến thức chuyên môn, đặc biệt phải hiểu biết về các quy định trong việc thanh toán quốc tế như về UCP, ISBP…Vì việc thanh toán có thể bị trì hoãn hay bị từ chối khi bộ chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình có bị bất hợp lệ hay không. Hay do không có kinh nghiệm trong buôn bán quốc tế, nhà xuất khẩu không phát hiện ra bẫy của người mở thư tín dụng, các điều khoản mập mờ, khó thực hiện, để nhằm lợi dụng sự không hợp lệ của bộ chứng từ để trì hoãn việc thanh toán hoặc ép giảm giá khi giá hàng hóa đó trên thị trường giảm. - Nhà xuất khẩu có thể gặp rủi ro do tình hình kinh tế, chính trị, luật pháp ở nước nhà nhập khẩu dẫn đến không thanh toán được tiền hàng hoặc do ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán. I.3.2. Đối với nhà nhập khẩu ( người mở L/C ): v Ưu điểm: - Nhà nhập khẩu nhận được số lượng, chất lượng hàng hóa tương ứng với số tiền đã thanh toán. - Có thể tận dụng được tín dụng của ngân hàng, đó là điều thiết yếu trong PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 16 kinh doanh quốc tế vì với khoảng cách vận chuyển xa thì dễ bị đọng vốn nếu phải ký quỹ toàn bộ giá trị của L/C. - Được ngân hàng giúp kiểm tra toàn bộ chứng từ. - Nếu bộ chứng từ do nhà xuất khẩu xuất trình bất hợp lệ, thì nhà nhập khẩu có quyền trì hoàn việc thanh toán hoặc nhà nhập khẩu cũng có thể dễ dàng lợi dụng việc đó để ép giảm giá đối với nhà xuất khẩu. v Nhược điểm: - Thủ tục phí và các chi phí thanh toán cao. - Nhà nhập khẩu cũng phải cẩn trọng khi làm đơn xin mở L/C, phải đưa ra những điều kiện vừa để cho nhà xuất khẩu có thể thực hiện được vừa để đảm bảo được quyền lợi của mình. - Nhà nhập khẩu cũng như nhà xuất khẩu phải có trình độ hiểu biết về kỹ thuật ngoại thương để cân nhắc nên đưa những điều khoản nào vào hợp đồng vừa đảm bảo quyền lợi cho nhà nhập khẩu vừa để nhà xuất khẩu có thể chấp nhận được. - Nhà nhập khẩu phải gánh chịu những rủi ro do chọn nhầm đối tác kinh doanh, chẳng hạn: Nhà xuất khẩu cố tình giao hàng không đúng như quy định trong L/C (thiếu về số lượng, kém về phẩm chất, sai về quy cách, v.v…) hay gian lận trong thương mại bằng việc lập chứng từ khống mà không thực hiện việc giao hàng. I.3.3. Đối với ngân hàng: v Ưu điểm: - Mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng từ việcthu được thủ tục phí và phí thanh toán cao. - Mở rộng nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng, nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng. - Thông qua nghiệp vụ của ngân hàng sẽ góp phần giúp đỡ các khách hàng xuất nhập khẩu của mình đồng thời thúc đẩy quá trình thanh toán quốc tế được phát triển. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 17 v Nhược điểm: - Một khi L/C không hủy ngang được phát hành, ngân hàng phải có trách nhiệm trong việc thanh toán đối với nhà xuất khẩu. - Rủi ro khi gặp phải những khách hàng (nhà nhập khẩu) kinh doanh không có hiệu quả, ngân hàng không thu hồi được vốn do đã đứng ra trả thay cho khách hàng (nhưng khách hàng lại không chịu nhận nợ vay bắt buộc với ngân hàng). - Khi gặp phải những bộ chứng từ giả mạo, nhưng trong phạm vi và khả năng của mình, ngân hàng lại không phát hiện ra được thì ngân hàng cũng phải chịu trách nhiệm. - Khi ngân hàng đóng vai trò là ngân hàng xác nhận, nhưng lại không xác định được uy tín của ngân hàng phát hành, thì nếu việc thanh toán đã được thực hiện xong nhưng ngân hàng phát hành không có khả năng thanh toán thì ngân hàng cũng phải tự chịu trách nhiệm. I.4. Một số rủi ro trong việc thực hiện thanh toán theo phương thức L/C. Thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng phổ biến do những ưu điểm, đảm bảo an toàn trong việc thanh toán. Tuy nhiên, khi sử dụng phương thức thanh toán này không phải không gặp những rủi ro và bất cập. Dưới đây xin được trình bày một số rủi ro thường gặp đối với các bên tham gia vào phương thức thanh toán này: I.4.1. Đối với người Xuất khẩu Tình trạng chứng từ xuất trình lần đầu luôn bị từ chối vì sai sót luôn xảy ra thường xuyên đến nỗi nhà xuất khẩu khẳng định rằng sai sót chứng từ là một phần tất yếu của giao dịch L/C và ngược lại giao dịch bằng L/C luôn ẩn chứa rủi ro sai sót chứng từ. Trong L/C luôn có các quy định về các loại chứng từ xuất trình, đòi hỏi phải phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C, nếu chỉ một chứng từ không phù hợp thì bộ chứng từ sẽ bị từ chối thanh toán hoặc bị các nhà nhập khẩu lợi dụng để trì hoãn việc thanh toán hay ép giảm giá. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 18 Trong thực tế đã có nhiều nhà xuất khẩu Việt Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa nói riêng ,than phiền rằng thanh toán theo phương thức L/C vừa nhiêu khê, vừa tốn kém. Nhiêu khê là vì chứng từ xuất trình theo L/C phải phù hợp nghiêm ngặt với các điều kiện và điều khoản của L/C- một công việc đòi hỏi nhiều công sức nhưng không phải lúc nào cũng hoàn hảo. Còn tốn kém thì không thể nói trước được, ngoài phí thông báo hoặc tu chỉnh L/C, nhà Xuất khẩu còn bị khấu trừ phí sai sót, các khoản phí liên quan đến việc xử lý chứng từ sai sót, phần lãi vay/chiết khấu mà nhà Xuất khẩu phải trả cho ngân hàng trong thời gian chờ thanh toán…Đó là chưa kể đến những sai sót chứng từ có thể trở thành cái cớ để nhà Nhập khẩu thương lượng giảm giá hoặc từ chối thanh toán hẳn khi giá hàng hóa giảm mạnh. Nguyên nhân của những sai sót chứng từ xuất trình L/C có thể kể ra như sau: - Do thiếu hiểu biết một cách đầy đủ về những quy định chứng từ của UCP -500. - Do không có quy trình nội bộ đầy đủ: không có sự phối hợp đồng bộ giữa các phòng ban. - Do nhà xuất khẩu chủ quan cho rằng thanh toán theo L/C là chắc chắn sẽ được thanh toán mà đôi khi không quan tâm đến việc kiểm tra L/C một cách cẩn thận. - Nhà Xuất khẩu quá tin vào người mua: Lòng tin của nhà Xuất khẩu đôi khi cũng bị đặt nhầm chỗ khi họ tin rằng người mở L/C sẽ không lợi dụng những sai sót chứng từ để từ chối thanh toán. Chính sai lầm này đã dẫn đến việc họ không mấy quan tâm tới việc cần phải lập chứng từ phù hợp một cách nghiêm ngặt. Để giải quyết được rủi ro này và giúp nhà Xuất khẩu có thể lập chứng từ phù hợp với với L/C, tránh được những sai sót. Sau đây là các bước để thực hiện quy trình xử lý L/C xuất khẩu: PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 19 Bước 1: Tổ chức và cùng phối hợp với các phòng ban để thực hiện hoạt động xuất khẩu. Bước 2: Đàm phán các điều kiện L/C: Nên đưa ra hoặc chấp nhận những điều kiện mà mình có khả năng thực hiện. Bước 3: Kiểm tra L/C: Nhà XK nên yêu cầu tu chỉnh nếu L/C không đúng với các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng. Bước 4: Lập kế hoạch tuân thủ: Nhà xuất khẩu phải có kế hoạch thực hiện giao hàng, lập chứng từ, xuất trình chứng từ và tổ chức thực hiện. Bước 5: Lập và chuẩn bị các chứng từ: Cần có đội ngũ cán bộ nhân viên đủ năng lực, trình độ hiểu biết để thực hiện công việc này. Bước 6: Tự kiểm tra chứng từ trước khi xuất trình: Để ngăn ngừa những lỗi mà người mua có thể dựa vào đó để từ chối hoặc kéo dài thời gian thanh toán. Bước 7: Xuất trình chứng từ kịp thời: Xuất trình đúng thời gian quy định. Bước 8: Kiểm soát và giám sát thường xuyên: Nhà xuất khẩu phải giám sát tiến độ thực hiện và và kiểm soát những yếu tố có thể gây trì hoãn việc lập và xuất trình chứng từ kịp thời. Nhà xuất khẩu phải liên hệ với người mua và ngân hàng người mua về việc gia hạn những thời hạn cuối cùng và luôn ghi nhớ những thời hạn cuối cùng đó để có kế hoạch và thực hiện phù hợp. b) Rủi ro khi trong L/C quy định cần sự cấp phép của một tổ chức trung gian thứ ba: Điều này có nghĩa là, khi nhà xuất khẩu xuất hàng sang một nước khác thì cần phải có sự chấp nhận của một tổ chức trung gian. c) Khi ngân hàng thanh toán rơi vào những trường hợp bất khả kháng như chiến tranh, đình công, nổi loạn, khởi nghĩa, lụt lội, động đất, hảo hoạn,.v.v…Nếu L/C hết hạn giữa lúc đó, Ngân hàng không chịu trách nhiệm thanh toán những bộ chứng từ gửi vào dịp đó. Và như vậy thì nhà xuất khẩu sẽ không được thanh toán trong khi hàng hóa đã giao xong. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 20 d) Chiết khấu chứng từ: Trường hợp chiết khấu truy đòi, người xuất khẩu phải cam kết hoàn trả số tiền mà Ngân hàng Ngoại thương đã chiết khấu trong trường hợp ngân hàng mở nước ngoài đã từ chối thanh toán. e) Rủi ro khi có những hạn chế ngoại hối của nước người mua. I.4.2. Rủi ro đối với người mua/nhà nhập khẩu: a) Toàn bộ giao dịch từ việc người mua làm đơn xin mở L/C cho người Xuất khẩu hưởng đến việc xuất trình bộ chứng từ của người Xuất khẩu, việc kiểm tra L/C và thanh toán L/C đều được thực hiện trên cơ sở các chứng từ chứ không hề biết đến hàng hoá như thế nào, chất lượng, mẫu mã ra sao, có đúng với yêu cầu của hợp đồng hay không. Khi Ngân hàng mở L/C kiểm tra chứng từ thấy phù hợp với các điều kiện, điều khoản của L/C thì tiến hành thanh toán và buộc người mua phải trả tiền hoặc nếu không có khả năng thanh toán thì ký chấp nhận nợ. Nhưng thực tế khi nhận hàng thì hàng hóa lại không đúng như quy định trong hợp đồng, không đúng như quy định trong L/C về chất lượng, mẫu mã, hàng không đạt tiêu chuẩn… b) Người xuất khẩu phối hợp với Ngân hàng thông báo lừa đảo để lấy tiền của nhà nhập khẩu. Sau khi lấy được tiền, nhà xuất khẩu sẽ tự giải thể, phá sản hoặc bỏ trốn. Nhà xuất khẩu chỉ bằng cách lập một bộ chứng từ hoàn hảo gửi cho Ngân hàng mở L/C thông qua Ngân hàng thông báo xin thanh toán, và Ngân hàng mở L/C chỉ kiểm tra xem bộ chứng từ có phù hợp với quy định của L/C hay không, nếu phù hợp thì tiến hành thanh toán. Nhưng thực tế là không có hàng hóa vận chuyển về nước người mua, hoặc hàng giả, hàng xấu. c) Rủi ro trong quá trình vận chuyển hàng hóa: Trong quá trình vận chuyển hàng hóa, thì có thể xảy ra các rủi ro như mất mát, hư hỏng hàng hoá do phát sinh hỏa hoạn, thiên tai, chiến tranh… d) Rủi ro khi đất nước người nhập khẩu có các sự kiện như chiến tranh, đình công, bạo loạn… Những sự kiện này đều có tác động đến việc thực hiện PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
- Xem thêm -