Thực trạng cổ phần hóa các ngân hàng thương mại ở nước ta

  • Số trang: 21 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh Tiểu luận Thực trạng cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại ở nước ta Page 1 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh A. LỜI MỞ ĐẦU  Trong xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa hội nhập với nền kinh tế khu v ực và thế giới, một nhiệm vụ đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam là phải nâng cao nội lực để sẵn sàng đương đầu với những thử thách trước mắt. Một trong những biện pháp hữu hiệu đang được áp dụng rộng rãi đó chính là tiến hàng Cổ phần hóa; trong đó, khu vực kinh tế Nhà nước đặc biệt được chú trọng vì vai trò chủ đạo của nó. Vấn đề cổ phần hóa trong khu vực kinh tế quốc doanh đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần được quan tâm và giải quyết trong đó cổ phần hóa trong lĩnh vực Ngân hàng thương mại Nhà nước xem ra là gặp nhiều khó khăn nhất. Mục đích cổ phần hóa các ngân hàng thương mại Nhà nước là nhằm tăng cường năng lực quản trị điều hành và hiện đại hóa công nghệ ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh và sử dụng vốn; tăng cường năng lực tài chính bảo đảm an toàn hoạt động và phát triển của ngân hàng; nâng cao sức cạnh tranh của của các ngân hàng thương mại nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Trong phạm vi đề tài này, sẽ đi vào phân tích thực trạng cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại ở nước ta, từ đó đề xuất một số giải pháp đề việc cổ phần hóa trong lĩnh vực này đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế về kiến thức nên trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của Cô. Page 2 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh B. NỘI DUNG I. THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM. 1. Những thuận lợi trong quá trình cổ phần hóa các Ngân hàng thương mại Nhà nước ở Việt Nam. Có Sự trưởng thành và lớn mạnh của các ngân hàng thương mại Nhà nước. - Với thị phần tín dụng hơn 70%/tổng số ở trên thị trường trong nước, mỗi năm các NHTMNN đã đóng góp một lượng vốn quan trọng (70-80 ngàn tỷ đồng) cho phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế nước ta. - Đa dạng hóa nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng để phục vụ nhu cầu ngày càng đa dạng phong phú cho các khách hàng thông qua bảng 1 : Tổng hợp tình hình hoạt động dịch vụ ngân hàng trên địa bàn TP.HCM 2001 - 2004 dưới đây: (Đơn vị tính : Tỷ VNĐ, triệu USD) Dịch vụ ngân hàng 2001 2002 2003 2004 - Tổng huy động vốn 65.716 85.996 114.572 150.337 - Tốc độ tăng trưởng 16,9% 30,9% 33,2% 31,2% - Dư nợ cho vay 56.189 74.243 101.006 136.624 - Tốc độ tăng trưởng 17,5% 32,1% 36,0% 35,3% 1. Dịch vụ huy động vốn 2. Dịch vụ tín dụng 3. Dịch vụ thanh toán - Khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt 870.744 1.112.312 1.118.012 1.750.600 Trong đó : Page 3 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ + Thanh toán thẻ GVHD: GS.Bình Minh 204 7.900 9.039 11.430 + Thanh toán Sec 2.948 4.480 5.921 9.450 + UNT 33.269 43.035 35.641 44.064 + UNC 648.244 846.509 807.072 1.170.871 + Khác 156.079 197.689 260.339 514.785 + Số lượng tài khoản cá nhân 114.000 150.000 205.000 447.845 + Số dư tiền gửi tài khoản cá nhân 1.560 2.988 3.867 8.759 - Doanh số mua ngoại tệ 6.834 7.175 9.214 13.924 - Doanh số bán ngoại tệ 6.607 7.008 8.198 13.048 + Hàng nhập 5.098 5.177 6.944 9.016 + Hàng xuất 4.487 4.335 4.999 6.199 + Thu 5.152 4.533 5.286 6.708 + Chi 3.672 2.937 3.780 5.340 - Kiều hối 829 1.057 1.690 1.891 - Thu đổi ngoại tệ 906 1.283 1.324 1.537 (VNĐ, ngoại tệ quy VNĐ) 4. Dịch vụ ngoại hối - Thanh toán mậu dịch - Thanh toán phi mậu dịch Nguồn: Tổng hợp từ các báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước TP.Hồ Chí Minh 2001-2004. Page 4 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ a. GVHD: GS.Bình Minh Dịch vụ huy động vốn: Các NHTM đã có nhiều hình thức huy động vốn đa dạng và phong phú, với nhiều tiện ích như: Gửi 1 nơi rút nhiều nơi, lãi suất linh hoạt và hấp dẫn, chuyển khoản dễ dàng, thủ tục nhanh gọn, thuận tiện,… thu hút ngày càng khách hàng và người dân đến gửi tiền. Năm 2004 huy động vốn của các NHTM trên địa bàn đạt 150.337 tỷ đồng, tăng 31,2% so với năm 2003 và tăng 129% so với năm 2001. b. Dịch vụ tín dụng: Các NHTM, tổ chức tín dụng (TCTD) ngày càng phát triển với nhiều hình thức tín dụng như: tín dụng kích cầu, tín dụng tiêu dùng, tín dụng phục vụ phát triển nông thôn; đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư với nhiều hình thức đầu tư như: cho vay trực tiếp, tài trợ dự án, góp vốn, đầu tư các loại giấy tờ có giá,… Kết quả năm 2004 hoạt động tín dụng đạt 136.624 tỷ đồng, tăng 35,3% so với năm 2003 và tăng 143% so với năm 2001 . c. Dịch vụ thanh toán: Việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong hoạt động thanh toán đã tạo ra khả năng thanh toán nhanh, chính xác, an toàn và bảo mật và thu hút nhiều tổ chức kinh tế, khách hàng quan hệ giao dịch và thanh toán với ngân hàng. Tổng số lượng tài khoản cá nhân năm 2004 đạt 447.845 tài khoản, tăng gần 4 lần so với năm 2001, tốc độ mở rộng và phát triển tài khoản cá nhân trên địa bàn ngày càng tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng phát triển. d. Dịch vụ ngoại hối: Năm 2004, kết quả hoạt động ngoại hối như sau: e. - Tổng doanh số mua ngoại tệ đạt 13.924 triệu USD, tăng 47,7% so với năm 2003 và tăng 2 lần so với năm 2001. - Tổng doanh số bán ngoại tệ đạt 13.048 triệu USD, tăng 47% so với năm 2003 và tăng 97% so với năm 2001. - Thanh toán mậu dịch: Thanh toán hàng nhập đạt 9.016 triệu USD, tăng 32,4% so với năm 2003; thanh toán hàng xuất đạt 6.199 triệu USD, tăng 27,4% so với năm 2003. Bội chi thanh toán mậu dịch là : 2.817 triệu USD. - Thanh toán phi mậu dịch: Tổng thu đạt 6.708 triệu USD, tăng 19,1% so với năm 2003; tổng chi đạt 5.340 triệu USD, đạt 42,2% so với năm 2003. Bội thu thanh toán phi mậu dịch là 1.368 triệu USD. Dịch vụ ngân quỹ: Hoạt động dịch vụ ngân quỹ của các NHTM trên địa bàn ngày càng phát triển. Các NHTM tổ chức thu, chi hộ trực tiếp tại các công ty, tổ chức kinh tế tạo điều kiện cho khách hàng tiết kiệm thời gian và an toàn hơn trong việc thu chi. f. Page 5 of 21 Dịch vụ khác. Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh Dịch vụ ngân hàng điện tử (home banking, internet banking, ebanking,…), thẻ ngân hàng (ATM),… Sự phát triển các loại hình dịch vụ này sẽ tạo nhiều thuận lợi, tiện ích và an toàn cho khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các hoạt động dịch vụ khác trong nền kinh tế phát triển như: hoạt động thương mại điện tử, kinh doanh xuất nhập khẩu, du lịch dịch vụ,… - Việt Nam đã thiết lập được các quan hệ về chính trị, kinh tế, ngoại giao với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới như :hội nhập ASEAN, tham gia AFTA, ASEM, trở thành thành viên thứ 150 của WTO: tạo điều kiện để ngành ngân hàng học hỏi kinh nghiệm từ các nước đi trước trong quá trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước, tiếp thu trình độ quản lý, công nghệ của các quốc gia phát triển, các nước NICS. - Hệ thống ngân hàng trong nước phát triển với đội ngũ nhân viên trẻ năng động có nhiều tiềm năng, công nghệ thanh toán ngân hàngg không ngừng đuợc cải tiến theo hướng ứng dụng khoa học kỹ thuật thông tin, hàng loạt các dịch vụ ngân hàng hiện đại như : e- banking, phone banking, internet banking đã nhanh chóng triển khai tại một số ngân hàng. - Thị trường chứng khoán là sàn giao dịch tốt cho hoạt động chào bán cổ phiếu, trái phiếu huy động vốn của các ngân hàng thương mại nhà nước ra cho công chúng, các nhà đầu tư chiến lược…-.> thúc đẩy hoạt động cổ phần hóa của các ngân hàng thương mại nhà nước diễn ra nhanh chóng. 2. Những khó khăn trong quá trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam. a. Chính sách nhà nước. Xu hướng tất yếu khách quan ngày nay là hòa nhập kinh tế toàn cầu, gắn liền với quá trình tự do hóa thương mại và dòng vốn lưu chuyển không biên giới. Nếu tách biệt ra khỏi quá trình này, một quốc gia không thể đạt được sự phát triển cao và bền vững. Do đó để thu hút các nguồn lực từ bên trong cũng như bên ngoài vào phát triển nền kinh tế, nhà nước bắt buộc phải thay đổi. Từng bước xóa bỏ dần sự bảo hộ của nhà nước trong các doanh nghiệp nhà nước, đối xử ngang nhau cho mọi thành phần kinh tế. Khi gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết thực hiện trong lĩnh vực ngân hàng như sau: Page 6 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh - Các tổ chức tín dụng nước ngoài được thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới các hình thức như văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài; công ty tài chính liên doanh và 100% vốn nước ngoài, công ty cho thuê tài chính liên doanh và 100% vốn nước ngoài. Kể từ ngày 01/04/2007, ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập tại Việt Nam. - Các tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam được phép cung ứng hầu hết các loại hình dịch vụ ngân hàng theo mô tả trong Phụ lục về dịch vụ tài chính ngân hàng kèm theo Hiệp định GATS như cho vay, nhận tiền gửi, cho thuê tài chính, kinh doanh ngoại tệ, các công cụ thị trường tiền tệ, các công cụ phái sinh, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, cung cấp dịch vụ thanh toán, tư vấn và thông tin tài chính. - Các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi VNĐ không giới hạn từ các pháp nhân. Việc huy động tiền gửi VNĐ từ các thể nhân Việt Nam sẽ được nới lỏng trong vòng 5 năm theo lộ trình sau:  Ngày 1 tháng 1 năm 2007: 650% vốn pháp định được cấp.  Ngày 1 tháng 1 năm 2008: 800% vốn pháp định được cấp.  Ngày 1 tháng 1 năm 2009: 900% vốn pháp định được cấp.  Ngày 1 tháng 1 năm 2010: 1000% vốn pháp định được cấp.  Ngày 1 tháng 1 năm 2011: Đối xử quốc gia đủ Chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được phép mở các điểm giao dịch ngoài trụ sở chi nhánh, nhưng được giành đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc đầy đủ trong việc thiết lập và vận hành hoạt động các máy rút tiền tự động. Các tổ chức tín dụng nước ngoài sẽ được phép phát hành thẻ tín dụng trên cơ sở đối xử quốc gia kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO. Một ngân hàng thương mại nước ngoài có thể đồng thời mở một ngân hàng con và các chi nhánh hoạt động tại Việt Nam; Các điều kiện cấp phép đối với ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ dựa trên các qui định an toàn và giải quyết các vấn đề như tỷ lệ an toàn vốn, khả năng thanh toán và quản trị doanh nghiệp. Ngoài ra, các tiêu chí đối với chi nhánh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ được áp dụng trên cơ chế quản lý đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, bao gồm yêu cầu về vốn tối thiểu, theo thông lệ quốc tế đã được chấp nhận chung. Page 7 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh Các ngân hàng nước ngoài có thể tham gia góp vốn liên doanh với đối tác Việt Nam với tỷ lệ góp vốn không vượt quá 50% vốn điều lệ của ngân hàng liên doanh; Tổng mức góp vốn mua cổ phần của các tổ chức, cá nhân nước ngoài tại từng ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam không được vượt quá 30% vốn điều lệ của ngân hàng đó, trừ khi pháp luật Việt Nam có qui định khác hoặc được sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Để thu hút được các ngân hàng lớn, có uy tín vào hoạt động tại thị trường Việt Nam, trong cam kết cũng đã đưa ra yêu cầu về tổng tài sản có đối với tổ chức tín dụng nước ngoài muốn thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam (cam kết này cũng đã được thể chế hoá trong Nghị định số 22 ban hành ngày 28/02/2006), cụ thể để mở một chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam ngân hàng mẹ phải có tổng tài sản có trên 20 tỷ đô la Mỹ vào cuối năm trước thời điểm xin mở chi nhánh; mức yêu cầu tổng tài sản có đối với việc thành lập ngân hàng liên doanh hoặc ngân hàng con 100% vốn nước ngoài của ngân hàng nước ngoài là trên 10 tỷ đô la Mỹ; đối với việc xin phép mở công ty tài chính 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài hoặc công ty cho thuê tài chính liên doanh, các tổ chức tín dụng nước ngoài phải có tổng tài sản trên 10 tỷ đô la vào cuối năm trước thời điểm xin phép. b. Bản thân nội tại của các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam. Việt Nam đi lên từ các nền kinh tế chuyển đổi, thói quen trong chờ vào ngân sách nhà nước cấp phát cho các ngân hàng nhà nước. Việc cấp những khoản tín dụng có vấn đề tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp nhà nước mà bản thân các doanh nghiệp này hoạt động không hiệu quả gây thất thoát một số lượng lớn của nhà nước. Đó chính là mối quan hệ tam giác Nhà nước – doanh nghiệp nhà nước – ngân hàng thương mại nhà nước cực kỳ khó khăn. Chất lượng hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay cũng là một điểm yếu. Ví dụ nhu cầu sử dụng thẻ ATM trong dân chúng ngày càng tăng nhưng dịch vụ này chưa thỏa mãn hết nhu cầu của khách hàng cụ thể ở những điểm như sau: - Máy ATM thỉnh thoảng ngừng cung cấp dịch vụ. Page 8 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh - Trường hợp có sự cố xảy ra đối với hệ thống máy rút tiền tự động khách hàng có thể bị mất tiền trong tài khoản mà không có khả năng chứng minh việc mất tiền của mình. - Mật khẩu khi sử dụng thẻ ATM chỉ có 6 con số nên rủi ro cao nếu như người sử dụng bị mất thẻ. - Hầu hết hệ thống máy rút tiền tự động chưa được trang bị hiện đại chỉ có thể rút tiền chứ khách hàng không thể nạp tiền trực tiếp vào máy mà phải nộp trực tiếp tại ngân hàng mình có thẻ ngoại trừ ngân hàng Đông Á. - Việc chuyển tiền từ thẻ ATM của các ngân hàng khác nhau đều phải tốn một khoản phí nhất định và phải làm thủ tục tại ngân hàng. - Tốc độ liên kết hoàn hảo giữa các ngân hàng còn quá thấp -> thẻ ATM chưa có thể rút được tiền ở bất kỳ máy nào rút tiền nào cũng được. - Hiện tượng các máy rút tiền tự động nuốt thẻ của khách hàng trong thời gian qua đã gây không ít khó khăn và tổn thất cho khách hàng. - Hệ thống máy rút tiền tự động chỉ cho rút tiền VND. Ở các nước phát triển máy rút tiền có khả năng đổi tiền nội tệ thành đồng tiền ngoại tệ mạnh phục vụ cho các khách du lịch. Cơ chế lãi suất của Ngân hàng trung ương vẫn chưa có hiệu lực -> cần phải làm sao cho nó theo thông lệ quốc tế, theo quy luật của thị trường tiền tệ. Sắp xếp lại để tạo hiệu ứng lan truyền, truyền tải tới thị trường. Các chỉ số về hiệu quả kinh doanh ROA, ROE, CAR…chưa đạt chuẩn quốc tế, rủi ro trong công tác thẩm định cho vay vốn dẫn đến nợ xấu cao. Một ngân hàng được coi là hoạt động có hiệu quả khi suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) tối thiểu phải đạt từ 0,9-1% và được coi là đủ vốn khi hệ số đủ vốn (CAR) phải đạt tối thiểu 8%. Thế nhưng, năm 2003, ROA của bốn ngân hàng thương mại nhà nước (chiếm hơn 70% thị phần huy động vốn và tín dụng) chỉ khoảng 0,3%, hệ số đủ vốn vào cuối năm 2004 chưa vượt con số 5%. Nếu trích dự phòng rủi ro đầy đủ thì hai chỉ số này chắc chắn sẽ âm. Không những hoạt động kém hiệu quả, vấn đề chất lượng tín dụng và nợ xấu cũng là điều đáng báo động. Tuy tỷ lệ nợ xấu trong báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ là 2,85%, nhưng theo đánh giá của IMF và WB tại Việt Nam, Vụ trưởng Vụ Chiến lược phát triển ngân hàng cũng Page 9 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh như các chuyên gia nghiên cứu độc lập thì tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam phải chiếm từ 15-30% (con số tuyệt đối từ 45.000-90.000 tỉ đồng), cao hơn vốn điều lệ của các ngân hàng rất nhiều. Quy định về chuyển nợ quá hạn theo Quy chế cho vay 1627 của Ngân hàng Nhà nước, ban hành từ năm 2001, nhưng mãi vẫn chưa thực hiện được. Gần đây, người ta đã kỳ vọng rất nhiều vào Quy chế phân loại nợ, Quy chế phân loại tài sản có và trích lập dự phòng rủi ro được Ngân hàng Nhà nước ban hành vào đầu năm 2005 sẽ cho ra một kết quả phản ánh đúng thực trạng chất lượng tín dụng. Nhưng, sau khi phân loại nợ theo quy chế này, tỷ lệ nợ xấu lại giảm đi. Rủi ro trong công tác cho vay dẫn đến nợ tồn đọng khó có khả năng thu hồi lớn cũng như uy tín bị giảm sút nghiêm trọng trong các ngân hàng thương mại nhà nước lớn thể hiện ở chỗ. Công tác thẩm định dự án dễ dãi sa sút về đạo đức, thiếu trách nhiệm, tiêu cực của cán bộ tín dụng, buông lỏng quản lý đối với các khách hàng sản xuất kinh doanh thua lỗ, năng lực tài chính yếu kém, vốn nhỏ bé trong đó nhà, cửa đất đai lại chưa có giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền quản lý nhưng để có vốn hoạt động họ đã nâng khống vốn tự có rồi lập nhiều dự án, có cả dự án thuộc lĩnh vực mà họ chưa từng có kinh nghiệm để đi vay. Thực tế, nhiều tổ chức tín dụng không những đã quyết định cho vay mà còn nhận bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Một số trường hợp do tranh chấp dẫn đến không bán được tài sản. Lợi dụng sơ hở của tổ chức tín dụng, họ đã dùng các giấy tờ có liên quan đến tài sản đó làm bảo đảm tiền vay để đi vay. Mục đích của họ là thông qua việc vay vốn của tổ chức tín dụng để chuyển đổi từ tài sản bằng hiện vật sang tài sản bằng tiền mà không phải tốn kém thời gian công sức cho việc tranh chấp do bán tài sản. Do chủ quan, chỉ căn cứ vào các giấy tờ có liên quan rồi quyết định cho vay nên hậu quả là vốn vay bị sử dụng sai mục đích, muốn thu nợ ngân hàng chỉ còn cách phải xử lý tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, do không bán được, nên tài sản bị xuống cấp, mất giá gây thiệt hại cho ngân hàng. Do đặc thù của loại hình ngân hàng là tính rủi ro cao, thiệt hại cho vay là không thể tránh khỏi, thậm chí có trường hợp phải chấp nhận như rủi ro, tổn thất do thiên tai, dịch bệnh gây ra ví dụ như dịch cúm gia cầm đã gây chao đảo cho những nhà chăn nuôi vay vốn từ các nguồn vay tín dụng, khủng hoảng tiền tệ của một nước có thể lan sang các nước trong khu vực và thế giới… Page 10 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh Một số nơi không những chưa quan tâm đến xử lý cá nhân có sai phạm mà còn lạm dụng nguồn dự phòng để xử lý rủi ro. Phổ biến nhất là: khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp chưa bị giải thể, phá sản nhưng nợ tồn đọng của họ tại ngân hàng lại được xử lý rủi ro đưa ra khỏi nội bảng; vì vậy, không những sai quy định, phản tác dụng mà còn làm phát sinh tâm lý ỷ lại. Chính điều này, đã làm cho một số cán bộ có sai phạm chủ quan, chưa tích cực tìm biện pháp để khắc phục hậu quả do họ đã gây ra mà thường chờ đợi sự cứu giúp từ cấp trên. Vì thế, khoản vay này chưa khắc phục được thì khoản vay khác cũng sai phạm tương tự lại tiếp tục phát sinh làm cho tỷ lệ nợ xấu thực chất chiếm trong tổng dư nợ của một số tổ chức tín dụng luôn ở mức cao hơn rất nhiều so với mức cho phép. Xác định giá trị ngân hàng để xem sở hữu nhà nước còn nắm bao nhiêu trong ngân hàng. Nếu nợ xấu nhiều sẽ phải trừ khỏi giá trị doanh nghiệp và có thể Nhà nước sẽ mất vốn, thiệt đấy nhưng đây là hướng phát triển tất yếu để tăng khả năng huy động vốn trong công chúng, để kinh tế phát triển. Không thể trông chờ vào Nhà nước mãi được, không có Nhà nước nào lo vốn được cho các ngân hàng thương mại. Định giá doanh nghiệp là công việc phức tạp nhất trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nói chung và đặc biệt là đối với các ngân hàng thương mại nhà nước thể hiện thông qua những khó khăn dưới đây: - Việc xử lý nợ khó đòi: nợ khó đòi phải loại khỏi giá trị doanh nghiệp cổ phần. Nếu việc xác định nợ khó đòi theo các chuẩn mực quốc tế của một ngân hàng thương mại nào đó quá cao (chẳng hạn tới 20 - 30%) thì có còn hấp dẫn nhà đầu tư và liệu chủ sở hữu nhà nước có chấp nhận ? - Giá trị ngân hàng thương mại được cổ phần hóa có thể tăng thêm khi đánh giá lại tài sản cố định mà trước hết là nhóm bất động sản. Giá trị còn lại sau khi khấu hao của các trụ sở, văn phòng, tài sản xiết nợ nếu đã chuyển thành tài sản cố định của ngân hàng phải được tính lại theo giá thị trường chắc chắn sẽ tăng hơn vì giá trị danh nghĩa của chúng đã quá lỗi thời. Tuy vậy, liệu khung giá mới theo Luật Đất đai mới đã sẵn sàng và hợp lý hay chưa để có thể định giá lại ? - Vốn chủ sở hữu cũ nhà nước về nguyên tắc phải là vốn thực. Nhưng thực tế, qua 4 đợt tăng vốn bổ sung vừa qua, nhà nước đã cấp loại ''trái phiếu đặc biệt" cho các ngân hàng thương mại nhà nước. Về bản chất, đây chỉ là vốn danh nghĩa vốn ghi sổ nên chúng không thể tạo nên giá trị doanh Page 11 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh nghiệp. Vậy thì nhà nước có chấp nhận loại trừ vốn này khỏi giá trị doanh nghiệp để rồi sau khi cổ phần hóa vốn không tăng mà lại giảm không. Còn nếu không loại trừ thì nhà đầu tư liệu có chấp nhận ? - Tổ chức nào sẽ là tổ chức đánh giá lại doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa? Rõ ràng phải có các tổ chức kiểm toán độc lập làm việc này. Tuy vậy, có thể dự đoán trước được sự phức tạp sẽ xảy ra sau khi kết quả kiểm toán được hoàn thành mà trọng tâm là nhóm tài sản có là nợ khó đòi và nhóm tài sản nợ là vốn của chủ sở hữu Nhà nước. Hiện nay quy mô vốn hoạt động của một ngân hàng hạng trung bình trên thế giới khoảng 1 tỷ USD trở lên. Và để đủ năng lực trong cạnh tranh, các ngân hàng thương mại Nhà nước tại Việt Nam sau khi cổ phần hóa phải đạt quy mô vốn ít nhất tương đương với mức này, tức phải đạt 16.000 tỷ đồng. Trong đó Nhà nước nắm giữ 51% vốn, tức vốn Nhà nước phải đạt tối thiểu 8.160 tỷ đồng. Điều này sẽ khó thực hiện vì hiện nay vốn tự có của các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn còn rất thấp so với yêu cầu. Đây là một thách thức lớn cho các ngân hàng thương mại nhà nước khi tăng vốn điều lệ để cổ phần hóa. Theo phương án đưa ra, việc tăng vốn Nhà nước có thể bằng hai hình thức: - Một là giữ nguyên vốn Nhà nước hiện có tại các ngân hàng, xem đó là 51%, phần còn lại sẽ phát hành cổ phiếu thu hút thêm vốn từ các cổ đông trong và ngoài nước. Tuy nhiên phương án này gặp hạn chế ở việc huy động vốn bên ngoài bởi khi phần vốn Nhà nước còn quá thấp, số 49% huy động thêm cũng sẽ không đáng kể. Vì vậy, xác định tỷ lệ vốn Nhà nước theo phương án này sẽ gặp cản trở cho việc huy động vốn của ngân hàng cổ phần hóa. - Phương án thứ hai là bổ sung vốn Nhà nước để mức vốn điều lệ tăng đến đâu thì vốn Nhà nước cũng tăng đến đó để luôn giữ tỷ trọng 51%. Tuy nhiên phương thức này lại gặp trở ngại khác, hiện nay ngân sách Nhà nước còn nhiều khó khăn, không đủ vốn để luôn luôn duy trì tỷ lệ 51% khi mức vốn điều lệ tăng cao. Thứ hai là khi Nhà nước nắm giữ số cổ phần khống chế và có quyền chỉ định các vị trí điều hành then chốt, các vấn đề nhân sự, cơ chế hoạt động… như vậy về cơ bản sẽ chỉ là “bình mới rượu cũ”, hiệu quả hoạt động sẽ thấp. Cổ đông hưởng ứng vì lợi ích đem lại không đáp ứng được lợi ích của cổ đông, nhất là không đáp ứng được yêu cầu của Page 12 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh các nhà đầu tư nước ngoài. Quy định tỷ lệ của các cổ đông nước ngoài tối đa không quá 30% vốn điều lệ hiện chưa hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài tham gia. Các nhà đầu tư nước ngoài đang yêu cầu được tham gia 49% như với các doanh nghiệp cổ phần hóa. Năm 2005, Luật ngân hàng nhà nước và luật các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung nhưng trên thực tế, vẫn chưa theo kịp với tiến trình hội nhập. Quá trình cổ phần hoá ngân hàng có thể tiếp tục bị chậm trễ nếu như không có sự thay đổi “căn bản” về cơ chế trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích trong việc tham mưu ra quyết định, cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Nhiều khi, trong những trường hợp cần thiết, rất cần sự quyết đoán mạnh mẽ của người có thẩm quyền. Hiện thực trạng cho vay tái chấp vốn của ngân hàng nhà nước vẫn tồn tại một số hạn chế: - Thứ nhất là tên gọi công cụ “tái cấp vốn” đã gây nhầm lẫn cho nhiều người đọc, nhất là các nhà nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách nước ngoài thuộc các tổ chức tài chính quốc tế. Thuật ngữ “tái cấp vốn” được hiểu là ngân hàng nhà nước cấp/bổ sung vốn hoạt động cho các ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại nhà nước . Trong khi thực tế, hoạt động tái cấp vốn của ngân hàng nhà nước chỉ hỗ trợ tạm thời sự thiếu hụt về nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng và quan hệ tái cấp vốn ngày là quan hệ vay trả có thời hạn. Điều này làm giảm tính minh bạch trong hoạt động tái cấp vốn của ngân hàng nhà nước. - Thứ hai là hiệu lực can thiệp của công cụ này đến thị trường tiền tệ chưa cao và mối liên hệ giữa công cụ tái cấp vốn và tổng phương tiện thanh toán chưa rõ ràng. - Thứ ba là thời gian hoàn thành một đề nghị cho vay cầm cố giấy tờ cấp vốn của ngân hàng nhà nước còn dài. Đối với đề nghị vay vốn của các ngân hàng có trụ sở chính tại Hà Nội thì thời gian thực hiện từ khi nhận đủ hồ sơ đến khi vay vốn thường không quá 2 ngày làm việc, nhưng đối với các ngân hàng không có trụ sở chính tại Hà Nội thì thời gian này thường bị kéo dài ra, có khi lên tới 5 ngày làm việc. Đây là một trong những hạn chế Page 13 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh cơ bản của công cụ này, làm giảm tính chất hỗ trợ khẩn cấp của công cụ tái cấp vốn để bổ sung dự trữ của các ngân hàng. - Thứ tư là sự quan tâm và hiểu biết của hệ thống ngân hàng thương mại tới các nghiệp vụ tái cấp vốn không đồng đều và nhìn chung chưa cao. Các ngân hàng thường xuyên tiếp cận vốn nguồn vốn này với nguồn vốn này chỉ là 4 ngân hàng thương mại Nhà nước có trụ sở tại Hà Nội. Ngoài ra, các cán bộ nghiệp vụ của các ngân hàng thương mại còn lúng túng. Tuy ngân hàng nhà nước đã ban hành các quy chế về các công cụ tái cấp vốn và quy trình thực hiện khá rõ ràng, dễ hiểu nhưng các cán bộ này vẫn chưa nắm vững được nội dung cần thiết của bộ hồ sơ vay vốn, trình tự thực hiện nghiệp vụ. Tổng hạn mức chiết khấu đã phân bổ cho các ngân hàng chỉ đạt 6080% tổng hạn mức được phép sử dụng trong quý. Điều này thể hiện sự thiếu quan tâm của các ngân hàng đối với hình thực tái cấp vốn này. - Thứ năm, về cơ bản, không có nhiều khác biệt giữa hình thức chiết khấu có thời hạn và hình thức cầm cố giấy tờ cấp vốn có thời hạn. Tuy nhiên lãi suất áp dụng lại khác nhau. Mặt khác, hình thức chiết khấu giấy tờ cấp vốn của ngân hàng nhà nước trên thị trường mở. Điều này dẫn tới sự khác biệt không cần thiết trong việc tiếp cận các công cụ của ngân hàng nhà nước. Trong quá trình tiến hành cổ phần hóa ngân hàng cần phải xem xét đến ba đối tượng sau: (1) những người đại diện cho phần vốn nhà nước, (2) các nhà đầu tư chiến lược, và (3) những người điều hành doanh nghiệp. Mỗi đối tượng có mục đích, vai trò và nhiệm vụ hoàn toàn khác nhau: - Đối với những người đại diện cho phần vốn nhà nước và những người điều hành, nhiệm vụ được giao là hết sức rõ ràng nhưng gắn với nhiệm vụ là quyền lợi thu nhập cao và cơ hội thăng tiến. - Việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược là điều hết sức cần thiết trong tiến trình cổ phần hóa vì chỉ có những nhà đầu tư này mới có thể giúp các ngân hàng thương mại nhà nước khắc phục được hai trong ba điểm yếu lớn nhất là trình độ công nghệ và trình độ quản lý. Nếu không có họ, chắc chắn mục tiêu cuối cùng của tiến trình cổ phần hóa các ngân hàng sẽ khó mà đạt được. Mục tiêu của các nhà đầu tư chiến lược là trở thành tập đoàn tài Page 14 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh chính mạnh trên phạm vi toàn cầu: xây dựng một ngân hàng mạnh mang chính thương hiệu của mình. II. GIẢI PHÁP CỔ PHẦN HÓA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM. Theo các cam kết, khi gia nhập WTO, lĩnh vực ngân hàng sẽ được mở cửa dần theo lộ trình 7 năm. Ngành ngân hàng sẽ có những thay đổi cơ bản khi các tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàng Việt Nam. Đặc biệt, việc xuất hiện các ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam sẽ làm thay đổi mạnh cơ cấu thị phần. Khi trở thành thành viên WTO, trong lĩnh vực ngân hàng, Việt Nam phải gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phần của các định chế tài chính nước ngoài theo cam kết trong Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ. Đến năm 2008, Việt Nam sẽ phải “mở” toàn bộ các quy định về việc khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định khung về hợp tác thương mại dịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN. Tất cả những điều này đang gây nên một sức ép lớn đối với hệ thống ngân hàng trong nước, buộc các Ngân hàng phải tăng tốc thực hiện các kế hoạch nâng cao năng lực cạnh tranh để ngân hàng có thể đối mặt với những thách thức sống còn 1. Những giải pháp cần thực hiện trước và trong quá trình tiến hành cổ phần hóa. Tăng vốn tự có bằng các hình thức huy động từ thị trường qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu, Nhà nước bổ sung vốn, lợi nhuận để lại, nâng cao chất lượng tài sản hiện có… Việc tăng vốn tự có sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động kinh doanh, mở rộng thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển sản phẩm, dịch vụ mới. Đổi mới tổ chức và mạng lưới các chi nhánh NHTMNN một cách có hiệu quả. Nâng cao trình độ cán bộ trong các ngân hàng này để có thể đáp ứng được các đòi hỏi đặt ra trong tiến trình cổ phần hoá và hội nhập và đáp ứng tốt hơn các yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển tới. Xem xét đánh giá, xếp loại toàn bộ các khoản nợ xấu và tình hình tài chính của các NHTMNN theo thông lệ quốc tế. Thống kê đầy đủ mọi mặt về tài chính và hoạt động của các ngân hàng này theo chuẩn mực quốc tế để có thể đánh giá đúng thực Page 15 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh chất tiềm lực tài chính đến mức độ nào, hiệu quả hoạt động kinh doanh ra sao trước khi cổ phần, có các giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn chất lượng tín dụng kém và nợ xấu, nợ khó đòi tăng lên: - Ngăn ngừa những khoản cho vay có vấn đề và tổn thất tín dụng. - Nâng cao chất lượng quy trình thẩm định tín dụng để hạn chế phát sinh các khoản nợ xấu: xây dựng cẩm nang tín dụng cụ thể hoá quy trình tín dụng cũng như việc xây dựng một cơ sở dữ liệu thông tin liên kết giữa các ngân hàng. Mặt khác công tác bồi dưỡng cán bộ cũng không kém phần quan trọng để nâng cao tay nghề của nhân viên tín dụng khi thẩm định cho vay. - Quản lý nợ xấu phát sinh: thực hiện việc chuyển nợ quá hạn nghiêm túc và chặt chẽ, có cán bộ giám sát riêng. Xây dựng cơ chế ngăn chặn sự gia tăng nợ xấu phát sinh. Tiêu chí, cách thức phân loại nợ phải sát với thông lệ quốc tế để tiến tới hội nhập kinh tế quốc tế. Việc phân loại nợ cần gắn liền với việc phân tích, đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp vay vốn. Các NHTMNN chuyển giao toàn bộ số nợ tồn đọng dự kiến đưa vào diện loại trừ khỏi giá trị ngân hàng để cổ phần hóa sang cho Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) tiếp tục nắm giữ và xử lý. - Trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản nợ xấu: trong quá trình cho vay, khách hàng được phân loại theo nhiều cấp tuỳ thuộc vào khả năng trả nợ. Để có thể trích lập được dự phòng như trên, ngân hàng phải có hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ hoàn thiện và nâng cao năng lực tài chính để đảm bảo mức tăng lợi nhuận hàng năm ( do nguồn trích lập dự phòng rủi ro được tính vào chi phí hoạt động nên sẽ làm giảm lợi nhuận). Về cách thức tiến hành cổ phần hóa. Cổ phần hoá NHTMNN là những công việc lớn: mỗi lần phát hành cổ phiếu để thu hút vốn là hàng ngàn tỷ đồng (lớn hơn 200-300 doanh nghiệp có số vốn nhỏ hơn 5 tỷ đồng) và quy mô tác động của sự thành công rất lớn. Nếu có vấn đề không tốt trong tiến trình cổ phần hoá thì có thể làm phương hại đến toàn bộ nền kinh tế và làm rối loạn xã hội nên phải tiến hành từng bước thận trọng và chặt chẽ. Không áp dụng cơ chế Hội đồng đánh giá giá trị NHTMNN mà cần đấu thầu (không nên chỉ định) thuê công ty tư vấn nước ngoài có uy tín vào đánh giá các NHTMNN để làm căn cứ xác định cổ phần và phát hành cổ phiếu được phù hợp; Page 16 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh Trước mắt tiến hành cổ phần hoá một hoặc hai ngân hàng để rút kinh nghiệm, sau đó sẽ tiến hành cổ phần tiếp các NHTMNN khác. Rút kinh nghiệm việc cổ phần một số DNNN đã xác định giá quá thấp, lại bán nội bộ nên đã gây ra mất mát lớn cho Nhà nước. Phải xác định đây là tài sản của toàn dân với bao công sức mới có được, không thể để việc chuyển tài sản của nhà nước, của dân vào tay một số cá nhân (bài học ở Nga) một cách đơn giản, do đó cần tiến hành chặt chẽ, đúng luật, công khai và theo thị trường. Bán cổ phiếu để huy động vốn nên tuân theo nguyên tắc thị trường và trước mắt chỉ nên đấu thầu trên thị trường chứng khoán trong nước. Đồng thời bước đầu cũng chỉ bán cho khách hàng trong nước, không có ưu đãi cho bất cứ ai (kể cả lãnh đạo và cán bộ, công nhân viên các ngân hàng này, tức là không áp dụng bán cổ phần ưu đãi cho người lao động trong doanh nghiệp với mức ưu đãi là giảm 40% so với giá đấu thầu bình quân vì ngân hàng mang tính đặc thù) và cũng không nên để bất cứ khách hàng nào (cổ đông) có số vốn lớn hơn 10% cổ phần. Nhà nước nắm cổ phần chi phối và cổ đông nước ngoài thì tạm thời chưa cho phép mua cổ phần của các NHTMNN vì nhiều cổ đông nước ngoài gộp lại sẽ có tỷ lệ lớn (có thể bán tối đa không quá 30% như nhiều ý kiến đã nêu, nhưng phải để giai đoạn sau khi rút kinh nghiệm rồi mới bán) sẽ có thể chi phối hoạt động của ngân hàng và thông qua hoạt động ngân hàng chi phối làm mất ổn định nền kinh tế. Mà mất ổn định nền kinh tế thì hậu quả khó lường vì khả năng kéo theo mất ổn định chính trị-xã hội là rất lớn. 2. Những giải pháp cho sau cổ phần hóa. a. Ai là người quan trọng sau cổ phần hóa ? Sau khi cổ phần hóa, ba đối tượng đáng quan tâm nhất là: (1) những người đại diện cho phần vốn nhà nước, (2) các nhà đầu tư chiến lược, và (3) những người điều hành doanh nghiệp. Mỗi đối tượng có mục đích, vai trò và nhiệm vụ hoàn toàn khác nhau. Đối với những người đại diện cho phần vốn nhà nước và những người điều hành, nhiệm vụ được giao là hết sức rõ ràng, nhưng giống như bao nhiêu người khác, với bản chất duy lợi của con người mà kinh tế học đã chỉ ra, họ đều có hai mục tiêu cá nhân lớn nhất là thăng tiến và thu nhập cao. Đây chính là điều cần quan tâm nhất khi lựa chọn mô hình cũng như sử Page 17 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh dụng các công cụ quản trị doanh nghiệp, vì trong hầu hết các trường hợp, về dài hạn, người ta cũng chỉ vì hai mục tiêu này b. Lựa chọn nhà đầu tư chiến lược. Việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược là điều hết sức cần thiết trong tiến trình cổ phần hóa vì chỉ có những nhà đầu tư này mới có thể giúp các ngân hàng thương mại nhà nước khắc phục được hai trong ba điểm yếu lớn nhất là trình độ công nghệ và trình độ quản lý. Nếu không có họ, chắc chắn mục tiêu cuối cùng của tiến trình cổ phần hóa các ngân hàng sẽ khó mà đạt được. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là mục tiêu của các nhà đầu tư chiến lược là gì? Nếu tham khảo chiến lược của bất kỳ ngân hàng đa quốc gia nào, sẽ thấy mục tiêu của họ rất đơn giản và rõ ràng - trở thành tập đoàn tài chính mạnh trên phạm vi toàn cầu. Khi vào một nước nào đó, mục tiêu quan trọng nhất của họ là xây dựng một ngân hàng mạnh mang chính thương hiệu của mình. Câu hỏi đặt ra là liệu các tổ chức tài chính nước ngoài muốn ngân hàng mà họ tham gia sở hữu mạnh lên thực sự mà nó đồng nghĩa với việc bản thân họ sẽ yếu đi một cách tương đối, hay họ chỉ muốn chúng trở thành công cụ để đạt được mục tiêu cuối cùng của mình? Câu trả lời là tùy từng trường hợp. Khác với Trung Quốc, nguy cơ bị thâu tóm đối với các ngân hàng Việt Nam lớn hơn nhiều, vì quy mô của chúng ta rất nhỏ. Các tập đoàn tài chính quốc tế chỉ cần bỏ ra vài ba tỉ đô la là có thể khuynh đảo được một ngân hàng, thậm chí là cả hệ thống ngân hàng. Liên quan đến các nhà đầu tư chiến lược là bài học từ mô hình liên doanh ở Việt Nam. Việc chuyển từ công việc có thu nhập rất thấp ở doanh nghiệp trong nước sang liên doanh với mức lương ngất trời, nhưng vị trí lại phụ thuộc nhiều vào tiếng nói của đối tác làm cho nhiều người khó có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao. Kết quả các liên doanh thế nào đã được thể hiện. Nếu không có đối sách hợp lý, khi lựa chọn các nhà đầu tư chiến lược, xác suất rơi vào vết xe đổ của mô hình liên doanh là rất lớn. Chính động cơ khuyến khích đã làm cho người ta bảo vệ lợi ích của bên kia thay vì làm tròn bổn phận của mình. c. Page 18 of 21 Chọn công cụ quản trị doanh nghiệp phù hợp. Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh Để những người đại diện cho phần vốn nhà nước, những người điều hành doanh nghiệp thực sự vì mục tiêu làm gia tăng giá trị doanh nghiệp, chỉ có cách duy nhất là làm cho họ thấy có lợi khi đeo đuổi chúng. Nói cách khác là làm cho mục tiêu thăng tiến và có thu nhập cao cùng hướng với mục tiêu của công ty. Hai trong những công cụ thường được sử dụng nhất là quyền chọn mua cổ phiếu và quỹ khen thưởng. Đối với quyền chọn mua cổ phiếu, hiểu một cách đơn giản là doanh nghiệp sẽ thưởng cho những người điều hành quyền chọn mua cổ phiếu ở một mức giá nào đó trong tương lai. Nếu doanh nghiệp ăn nên làm ra, giá cổ phiếu lên, quyền chọn sẽ có giá trị, ngược lại, nó là một tờ giấy. Công cụ này sẽ khuyến khích những người điều hành cố gắng làm gia tăng giá trị doanh nghiệp. Đối với công cụ thứ hai, ngoài một mức lương đủ trang trải cho cuộc sống hàng ngày, doanh nghiệp nên lập ra quỹ khen thưởng dành cho những người điều hành với điều kiện khoản tiền thưởng này phải đủ lớn để làm động cơ khuyến khích và chỉ được lấy ra sau khi thôi điều hành, thậm chí là sau một thời gian thôi điều hành. Thêm vào đó, trong quá trình điều hành, nếu để xảy ra những tổn thất cho doanh nghiệp vì lý do khách quan thì khoản tiền thưởng này sẽ được dùng để bù đắp. Quỹ này có hai tác dụng. Thứ nhất, nó như cái lưới an toàn khi những người điều hành đưa ra những quyết định có tính rủi ro. Thứ hai, do là “của để dành” gắn trực tiếp với sự phát triển của doanh nghiệp nên những nhà quản lý vừa muốn giá trị doanh nghiệp gia tăng, vừa cân nhắc kỹ hơn khi đưa ra quyết định của mình, nhất là khi sắp thôi điều hành hay phần của họ trong quỹ đã kha khá. Thỉnh thoảng, các phương tiện đại chúng đưa tin một người thôi điều hành ở doanh nghiệp nào đó được nhận những khoản tiền khổng lồ là từ cơ chế này mà ra. Trong quản trị doanh nghiệp hiện đại, quyền chọn mua cổ phiếu và quỹ khen thưởng là hai trong những công cụ xử lý vấn đề giữa sở hữu và thừa hành tốt nhất. Để có thể có những ngân hàng mạnh như mong muốn, sau khi cổ phần hóa, các ngân hàng Việt Nam nên xem xét áp dụng công cụ này. Khi mục tiêu của những Page 19 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5 Tiểu luận tài chính tiền tệ GVHD: GS.Bình Minh người quản lý song hành với mục tiêu của doanh nghiệp thì những ảnh hưởng từ sự chi phối hay tác động của những đối tượng khác sẽ được giảm thiểu rất nhiều. d. Về Luật Pháp. Sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản pháp luật khác có liên quan để đảm bảo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trở thành Ngân hàng Trung ương hiện đại, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức tín dụng trong hoạt động kinh doanh, từng bước áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong hoạt động Ngân hàng đảm bảo hoạt động của các tổ chức tín dụng an toàn hiệu quả. Đổi mới căn bản hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng theo các chuẩn mực và nguyên tắc của Uỷ ban Basel, đảm bảo an toàn, minh bạch và hiệu lực của hoạt động ngân hàng cả trong điều kiện có sự tham gia thị trường của các định chế tài chính 100% vốn nước ngoài và sự xuất hiện ngày càng nhiều tập đoàn tài chính cũng như tiến trình tự do hoá nhanh hơn các giao dịch tài khoản vốn. Tạo lập mối quan hệ chặt chẽ giữa giám sát ngân hàng, giám sát bảo hiểm và giám sát thị trường chứng khoán dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và một ủy ban giám sát hệ thống tài chính của Chính phủ. Khẩn trương nghiên cứu từng bước đưa vào áp dụng các chuẩn mực quốc tế về thanh tra giám sát, về kế toán, kiểm toán; về quản lý rủi ro cũng như các chuẩn mực quản trị ngân hàng hiện đại... nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ về quy mô, công nghệ, nhân lực và trình độ quản lý hoạt động ngân hàng ngang tầm khu vực và quốc tế. Page 20 of 21 Nhóm 3 Cao học K16 Đêm 5
- Xem thêm -