Thực trạng chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Việt Yên – Bắc Giang

  • Số trang: 73 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 30 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế hoạt động của NHNo & PTNT Huyện Việt yên, Tỉnh Bắc Giang. Hà nội, ngày…tháng…năm…. Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Dung Nguyễn thị Dung 0 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng LỜI NÓI ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Sau khi gia nhập WTO, thị trường tài chính ngân hàng của Việt Nam trong vài năm qua đã trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Tính cạnh tranh giữa các ngân hàng trở nên khốc liệt. Khả năng huy động vốn tăng làm nâng cao khả năng cung ứng tín dụng cho thị trường. Các ngân hàng Việt Nam hiện đang theo xu hướng trở thành các ngân hàng đa năng hiện đại với phong cách chuyên nghiệp và danh mục sản phẩm đa dạng. Tuy nhiên, tín dụng vẫn là sản phẩm truyền thống mang lại doanh thu chủ yếu cho ngân hàng. Vai trò của tín dụng đối với nền kinh tế là không thể phủ nhận, nhưng khi nguồn lợi nhuận từ tín dụng càng lớn thì rủi ro ngân hàng phải đối mặt càng cao, thậm chí là nguy cơ phá sản. Năm 2009, có thể nói hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam thành công trong nhiều thách thức, lợi nhuận của các ngân hàng tăng mạnh, tăng trưởng tín dụng đạt tới 38%. Tuy nhiên, sang năm 2010 với thông điệp được đưa ra là kiểm soát tăng trưởng tín dụng dưới 25%, chính sách tiền tệ đang có xu hướng thắt chặt, sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng của các ngân hàng ngoại đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phải có những chiến lược kinh doanh thích hợp, những biện pháp thích hợp để phòng ngừa và hạn chế rủi ro. Tín dụng vẫn là sản phẩm mang lại nguồn lợi nhuận nhiều nhất đối với các ngân hàng. Do đó, một trong những vấn đề ngân hàng thương mại Việt Nam phải quan tâm hàng đầu hiện nay là nâng cao chất lượng tín dụng. Tuy trong năm vừa qua tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng là thấp nhưng với tốc độ tăng trưởng tín dụng mạnh thì việc tiềm ẩn rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi. Do vậy, cần phải nghiên cứu về chất lượng tín dụng nhằm tìm ra những giải pháp để hạn chế rủi ro tín dụng, nâng cao sức cạnh tranh cho các ngân hàng. 2.Mục đích nghiên cứu - Hệ thống hóa những nội dung cơ bản về tín dụng và chất lượng tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Nguyễn thị Dung 1 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng - Phân tích và đánh giá trực trạng chất lượng tín dụng tại chi nhánh NHNo & PTNT Việt Yên – Bắc Giang. - Xây dựng một hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh NHNo & PTNT Việt Yên – Bắc Giang nói riêng và các ngân hàng thương mại nói chung. 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ đề cập đến tín dụng ở góc độ thuần túy là cho vay, do giới hạn về thời gian nên em không thể nghiên cứu các phạm trù khác của tín dụng như: cho thuê, bảo lãnh… Đề tài nghiên cứu các lý luận chung, thực tiễn hoạt động và chất lượng tín dụng của các ngân hàng Việt Nam hiện nay và chủ yếu là phân tích tại NHNo & PTNT chi nhánh Việt Yên – Bắc Giang. 4.Phương pháp nghiên cứu Đề tài nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp: Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, thu thập thông tin và tổng kết thực tế. 5.Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu: Chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Việt Yên – Bắc Giang 6. Kết cấu của khóa luận Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận được kết cấu làm 3 chương như sau: Chương I. Nội dung cơ bản về tín dụng và chất lượng tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Chương II. Thực trạng chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Việt Yên – Bắc Giang. Chương III. Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Việt Yên – Bắc Giang. Nguyễn thị Dung 2 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng CHƯƠNG 1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. 1.1 NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên nữa vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Do vậy tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay thông qua sự vận động của giá trị được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hàng hóa. Những hành vi tín dụng này diễn ra liên tục nhưng thường không có sự trùng khớp giữa người cho vay và người đi vay, do đó mà xuất hiện ngân hàng với vai trò là cầu nối cho hai chủ thể trên và việc các tổ chức tín dụng tập trung vốn và cho vay lại nền kinh tế đó chính là tín dụng ngân hàng. 1.1.2 Đặc trưng của tín dụng ngân hàng Theo giáo trình lý thuyết tiền tề ngân hàng _HVNH_NXB Thống Kê 2005, xuất phát từ khái niệm tín dụng có thể thấy bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng cơ bản như sau: Thứ nhất, là quan hệ tín dụng mang tính chất tạm thời: Đối tượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hóa dưới hình thức kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hóa. Tính chất tạm thời của sự chuyển đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó. Nó là kết quả của sự thỏa thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó. Sự thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng có thể ảnh hưởng đến quyền lợi tài chính và Nguyễn thị Dung 3 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng hoạt động kinh doanh của cả hai bên dẫn đến nguy cơ phá hủy quan hệ tín dụng. Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó. Thứ hai, tính hoàn trả: Lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn cả về thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: gốc và lãi. Phần lãi đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời. Nói cách khác, nó là giá trả cho sự hi sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng đó. Thứ ba, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay: Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng. Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đúng hạn.Người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay. Sự gặp gỡ giữa người người đi vay và người cho vay về điểm này sẽ là điều kiện hình thành quan hệ tín dụng. Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay, do giá trị tài sản thế chấp và do sự bảo lãnh của người thứ ba. 1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế Tín dụng ngân hàng giữ vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế thường xuyên có sự không ăn khớp về thời gian nhàn rỗi vốn giữa chủ thể thiếu vốn và chủ thể thừa vốn. Cùng một lúc có chủ thể kinh tế tạm thời dư thừa vốn tiền tệ trong khi các chủ thể kinh tế khác lại có nhu cầu bổ sung vốn. Một số doanh nghiệp có một lượng tiền được tách ra khỏi quá trình sản xuất như: khấu hao tài sản cố định chưa sử dụng, tiền mua nguyên vật liệu nhưng chưa mua, tiền trả lương cho cán bộ công nhân viên nhưng chưa đến ngay trả, tiền trả cho người bán nhưng chưa đến hạn trả… một số cá nhân dư thừa tiền tạm thời chưa dùng đến nhưng lại có nhu cầu sinh lời mà chưa tìm được đối tượng cho vay hoặc muốn tìm một nơi sinh lời an toàn. Trong khi đó, một số doanh nghiệp cần tiền để mở rộng sản xuất đầu tư …một bộ phận dân cư lại cần vốn phục vụ cho nhu cầu cải thiện cuộc sống… Nguyễn thị Dung 4 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Thêm vào đó, không phải lúc nào những người đi vay cũng tìm được người có nhu cầu cho vay, và những người cho vay không phải lúc nào cũng tìm được người sẵn sàng vay vốn để người cho vay thu được khoản lãi kỳ vọng trong tương lai. Hơn nữa, hoạt động tín dụng trực tiếp này tốn rất nhiều chi phí và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho cả bên đi vay lẫn bên cho vay. Ngân hàng đóng vai trò là trung gian tín dụng, là cầu nối giữa người đi vay và người cho vay, giúp họ giảm thiểu rủi ro và chi phí, tiết kiệm thời gian tìm kiếm tín dụng. Dòng vốn chảy từ chủ thể thừa vốn sang chủ thể thiếu vốn giúp cho dòng vốn được luân chuyển liên tục không bị ứ đọng đem lại hiệu quả cho cả hai bên và cho cả ngân hàng. Điều này có nghĩa là ngân hàng sẽ đứng ra thu hút các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ nền kinh tế rồi sau đó lại cho vay lại nền kinh tế góp phần thúc đẩy tốc độ lưu thông hàng hóa và tái sản xuất xã hội. Mặt khác, thông qua tín dụng ngân hàng có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, thực hiên yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ. Tín dụng còn thúc đẩy các doanh nghiệp hạch toán kinh doanh cẩn thận để tăng cường hiệu quả và kiểm soát nguồn vốn cho vay sao cho có lợi nhất nhằm trả nợ ngân hàng trong tương lai, khai thác tốt nguồn vốn vay và có phương án kinh doanh phù hợp. Tín dụng ngân hàng là động lực đối với việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa. Tín dụng ngân hàng còn tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài thông qua các ngân hàng đại lý để phục vụ khách hàng quốc tế trong hoạt động thanh toán thẻ, cho vay các cá nhân và tổ chức nước ngoài…là cầu nối cho việc giao lưu kinh tế và phương tiện để thắt chặt mối quan hệ kinh tế giữa các nước trên thế giới. Như vây, tín dụng có vai trò góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội. Ngoài ra, tín dụng còn là kênh chuyển tải tác động của Nhà Nước đến các mục tiêu vĩ mô bao gồm: ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Việc bảo đảm đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô phụ thuộc một phần vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng như đối tượng tín dụng. Nguyễn thị Dung 5 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Vấn đề này lại phụ thuộc vào các điều kiện tín dụng như lãi xuất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương chính sách tín dụng trong từng thời kỳ. Tín dụng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế và ổn định các mặt về hoạt đông xã hội. Một nền kinh tế phát triển có thể được thể hiện bằng quy mô và chất lượng của các khoản tín dụng. 1.2 CHẤT LƯỢNG CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG. 1.2.1 Quan điểm về chất lượng tín dụng Các ngân hàng đóng vai trò như một trung gian tài chính bơm, hút vốn từ nền kinh tế. Đối với một doanh nghiệp, nếu chất lượng sản phẩm không tốt thì đơn thuần chỉ là doanh nghiệp đó phá sản nhưng khi một ngân hàng phá sản sẽ xảy ra hậu quả vô cùng to lớn trên thị trường tài chính, không chỉ ảnh hưởng đến hầu hết các ngân hàng khác như một sự ảnh hưởng dây chuyền mà theo đó còn kéo theo sự khủng hoảng của toàn bộ nền kinh tế. Thế nên vấn đề chất lượng tín dụng không chỉ là việc của riêng ngân hàng mà là vấn đề toàn xã hội quan tâm. - Đối với ngân hàng thương mại: Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng đó. Ở Việt Nam hiện nay, Ngân Hàng Nhà Nước đưa ra quy định về giới hạn và quy mô tín dụng đối với một khách hàng hay một nhóm khách hàng như sau: Theo quy định 457/2005/QĐ-NHNN ban hành ngày 19/4/2005, tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng và tổng dư nợ cho vay đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó, khả năng mở rộng danh mục đầu tư trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng khi mà tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu phải đạt 8% trở lên làm giảm khả năng sinh lời của ngân hàng nhưng điều này lại giúp cho các ngân hàng thương mại đảm bảo an toàn trong kinh doanh, nâng cao chất lượng tín dụng. Do hoạt động kinh doanh tiền tệ chứa đựng nhiều rủi ro nên ngân hàng thương mại phải chịu sự giám sát quản lý của ngân hàng nhà nước để tìm kiếm và quản lý danh mục cho vay sao cho phù hợp với thực lực và quy mô của ngân hàng mình. Nguyễn thị Dung 6 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng - Đối với khách hàng: Khi khách hàng đến với ngân hàng họ mong muốn được thỏa mãn nhu cầu vay của mình nhanh nhất và tốt nhất. Đối với khách hàng thì chất lượng tín dụng thể hiện ở mức lãi suất hợp lý, kỳ hạn phù hợp, thủ tục vay đơn giản và thuận tiện. Việc thủ tục rườm rà mất thời gian là điều không khách hàng nào mong muốn, họ muốn tiếp cận được nguồn vốn nhanh và thuận tiện nhất, chưa cần nói đến chi phí vay vốn cao hay thấp. - Đối với sự phát triển xã hội: Tín dụng nhằm cung ứng nguồn vốn phục vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác các khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế. Qua đó ta có thể thấy một vài điểm quan trọng sau: + Chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, chịu ảnh hưởng bởi những nhân tố chủ quan và khách quan. + Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh mức dộ thích nghi của ngân hàng với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, thể hiện khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong nền kinh tế. + Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: thủ tục, độ thu hút, độ an toàn, chi phí lãi… + Chất lượng tín dụng là kết quả của một quá trình kết hợp hoạt động giữa những con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức vì mục đích chung. Do đó để đạt được chất lượng cần có sự quản lý, kết hợp ăn ý giữa các nhân tố.Cần phải quản lý chất lượng đồng bộ, không chỉ nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng mà còn cải tiến tính hiệu quả và linh hoạt của toàn bộ cơ sở kinh doanh. Hiểu được đúng bản chất chất lượng tín dụng, phân tích và đánh giá đúng thực trạng chất lượng tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng tìm ra các giải pháp quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình. 1.2.2 Các chỉ tiêu sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng 1.2.2.1 Các chỉ tiêu định tính Nguyễn thị Dung 7 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Chất lượng tín dụng có thể được đánh giá thông qua các chỉ tiêu định tính, các chỉ tiêu này có thể phản ánh một phần thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng đó. Một là: việc chấp hành pháp luật của ngân hàng như: Luật NHNN, luật các tổ chức tín dụng, việc chấp hành văn bản chỉ đạo của nhà nước, Chính phủ và của ngân hàng, chấp hành quy chế, quy trình nghiệp vụ, chế độ, thể lệ tín dụng trong quá trình thực hiện quy trình cho vay. Khi thực hiện nghiệp vụ tín dụng, các ngân hàng phải tuân thủ các điều kiện, các nguyên tắc theo quy định của nhà nước và của thống đốc NHNN. Các nguyên tắc và điều kiện tín dụng không tách rời nhau do đó việc coi nhẹ bất kỳ một nguyên tắc nào, một điều kiện nào cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Hai là : Quy trình tín dụng Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tín dụng. Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng. Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn mang tính liên hoàn, theo trật tự nhất định, có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau. ( Theo giáo trình Tín dụng ngân hàng – Học Viện Ngân Hàng – NXB Thống Kê 2001) Việc cấp tín dụng được coi như hoạt động kinh doanh đặc biệt của ngân hàng và xem như một thể thống nhất của hàng loạt hoạt động tác nghiệp của nhiều người và có quan hệ đến hệ thống kiểm soát của ngân hàng và các cơ quan quản lý của ngân hàng. Theo đó, quy trình tín dụng có thể chia thành các giai đoạn: lập hồ sơ, thẩm định tín dụng, quyết định tín dụng, giải ngân, giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng. Chất lượng tín dụng có tốt hay không phụ thuộc nhiều vào việc một quy trình tín dụng có hợp lý và chặt chẽ hay không. Việc xây dựng một quy trình tín dụng phù hợp sẽ giúp cho việc cấp tín dụng dễ dàng và kiểm soát được rủi ro. Ban quản trị có nhiệm vụ xây dựng cho ngân hàng mình một quy trình tín dụng hoàn hảo, các cán bộ tín dụng cần thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình để có cơ sở chắc chắn trong việc ra quyết định tín dụng, giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Nguyễn thị Dung 8 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Ba là: Khả năng cạnh tranh của ngân hàng Một ngân hàng có khả năng cạnh tranh cao hơn sẽ có lợi thế trong việc chiếm lĩnh phần thị trường tốt hơn do ngân hàng đó có uy tín cao hơn so với các ngân hàng khác, có mức rủi ro thấp hơn từ đó dẫn đến ngân hàng đó sẽ có chất lượng tín dụng tốt hơn các ngân hàng khác và ngược lại. Do đó, khả năng cạnh tranh của ngân hàng liên quan nhiều tới chất lượng tín dụng của ngân hàng đó, bởi vậy mà các ngân hàng không ngừng nỗ lực để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, khi đó họ sẽ có được các khách hàng tiềm năng với độ an toàn cao nhất. 1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng Để đánh giá được chính xác chất lượng tín dụng tại ngân hàng, cần phải phân tích các chỉ tiêu định lượng dựa trên các số liệu thực tế cụ thể. Đây là những con số phản ánh rõ nhất thực trạng hoạt động của ngân hàng. - Chỉ tiêu thứ nhất: Tổng dư nợ Tổng dư nợ là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ phản ánh khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng. Nếu tổng dư nợ thấp chứng tỏ khả năng mở rộng tín dụng của chi nhánh kém, điều đó chứng tỏ chất lượng của hoạt động tín dụng của ngân hàng còn yếu kém…Mặc dù chỉ tiêu này cao thì chưa hẳn chất lượng khoản vay tốt. Song nếu tổng dư nợ tín dụng tăng liên tục qua các năm thì lại cho thấy chiều hướng tăng lên của chất lượng tín dụng. - Chỉ tiêu thứ hai: Tỷ lệ nợ quá hạn Nợ quá hạn là khoản nợ khi đến hạn khách hàng không hoàn trả cả gốc và lãi. Tỷ lệ này thường được xác định vào một thời điểm nhất định trong năm. Tỷ lệ nợ quá hạn được tính theo công thức sau: Tỷ lệ nợ quá hạn = Nợ quá hạn / Tổng dư nợ Chỉ tiêu này dùng để đánh giá chất lượng công tác tín dụng của một ngân hàng do tỷ lệ này thể hiện rủi ro tín dụng của ngân hàng như thế nào. Tỷ lệ này cao cho thấy rủi ro tín dụng mà ngân hàng gặp phải là rất lớn, số nợ không được hoàn trả cao ảnh hưởng tới khả năng thanh toán, kế hoạch kinh doanh của ngân hàng đồng thời còn làm mất uy tín của ngân hàng đối với các chủ thể gửi vốn Nguyễn thị Dung 9 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng trong ngân hàng. Nợ quá hạn do nhiều nguyên nhân, có thể do trình độ của cán bộ tín dụng, có thể do khách hàng gặp khó khăn tạm thời hoặc cố tình không trả nợ… Theo quyết định 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốc NHNN Việt Nam có quy định là: Nợ xấu (NPL) là khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5. Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu / Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ xấu cho thấy trong tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng thì có bao nhiêu phần trăm là nợ xấu. Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao thì chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng đó rất thấp, ngân hàng cần phải xem xét lại toàn bộ hoạt động tín dụng của mình để có biện pháp điều chỉnh phù hợp tránh những tổn thất có thể xảy ra đối với ngân hàng Nợ có khả năng mất vốn chính là nợ nhóm 5. Tỷ lệ này cho thấy trong tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng hay trong tổng nợ quá hạn của ngân hàng có bao nhiêu phần trăm có thể bị mất vốn, tuy nhiên điều này là rất khó thực hiện do hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro mà ngân hàng khó có thể lường trước được. Tỷ lệ này càng cao thì chất lượng tín dụng ngân hàng càng thấp, nguy cơ ngân hàng không thu hồi được các khoản tín dụng đã cấp là rất lớn, tổn thất đối với ngân hàng càng cao. - Chỉ tiêu thứ ba: Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng là một trong những chỉ số thể hiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Mục tiêu cuối cùng của ngân hàng là lợi nhuận vì thế lợi nhuận có được đảm bảo hay không phản ánh hoạt động của ngân hàng có hiệu quả hay không. Chỉ tiêu này được xác định như sau: Thu nhập từ hoạt động tín dụng =Lãi từ hoạt động tín dụng / Tổng thu nhập Nâng cao chất lượng tín dụng nhằm mục đích nâng cao được lợi nhuận cho ngân hàng. Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu của ngân hàng và nó mang lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Đây là chỉ tiêu cần thiết để đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng. Một ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt có thể được thể hiện qua thu nhập từ hoạt động tín dụng tăng trưởng ổn định Nguyễn thị Dung 10 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng và ngược lại, một ngân hàng có chất lượng tín dụng không cao sẽ không thể có được tỷ lệ thu nhập từ tín dụng cao. Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng không đều chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng đó chưa được đảm bảo, còn nhiều vấn đề tiềm ẩn. Để tăng thu nhập từ hoạt động tín dụng thì cần phải mở rộng quy mô tín dụng. Tuy nhiên, các ngân hàng phải cân nhắc kỹ lưỡng để có một tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý để tăng thu nhập từ hoạt động tín dụng mà vẫn đảm bảo an toàn trong kinh doanh. Nếu ngân hàng quá chú trọng đảm bảo an toàn bằng cách hạ thấp tỷ lệ nợ quá hạn thì sẽ không đảm bảo được tính sinh lời cho ngân hàng, như vậy việc nâng cao chất lượng tín dụng cũng không còn ý nghĩa. - Chỉ tiêu thứ tư: Mức sinh lời từ hoạt động tín dụng Mức sinh lời từ hoạt động tín dụng = Lãi từ hoạt động tín dụng / Tổng dư nợ Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng, cứ một đồng vốn đầu tư vào hoạt động tín dụng thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu ngân hàng thương mại chỉ chú trọng việc giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp đó cũng không có ý nghĩa. Chất lượng tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng. Chỉ tiêu mức sinh lời càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng càng tốt. - Chỉ tiêu thứ năm: Hiệu suất sử dụng vốn Hiệu suất sử dụng vốn là một chỉ tiêu được tính bằng tỷ lệ phần trăm dư nợ tín dụng trong tổng nguồn huy động nhằm đánh giá khả năng sử dụng vốn như xu hướng hoạt động tín dụng của ngân hàng trong những năm gần đây và trong tương lai là mở rộng hay thu hẹp. Chỉ tiêu này thể hiện quy mô tín dụng dựa trên nguồn vốn huy động được, đánh giá mức độ phù hợp giữa việc huy động và sử dụng vốn cũng như mức độ an toàn của hoạt động cho vay. Quy mô tín dụng phải chiếm một tỷ lệ nhất định để vừa đảm bảo tối đa hóa lợi nhuận vừa đảm bảo mức độ an toàn của nguồn vốn. Nếu quy mô tín dụng không tương xứng với lượng vốn huy động được thì ngân hàng sẽ không đảm bảo được khả năng sinh lời mà vẫn tốn chi phí cho việc Nguyễn thị Dung 11 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng huy động vốn. Các ngân hàng khi mở rộng quy mô vốn huy động phải có các chiến lược, kế hoạch phù hợp để tăng tương ứng quy mô tín dụng. Việc tăng quy mô tín dụng càng cao không phải đã là tốt vì vẫn phải đảm bảo chất lượng tín dụng và đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng. Do đó ngân hàng phải tính toán để cho vay hợp lý dựa trên khả năng vốn của mình. - Chỉ tiêu thứ sáu: Vòng quay vốn tín dụng Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng được tính như sau: Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ / Dư nợ bình quân Đây cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng quản lý vốn tín dụng, chất lượng tín dụng của ngân hàng. Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chu chuyển của vốn tín dụng . Hệ số này càng cao thì chất lượng tín dụng của ngân hàng được đánh giá càng cao hay tốc độ chu chuyển của vốn tín dụng nhanh, nguồn vốn đã tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất của khách hàng. Trong các ngân hàng thương mại, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ ngân hàng đó có uy tín và được khách hàng tín nhiệm, hoạt động tín dụng lành mạnh, khả năng thu hồi các khoản vay đến hạn cao, các quy trình trước khi cho vay được thực hiện nghiêm túc và chính xác. Vòng quay vốn tín dụng tăng cón có nghĩa là cùng một nguồn vốn ngân hàng có thể cho vay nhiều lần làm tăng thêm doanh thu trong khi không phải huy động thêm các nguồn vốn khác. - Chỉ tiêu thứ bảy: Tỷ lệ trích lập phòng ngừa rủi ro tín dụng Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro = Số tiền trích lập quỹ DPRR/ Tổng dư nợ Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện được nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng. Dự phòng rủi ro bao gồm: Dự phòng cụ thể và dự phòng chung. Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại các khoản nợ để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra. Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ, trích lập dự phòng cụ thể Nguyễn thị Dung 12 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm. Theo quyết định 493 tổ chức tín dụng lập dự phòng chung cho tất cả các khoản nợ của mình bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 theo cách phân loại nợ tại quyết định 493. Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đồi với nhóm nợ từ nhóm 1 đến nhóm 5 như sau: nhóm 1 ( 0%); nhóm 2 ( 5%); nhóm 3 ( 20%); nhóm 4 ( 50% ); nhóm 5 (100%). Tỷ lệ trích lập quỹ phòng ngừa rủi ro của ngân hàng càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng càng thấp vì tỷ lệ trích lập cụ thể chỉ tính dựa trên dư nợ nhóm 2 đến nhóm 5. Nhóm nợ càng cao thì tỷ lệ dự phòng rủi ro được trích lập càng lớn. Một ngân hàng có dự phòng rủi ro càng cao thì chi phí hoạt động của ngân hàng càng lớn nên giảm khả năng sinh lời của ngân hàng. 1.2.3 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn tiềm ẩn các rủi ro, lợi nhuận càng lớn thì rủi ro ngân hàng gặp phải càng cao. Do ngân hàng là một thành phần kinh tế đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực nhạy cảm và ảnh hưởng có tính dây chuyền nên ngân hàng phải chịu rất nhiều ràng buộc từ phía NHNN để đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của mình cũng như cho toàn nền kinh tế. Trong danh mục kinh doanh của ngân hàng thì hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng cao nhất, khoảng 70%, do đó ngân hàng luôn phải đảm bảo an toàn trong cho vay để khoản vay được trả đúng hạn cả gốc và lãi. Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều mở rộng danh mục sản phẩm để tìm kiếm lợi nhuận và phân tán rủi ro nhưng việc mở rộng danh mục sản phẩm phải đi đôi với đảm bảo an toàn cho các khoản vay. Đây cũng là điều kiện để ngân hàng tăng trưởng bền vững khi mà hoạt động tín dụng của ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn, là hoạt động chủ yếu của ngân hàng. Cho vay dài hạn thường chứa đựng nhiều rủi ro hơn cho vay ngắn hạn nên các ngân hàng hiện nay đang đẩy mạnh cho vay ngắn hạn. Điều này yêu cầu Nguyễn thị Dung 13 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng ngân hàng phải tăng cường quản lý và không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng đảm bảo cân đối nguồn vốn và đảm bảo khả năng thanh khoản. Chỉ có nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng mới đảm bảo được nguồn vốn kinh doanh và tăng cường vốn để tái đầu tư mở rộng cho vay và tăng cường các hoạt động kinh doanh khác. Đặc biệt trong hoàn cảnh nền kinh tế như hiện nay, bên cạnh việc đảm bảo chất lượng tín dụng ngân hàng cũng nên tạo điều kiện để hỗ trợ các doanh nghiệp trong vay vốn. Nâng cao chất lượng tín dụng là cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh, đảm bảo khả năng tồn tại và phát triển cho ngân hàng. 1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng Chất lượng tín dụng của ngân hàng luôn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Việc tìm hiểu, phân tích các yếu tố này là rất quan trọng để xác định phương pháp, cách thức khắc phục thiếu sót, nâng cao chất lượng tín dụng. Có thể chia các yếu tố tác động đến chất lượng tín dụng thành hai nhóm: 1.2.4.1 các nhân tố khách quan Các yếu tố khách quan là các yếu tố tác động đến ngân hàng mà bản thân ngân hàng không thể khống chế hay tác động làm thay đổi nó. Ngân hàng chỉ có thể hạn chế tác động của nó đến hoạt động kinh doanh của mình bằng cách nghiên cứu để tìm ra quy luật, dự báo trước để từ đó có các biện pháp phòng ngừa và hạn chế tác động tiêu cực đến ngân hàng và lợi dụng tác động có lợi để ổn định tình hình kinh doanh của ngân hàng. - Các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà Nước Nhà nước đưa ra các chính sách nhằm đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế và thực hiện các mục tiêu đã định hướng phát triển trong từng thời kỳ, các chính sách này có thể ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của các ngân hàng theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Các chính sách của nhà nước gây ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng như: + Chính sách lãi suất: chính sách lãi suất cũng là một yếu tố gây ảnh hưởng tới hoạt động của ngân hàng. Khi NHNN có chính sách và biện pháp làm thay Nguyễn thị Dung 14 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng đổi lãi suất thì buộc các ngân hàng thương mại phải tăng hay giảm lãi suất tương ứng theo chính sách. + Sự ổn định các chính sách của nhà nước: Khi các chính sách của Nhà Nước thay đổi quá nhanh mà ngân hàng và các doanh nghiệp không thay đổi kịp hay luôn bị trong thế bị động sẽ gây khó khăn trong việc đưa ra các kế hoạch đầu tư kinh doanh. Mặc dù sự thay đổi các chính sách nhằm mục đích quản lý và điều tiết nền kinh tế song sự bất ổn định có thể gây ra các ảnh hưởng không có lợi cho các thành phần kinh tế. Ví dụ về việc thay đổi tỷ lệ nợ xấu của NHNN theo chuẩn quốc tế. Khi các báo cáo thể hiện tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng cao thì khi đó khả năng mở rộng quy mô tín dụng sẽ khó khăn dẫn đến thu nhập từ hoạt động tín dụng giảm sút, làm giảm chất lượng tín dụng của ngân hàng đó. Do tỷ lệ nợ xấu phù thuộc nhiều vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp, khi các chính sách thay đổi quá nhanh thì ngân hàng không kịp điều chỉnh các chỉ tiêu của mình dẫn đến đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng bị giảm sút khi không đạt chỉ tiêu yêu cầu. + Hệ thông pháp luật: Hệ thống pháp luật được thành lập nhằm đảm bảo duy trì trật tự kỷ cương và sự phát triển lành mạnh của đất nước. Hệ thống pháp luật không đồng bộ, chồng chéo có nhiều kẽ hở sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh khi môi trường kinh doanh không được lành mạnh. Các doanh nghiệp đều muốn hoạt động trong một môi trường kinh doanh mà ở đó pháp luật phù hợp với thực tiễn khách quan. Luật pháp phù hợp, thuận lợi cho hoạt động kinh doanh nhưng các chủ thể kinh doanh phải chấp hành quy định nghiêm chỉnh thì mới đảm bảo được sự lành mạnh trong kinh doanh, quan hệ tín dụng mới mang lại lợi ích cho cả hai bên, từ đó đảm bảo chất lượng tín dụng cho ngân hàng. + Chính trị - xã hội: Môi trường chính trị xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tình hình an ninh tốt, chính trị ổn định sẽ tạo thuận lợi cho các hoạt động tín dụng của ngân hàng diễn ra an toàn và đảm bảo hơn. Tình hình xã hội lành mạnh và ổn định sẽ tạo niềm tin cho các khách hàng yên tâm gửi tiền vào hệ thống ngân hàng và các nhà kinh doanh ngân hàng cũng yên tâm giải vốn ra nền kinh tế, không lo các rủi ro đạo đức có thể xảy ra. Nguyễn thị Dung 15 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng Nếu chính trị bất ổn, xã hội nhiều vấn đề không lành mạnh, đường lối lãnh đạo quốc gia không thống nhất và nhiều xung đột sẽ gây bất lợi đối với sự phát triển nền kinh tế nói chung, ảnh hưởng xấu tới các hoạt động tín dụng của ngân hàng nói riêng. - Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế là một tổng thể bao gồm nhiều ngành nghề kinh tế có quan hệ biện chứng với nhau. Sự biến động của một ngành nghề hay một lĩnh vực sẽ gây ảnh hưởng tới một số hoặc toàn bộ các lĩnh vực còn lại. Ngân hàng cũng là một thành phần của nền kinh tế nên không nằm ngoài dây chuyền phản ứng đó. Một nền kinh tế phát triển sẽ khiến cho hoạt động của hệ thống ngân hàng phát triển và ngược lại, sự phát triển của hệ thống ngân hàng sẽ góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng và tiến bộ. + Lạm phát: Nếu xem xét từ nguyên nhân của lạm phát thì có thể định nghĩa lạm phát “lạm phát là quá nhiều tiền đi săn quá ít hàng” hoặc “lạm phát là khi tiền lương danh nghĩa tăng nhanh hơn năng suất lao động”. Nếu xem xét ảnh hưởng của lạm phát thì “ lạm phát là mức giá cả chung (mức giá bình quân) tăng lên” (giáo trình lý thuyết tiền tệ _HVNH _NXB Thống Kê 2005). Sự tăng giá phản ánh hình thức biểu hiện của lạm phát. Lạm phát kéo dài và có tốc độ cao sẽ ảnh hưởng tới tất cả các chủ thể trong nền kinh tế. Lạm phát tạo nên sự bất ổn định cho môi trường kinh tế xã hội, do lạm phát kéo dài gây khó khăn trong xác định mức sinh lời của các khoản đầu tư, khiến các chủ thể có tâm lý ngần ngại khi quyết định đầu tư, dẫn đến nguồn lực của xã hội phân bổ kém hiệu quả. Các doanh nghiệp thích vay ngắn hạn hơn dài hạn. Chi phí đầu vào sản xuất tăng lên, doanh nghiệp không đạt được mức lợi nhuận như dự kiến ảnh hưởng tới kế hoạch sử dụng vốn vay và trả nợ, làm tăng tỷ lệ nợ xấu, giảm chất lượng tín dụng của ngân hàng. + Tỷ giá: Tỷ giá hối đoái là giá cả của đồng tiền nước này thể hiện bằng đồng tiền nước khác. Tỷ giá chính là sự so sánh giá trị của đồng tiền các nước với nhau. Tỷ giá biến động sẽ tác động đến nhiều hoạt động của nền kinh tế. Đặc biệt là hoạt động ngoại thương, xuất nhập khẩu. Trong trường hợp tỷ giá giảm, Nguyễn thị Dung 16 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng giá bán ở thị trường nước ngoài tăng lên, gây khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu và khi tỷ giá tăng thì các doanh nghiệp nhập khẩu gặp bất lợi vì chi phí đầu vào tăng. Các doanh nghiệp sẽ phải tăng giá bán hoặc chịu rủi ro tỷ giá, lợi nhuận không đạt được như mức dự kiến. Sẽ có các doanh nghiệp trả nợ không đúng hạn hoặc phá sản không trả được nợ, ngân hàng sẽ gặp rủi ro nợ xấu, ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng. + Chu kỳ kinh tế: Nền kinh tế không thể lúc nào cũng ổn định mà sẽ có thời kỳ suy thoái hoặc thời kỳ tăng trưởng. Nếu nền kinh tế đang trong thời kỳ tăng trưởng thì các hoạt động diễn ra ổn định, các doanh nghiệp kinh doanh có lợi, nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, sản xuất và kinh doanh đình trệ, tăng lượng hàng tồn kho, vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng trong các khoản phải thu, ngân hàng thắt chặt tín dụng khiến doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn. Các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng làm giảm chất lượng tín dụng ngân hàng. - Môi trường tự nhiên Các hiện tượng tự nhiên là những nhân tố bất khả kháng và có thể gây ra các tác động làm tổn thất nghiêm trọng tới các nhân tố kinh tế. Ví dụ như: Thiên tai bão lũ, hạn hán, động đất…làm ảnh hưởng tới sản xuất đặc biệt là nông nghiệp. Đầu tư vào lĩnh vực liên quan tới môi trường tự nhiên bị ảnh hưởng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng các khoản tín dụng đầu tư vào khu vực này. - Môi trường quốc tế Sau khi gia nhập WTO thì môi trường quốc tế cũng có ảnh hưởng to lớn tới hoạt động tín dụng ngân hàng. Ví dụ như cuộc suy thoái kinh tế Mỹ năm 2008 đã có tác động không nhỏ tới hệ thống ngân hàng Việt Nam. Tín dụng thắt chặt khiến các doanh nghiệp không thể vay vốn hoặc vay vốn với lãi suất cao, hoạt động kinh doanh không sinh lời, không thể trả nợ ngân hàng, chất lượng tín dụng bị giảm sút. 1.2.4.2 Các nhân tố chủ quan Các yếu tố chủ quan là các nhân tố thuộc về bản thân ngân hàng và ngân hàng có thể điều chỉnh thay đổi được các nhân tố này nhằm thực hiện các mục Nguyễn thị Dung 17 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng tiêu kinh doanh của mình. Ngân hàng hàng thực hiện tốt việc điều chỉnh các nhân tố này là thực hiện tốt vai trò quản trị và điều hành ngân hàng, đảm bảo ngân hàng hoạt động kinh doanh tốt, nâng cao chất lượng tín dụng. Việc này phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm và khả năng của các nhà quản trị ngân hàng. - Chiến lược kinh doanh dài hạn Chiến lược kinh doanh dài hạn là hệ thống các quan điểm, các mục đích và các mục tiêu cơ bản cùng các giải pháp, chính sách nhằm sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực, lợi thế, cơ hội của tổ chức để đạt được các mục đích, mục tiêu dài hạn trong thời gian ngắn nhất có thể. Chiến lược kinh doanh dài hạn mà đúng đắn, hợp lý sẽ giúp ngân hàng có đường lối, chính sách kinh doanh đúng đắn. Tùy từng thời kỳ và hoàn cảnh mà ngân hàng có chiến lược kinh doanh dài hạn phù hợp, điều này sẽ ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của ngân hàng. - Chính sách tín dụng Chính sách tín dụng của từng ngân hàng là khác nhau, thể hiện chủ trương của ngân hàng là mở rộng hay thu hẹp tín dụng. Chính sách tín dụng đưa ra nhằm giúp các hoạt động kinh doanh của ngân hàng phù hợp với điều kiện kinh tế và hoàn cảnh hiện thời. Chính sách tín dụng hợp lý sẽ làm tăng hiệu quả của hoạt động tín dụng ngân hàng, đảm bảo an toàn mà lợi nhuận cao, song cũng phải theo đúng pháp luật và các chính sách của chính phủ. Chính sách tín dụng bao gồm: các quy định về quy trình tín dụng, quy định về việc tỷ lệ tài sản đảm bảo, loại sản phẩm tín dụng sẽ mở rộng hay thu hẹp, lãi suất cho vay, lãi suất phạt…do đó chính sách tín dụng có vai trò quyết định đến chất lượng tín dụng. - Quy trình tín dụng Quy trình tín dụng bao gồm giai đoạn tiếp nhận hồ sơ xin vay, thẩm định hồ sơ của khách hàng, ra quyết định tín dụng, giải ngân, giám sát và thu nợ. Chất lượng tín dụng an toàn hay không phụ thuộc vào việc quy trình tín dụng có được tuân thủ và thực hiện tốt hay không. Bước thẩm định hồ sơ của khách hàng là rất quan trọng do nó xác định rủi ro mà ngân hàng có thể gặp nếu cho vay. Thẩm định tốt sẽ giúp ngân hàng quản lý được mức độ rủi ro, đưa ra các quyết định đúng đắn. Việc giám sát và thu nợ cũng quan trọng, đảm bảo khách hàng sử Nguyễn thị Dung 18 NHE – k9 Khóa luận tốt nghiệp Học viện ngân hàng dụng vốn đúng mục đích và đúng kế hoạch đã đưa ra. Đồng thời tư vấn cho khách hàng sử dụng đồng vốn sao cho có hiệu quả nhất, góp phần phòng ngừa rủi ro và cải thiện chất lượng tín dụng. - Công tác tổ chức và nhân sự của ngân hàng. Con người là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nếu công việc được tổ chức sắp xếp một cách khoa học sẽ tạo ra một bộ máy liên kết chắt chẽ giữa các bộ phận, sự phối hợp chặt chẽ sẽ giúp các bộ phận hoạt động tương trợ lẫn nhau, khắc phục điềm yếu riêng để có các quyết định kinh doanh đúng đắn nhất. Ví dụ như phòng tín dụng và phòng thẩm định kết hợp với nhau để thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng thì sẽ giúp phòng tín dụng có cơ sở chặt chẽ trong việc đưa ra quyết định tín dụng, nâng cao chất lượng các khoản tín dụng. Cán bộ tín dụng phải được tuyển chọn kỹ lưỡng và công bằng để tìm ra người thực sự có năng lực vì họ là những người trực tiếp gặp khách hàng, thẩm định và kiểm tra khách hàng, giúp khách hàng hoàn thiện hồ sơ vay vốn, giám sát giải ngân và thu nợ. Do đó, nếu cán bộ tín dụng của ngân hàng thiếu năng lực hay tư cách đạo đức không tốt sẽ gặp phải rủi ro. Nếu cán bộ tín dụng chỉ có một trong hai yếu tố đó cũng không được mà phải đảm bảo cả hai nhân tố khả năng và đạo đức thì mới giúp cho ngân hàng phát triển được hoạt động tín dụng. Các nhà quản lý giữ vai trò quan trọng vì họ là những người đứng ra tuyển dụng và bố trí nguồn nhân lực, họ phải đảm bảo xây dựng được bộ máy vững mạnh, phù hợp với năng lực từng người, khai thác hết được khả năng và sự sáng tạo của nhân viên để đảm bảo hoạt động tín dụng diễn ra an toàn và hiệu quả nhất. - Hệ thống thông tin tín dụng Thông tin tín dụng là những thông tin được thu thập từ các nguồn như hồ sơ lưu trữ tại ngân hàng, từ phương tiện thông tin đại chúng, từ bạn hàng của khách hàng, từ trung tâm thông tin tín dụng, từ các cơ sở pháp luật…do các cán bộ tín dụng thu thập nhằm phục vụ cho mục đích thẩm định khách hàng vay vốn. Do đó, nhưng thông tin này rất quan trọng vì dựa vào đó ngân hàng sẽ ra quyết định tín dụng xem có cho vay hay không. Số lượng cũng như chất lượng của thông tin Nguyễn thị Dung 19 NHE – k9
- Xem thêm -