Thực trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố liên quan ở học sinh khối lớp 6 trường trung học cơ sở xã Hoàn Sơn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2008

  • Số trang: 75 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 30 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sâu răng là bệnh phổ biến ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, bệnh có thể mắc từ rất sớm ngay sau khi mọc răng. Bệnh sâu răng nếu không được điều trị kịp thời sẽ dẫn đến các biến chứng như viêm tuỷ răng, viêm quanh cuống, bệnh còn là nguyên nhân gây mất răng, ảnh hưởng nặng nề tới sức nhai, phát âm, thẩm mỹ, ngoài ra nó còn là nguyên nhân của một số bệnh nội khoa như viêm nội tâm mạc, viêm cầu thận, viêm khớp. Chi phí cho việc chữa răng rất tốn kém. Theo WHO từ những năm 70 đã xếp bệnh sâu răng và viêm lợi là tai họa thứ ba của loài người sau bệnh tim mạch và bệnh ung thư vì những lý do sau: - Bệnh mắc rất sớm, ngay sau khi răng mọc. - Bệnh phổ biến (Chiếm 90 đến 99% dân số), hiếm có ai không mắc phải - Tổn phí chữa răng rất lớn, vượt qua khă năng chi trả của mọi chính phủ, kể cả những nước giàu có nhất. Sau năm 1975 nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã tìm ra được nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của sâu răng[1], đồng thời đã phát hiện thấy vai trò quan trọng của fluor trong việc bảo vệ men răng[13]. Trên cơ sở đó đã đề ra được các biện pháp phòng bệnh thích hợp kết quả là tỷ lệ sâu răng ở nhiều quốc gia trên thế giới đã giảm đáng kể: Tại Mỹ năm 2004 chỉ số SMT còn 1,3[34], tại Anh năm 2005 chỉ số SMT còn 0,7[31]. Ngược lại những nước nghèo không được fluor hoá nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa, chế độ ăn đường không đúng nên sâu răng phát triển ngày càng tăng[1]. Việt Nam là một nước đang phát triển, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, trang thiết bị và cán bộ răng hàm mặt còn thiếu, tỷ lệ mắc bệnh sâu răng viêm lợi ở mức độ cao và có chiều hướng gia tăng, nhất là ở các vùng nông thôn, những nơi chương trình nha học đường hoạt động chưa hiệu quả. Theo kết quả điều tra dịch tễ học trên thế giới, ở Việt Nam tỷ lệ người mắc bệnh sâu răng chiếm từ 50-90% dân số[3;41]. 2 Năm 2001, Viện răng hàm mặt Hà Nội phối hợp với trường đại học nha khoa Adelaide (Australia) tổ chức điều tra sức khoẻ răng miệng quy mô toàn quốc, kết quả là học sinh từ 6 đến 8 tuổi có tỷ lệ sâu răng sữa là 84,9%, lứa tuổi 9-11 sâu răng vĩnh viễn là 54,6%[19]. Cũng theo số liệu điều tra thống kê năm 2001, ở lứa tuổi từ 6-8 thì tỷ lệ sâu răng sữa ở nông thôn cao hơn thành thị với tỷ lệ là 85,1% và 84,4%, lứa tuổi 9-11 ở nông thôn – thành thị theo tỷ lệ là 57,6% và 51,8%[19]. Lứa tuổi học sinh lớp 6 là lứa tuổi mà các răng vĩnh viễn đã mọc gần đầy đủ trên cung hàm. Đặc điểm là bệnh xảy ra rất sớm, và diễn biến liên tục trong suốt đời của răng vĩnh viễn, đặc biệt nếu không vệ sinh răng miệng tốt. Lứa tuổi này các em có thể tự quyết định việc vệ sinh chăm sóc sức khỏe răng miệng cho bản thân mình nếu được trang bị cho kiến thức, thực hành chăm sóc răng miệng đúng. Tiên Du là một huyện đồng bằng, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bắc Ninh, với tổng diện tích 10.838,4 ha, liền kề thành phố Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 22 km. Dân số của huyện là 139.025 người, mật độ dân số khoảng 1.258 người/km 2. Đơn vị hành chính huyện bao gồm 13 xã và 1 thị trấn. Phòng giáo dục, Phòng Y tế và Trung tâm Y tế Dự phòng huyện đã kết hợp triển khai công tác NHĐ trên địa bàn huyện. Mặc dù chương trình nha học đường đã được triển khai, song vì thiếu nhân lực, thiếu cơ sở vật chất nên hiệu quả vẫn chưa được cao[12]. Xã Hoàn Sơn với dân số trên 10 nghìn người, có khu công nghiệp Tiên Sơn đóng trên địa bàn xã. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của xã hội thì đời sống của nhân dân trong xã được nâng lên rất đáng kể. Chính quyền địa phương rất quan tâm đến tình hình sức khoẻ của học sinh nói chung và tình trạng bệnh sâu răng nói riêng. Một số hoạt động truyền thông nâng cao kiến thức thực hành phòng chống sâu răng cho học sinh đã được triển khai, nhưng cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng sâu răng tại đây. Câu hỏi đặt ra là thực trạng sâu răng của học sinh trên địa bàn ra sao? Xuất phát từ đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố liên quan ở học sinh khối lớp 6 trường trung học cơ sở xã Hoàn Sơn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2008.” 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1 Mục tiêu chung: Mô tả tình trạng sâu răng và một số yếu tố liên quan ở học sinh khối lớp 6 trường THCS xã Hoàn Sơn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2008. 2 Mục tiêu cụ thể: 2.1. Xác định tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn của học sinh khối lớp 6 trường THCS xã Hoàn Sơn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2008. 2.2. Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống sâu răng, thực hành PCSR cho con của cha, mẹ học sinh khối lớp 6 trường THCS xã Hoàn Sơn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2008. 2.3. Xác định một số yếu tố liên quan với bệnh sâu răng của học sinh khối lớp 6 trường THCS xã Hoàn Sơn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2008. 4 Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu và tổ chức học răng[2;5] 1.1. Các phần của răng Mỗi răng có phần thân răng và chân răng. Giữa thân răng và chân răng là đường cổ răng (cổ răng giải phẫu), là đường nối men - xương răng. Thân răng được bao bọc bởi men, chân răng được xương răng bao bọc. 1.2. Cấu tạo của răng Bao gồm men răng, ngà răng và tủy răng. * Men răng Men răng là mô cứng nhất trong cơ thể, có nguồn gốc từ ngoại bì, có tỷ lệ chất vô cơ cao nhất (khoảng 96%). Men răng phủ toàn bộ thân răng dày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 1,5mm và mỏng nhất ở vùng cổ răng. Men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo tuổi, nhưng có sự trao đổi về vật lý và hóa học với môi trường trong miệng. Về mặt hóa học, chất vô cơ chiếm 96%, chủ yếu là 3[Ca3(PO4)2]. 2H2O còn lại là các muối cacbonat của magiê, và một lượng nhỏ clorua, fluorua và muối sunfat của natri và kali. Thành phần hữu cơ chiếm khoảng 1% trong đó chủ yếu là protit. Về mặt lý học, men răng cứng, giòn, trong và cản tia X, với tỷ trọng từ 2,3-3 so với ngà răng. Cấu trúc học của men răng: Quan sát qua kính hiển vi thấy hai loại đường vân - Đường retzius: Trên tiêu bản cắt ngang là các đường chạy song song nhau và song song với đường viền ngoài của lớp men cũng như với đường ranh giới men ngà ở phía trong. Trên tiêu bản cắt dọc thân răng, đường retzius hợp với đường ranh giới men ngà cũng như với mặt ngoài của men thành một góc nhọn. - Đường trụ men: Chạy suốt chiều dày men răng và hướng thẳng góc với đường ngoài trong của men răng, đôi khi có sự gấp khúc và thay đổi hướng đi của 5 trụ men. Trụ men có đường kính từ 3-6m, khi cắt ngang qua trụ men ta thấy tiết diện có các loại hình thể: Vẩy cá 57%, lăng trụ 30%, không rõ ràng 10%, hướng đi của trụ men tạo ra các dải sáng tối xen kẽ chính là dải Hunter-schrenge. * Ngà răng Có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men, chứa tỷ lệ chất vô cơ thấp hơn men (75%), chủ yếu là 3[Ca3(PO4)2]. 2H2O. Trong ngà răng có nhiều ống ngà, chứa đuôi bào tương của nguyên bào ngà, bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do hoạt động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càng dày theo hướng về phía hốc tủy răng, làm hẹp dần ống tủy. Về tổ chức học: Ngà răng được chia làm hai loại - Ngà tiên phát chiếm khối lượng chủ yếu và được tạo nên trong quá trình hình thành răng, nó bao gồm: ống ngà, chất giữa ống ngà, dây tôm. - Ngà thứ phát được sinh ra khi răng đã hình thành rồi, nó gồm ngà thứ phát sinh lý, ngà phản ứng và ngà trong suốt. Ống ngà: có số lượng từ 15-50000/1 mm 2, đường kính ống từ 3-5 m, ống ngà chính chạy suốt chiều dày của ngà và tận cùng bằng đầu chốt ở ranh giới men ngà, ống ngà phụ là ống nhỏ hoặc nhánh bên, nhánh tận cùng của ống ngà chính. Chất giữa ống ngà có cấu trúc sợi được ngấm vôi, sắp xếp thẳng góc với ống ngà. Dây tôm: nằm trong ống ngà là đuôi nguyên sinh chất của tế bào tạo ngà. * Tủy răng Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tủy gồm tủy chân và tủy thân. Tủy răng trong buồng tủy gọi là tủy thân, tủy buồng, tủy răng trong ống tủy gọi là tủy chân. các nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy. Tủy răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng, cụ thể là sự sống của nguyên bào ngà và tạo ngà thứ cấp, nhận cảm giác của răng. Trong tủy răng có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của thần kinh. Về tổ chức học, tủy răng gồm hai vùng: Vùng cạnh tủy gồm các lớp tế bào tạo ngà (2-3 lớp) và lớp không có tế bào gồm những tổ chức sợi tạo keo. Vùng giữa tủy là tổ chức liên kết có nhiều tế bào, ít tổ chức sợi. 6 * Xương răng Là tổ chức canxi hoá bao phủ vùng ngà chân răng bắt đầu từ cổ răng, cấu trúc xương răng được chia làm hai loại. - Xương răng tiên phát: Ở lớp ngà vùng cổ răng và là loại xương răng không có tế bào. - Xương răng thứ phát: Có tế bào tạo xương răng bao phủ vùng ngà 2/3 dưới chân răng và cuống răng. Độ dày của xương thay đổi theo vị trí và tuổi, mỏng ở vùng cổ răng và dày hơn ở vùng cuống răng. 2. Quá trình mọc răng Quá trình mọc răng ở trẻ có 3 thời kỳ: - Thời kỳ 1 : Mọc răng sữa, bắt đầu từ 6 đến 30 tháng tuổi - Thời kỳ 2: Mọc răng vĩnh viễn, bắt đầu từ 6 đến 12 tuổi - Thời kỳ 3: Mọc răng khôn từ 16 – 25 tuổi 3. Chức năng của răng Chức năng chính của răng là ăn nhai. Quá trình nhai là một quá trình phức tạp, trong quá trình đó, các răng khác nhau có tác dụng khác nhau. Răng cửa dùng để cắt thức ăn, răng nanh có chức năng chủ yếu là xé thức ăn, răng hàm có tác dụng nghiền nát thức ăn. Chức năng phát âm: Răng có liên quan mật thiết đến ngôn ngữ và phát âm. Răng nằm giữa môi và lưỡi, khi phát âm chúng phối hợp với nhau, không thể thiếu bộ phận nào. Khi phát các âm môi răng và âm lưỡi răng, càng cần có sự tham gia của răng. Các răng phía trước có ảnh hưởng rất lớn đối với ngôn ngữ và phát âm, khi bị mất răng cửa do không thể khống chế tốt các luồng hơi phát ra, khi nói sẽ thoát hơi, nếu hoạt động của lưỡi mất đi sự hạn chế của răng trước cũng ảnh hưởng đến độ chính xác của việc phát âm. Hơn nữa, răng còn có ảnh huởng quan trọng ngoại hình của mỗi người. 4. Bệnh sâu răng. 4.1. Nguyên nhân và những hiểu biết về sâu răng. Sâu răng là một quá trình bệnh lý xuất hiện sau khi răng đã mọc, đặc trưng bởi sự khử khoáng làm tiêu dần các chất vô cơ, hữu cơ ở men răng, ngà răng tạo thành lỗ sâu. 7 Trước năm 1970, người ta cho rằng bệnh căn của sâu răng là do nhiều nguyên nhân với sự tác động của 3 yếu tố. Vi khuẩn trong miệng (chủ yếu là streptococcus mutans) lên men các chất bột và đường còn dính lại răng tạo thành acid, acid này đã phá hủy tổ chức cứng của răng tạo thành lỗ sâu. Sự phối hợp của các yếu tố này để gây sâu răng được thể hiện bằng sơ đồ keyes: Vi khuẩn Thức ăn Men răng Sơ đồ keys Với sơ đồ keys, người ta chú ý nhiều đến chất đường và vi khuẩn streptococcus mutans do đó, việc dự phòng cũng chú ý quan tâm đến chế độ ăn hạn chế đường và VSRM. Khi áp dụng vào thực tế phòng bệnh sâu răng thấy kết quả đạt được không cao, tỷ lệ sâu răng giảm xuống không đáng kể. Sau năm 1975 người ta đã làm sáng tỏ hơn căn nguyên gây bệnh sâu răng và đưa ra sơ đồ white thay thế một vòng tròn trong sơ đồ keys. - Chất đường được thay thế bằng chất nền. - Nhấn mạnh vai trò của nước bọt và PH của dòng chảy môi trường xung quanh răng - Người ta cũng làm sáng tỏ tác dụng của fluor nó làm cho tổ chức của răng cứng chắc hơn chống được sự phân huỷ của acid tạo thành tổn thương sâu răng[6]. 2 F   Ca10 ( PO 4 ) 6 (OH ) 2   Ca10 ( PO 4 ) 6 F2  2OH  8 Fluor + Hydroxyapatite -> Fluorapatite có sức đề kháng cao hơn, có khả năng đề kháng sự phá huỷ của H+ -> chống sâu răng. Dòng chảy PH quanh răng nước bọt Chất nền Vi khuẩn Men răng Men răng Sơ đồ white Ta có thể tóm lược cơ chế sinh bệnh học của sâu răng được thể hiện bằng hai quá trình tái khoáng và huỷ khoáng. Mỗi quá trình đều có một số yếu tố thúc đẩy, nếu quá trình huỷ khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ dẫn đến sâu răng. 9 Sâu răng = Hủy khoáng > Tái khoáng Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng: +Mảng bám vi khuẩn +Chế độ ăn đường nhiều lần +Thiếu nước bọt hay nước bọt acid +Acid từ dạ dày tràn lên miệng +PH< 5 Các yếu tố bảo vệ: +Nước bọt +Khả năng kháng acid của men +F- có ở bề mặt men răng +Trám bít hố rãnh +Độ Ca++, NPO4- quanh răng +PH > 5,5 Sơ đồ tóm tắt cơ chế sâu răng[7] 4.1. Thực trạng bệnh sâu răng Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra 5 mức độ sâu răng dựa vào chỉ sốố SMT ở lứa tuổi 12 và 35 – 44 như sau: Mức độ SMT 12 tuổi SMT 35 – 44 tuổi Rất thấp 0,0 – 1,1 0,2 – 1,5 Thấp 1,2 – 2,6 1,6 – 6,2 Trung bình 2,7 – 4,4 6,3 – 12,7 Cao 4,5 – 6,5 12,8 – 16,2 Rất cao  6,6  16,3 * Tình hình sâu răng trên thế giới. 10 Sau năm 1975 căn nguyên bệnh sâu răng được làm sáng tỏ hơn. Người ta cũng thấy rõ hơn tác dụng của fluor khi gặp Apatit thường của răng kết hợp thành fluorid apatit rắn chắc chống được sự phân hủy tạo thương tổn sâu răng. Do đó ở những nước phát triển Nhà nước coi chương trình fluor hóa nước uống, thuốc chải răng và giáo dục nha khoa là quốc sách nên bệnh sâu răng giảm mạnh. Ngược lại những nước kém phát triển không được fluor hóa nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa, chế độ ăn đường không đúng nên sâu răng tăng. Ở các nước phát triển: Từ những năm 1940 đến 1960, tình hình sâu răng rất nghiêm trọng, trung bình mỗi trẻ em 12 tuổi có từ 8-10 răng sâu hoặc răng đã bị mất do sâu. Chỉ số SMT của Na Uy tới mức 12,0 năm 1940, những năm 1980, chỉ số SMT ở tuổi 12 tại các nước này đã giảm xuống mức từ 2,0 - 4,0. Tới năm 1993, chỉ số SMT tuổi 12 ở hầu hết các nước công nghiệp hóa đã giảm xuống mức thấp từ 1,2 - 2,6. Nhìn chung từ cuối những năm 1970 tới nay, tình hình sâu răng tại các nước phát triển có xu hướng giảm dần, chỉ số SMT tuổi 12 tại hầu hết các nước ở mức thấp và rất thấp. Điều này có được là do các nước phát triển đã áp dụng triệt để các biện pháp phòng bệnh. Nghiên cứu của Pieper tại Đức cho thấy, chỉ số SMT giảm từ 2,44 (năm 1994-1995) xuống còn 1,81 vào năm 1997 và 1,24 (2000)[36]. Đến năm 2006 nghiên cứu của Shulter chỉ ra sâu răng ở Đức tiếp tục giảm, chỉ số SMT giảm xuống ở mức 0,98[38]. Ở các nước đang phát triển: Thời điểm những năm của thập kỷ 1960, tình hình sâu răng ở mức thấp hơn nhiều so với các nước phát triển. Chỉ số SMT tuổi 12 ở thời kỳ này nói chung từ 1,0-3,0, thậm chí một số nước dưới mức 1,0 như Thái Lan, Uganda. Tới thập kỷ 1970 và 1980 thì chỉ số này lại tăng lên và ở mức từ 3,0 đến 5,0 và một số nước còn cao hơn như Chilê là 6,3. Đến những năm gần đây sâu răng đã giảm nhưng nhìn chung, tình trạng sâu răng vẫn còn ở mức cao. Nghiên cứu của Emerich tại Ba Lan cho thấy chỉ số SMT của trẻ 12 tuổi đã giảm từ mức 4,87 năm 1987 xuống còn 3,2 vào năm 2003[28]. Theo tác giả Ayo-Yusuf tỷ lệ sâu răng của trẻ 12 tuổi tại Nam Phi đến năm 11 2002 là 40,1%, chỉ số SMT ở mức 1,19[24]. Chỉ sốố SMT trẻ 12 tuổi của một sốố nước phát triển[23] Tên nước Năm SMT Năm SMT Thuỵ Điển 1980 1,7 2002 1,1 Anh 1981 1,8 2003 0,8 Na Uy 1979 4,5 2004 1,7 Mỹ 1980 2,0 2004 1,3 Australia 1982 2,1 2001 1,0 Thuỵ Sỹ 1980 1,7 2005 0,9 Phần Lan 1981 4,0 2003 1,2 Nhật Bản 1979 2,4 2005 1,7 Chỉ sốố SMT trẻ 12 tuổi ở một sốố nước đang phát triển[23] Tên nước Năm SMT Năm SMT Chi Lê 1978 6,3 1999 3,4 Thái Lan 1977 2,7 2004 1,6 Mexico 1976 5,3 2001 2,0 Iran 1976 4,9 2001 1,8 Chỉ sốố SMT trẻ 12 tuổi của một sốố nước trong khu vực[23] Tên nước Năm SMT Trung Quốc 1995 1,03 Lào 1991 2,0 Triều Tiên 1991 3,0 Brunei 4,8 1999 Campuchia 2002 2,3 Philippin 1998  Tình hình bệnh sâu răng ở việt nam 4,6 So với kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc năm 1991, kết quả 12 điều tra răng miệng toàn quốc năm 2001 cho thấy, tình hình sâu răng ở Việt Nam có xu hướng tăng lên và không đồng đều giữa các vùng miền trong cả nước. Kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc lần thứ nhất cho thấy tỷ lệ sâu răng lứa tuổi 12 như sau[14]: Miền bắc tỷ lệ sâu răng là 43,33%, chỉ số SMT là 1,15 Miền nam tỷ lệ sâu răng là 76,33%, chỉ số SMT là 2,93 Toàn quốc tỷ lệ sâu răng là 57,33%, chỉ số SMT là 1,82 Năm 2001, kết quả điều tra cơ bản bệnh răng miệng toàn quốc lần thứ hai cho thấy, tỷ lệ sâu răng lứa tuổi 12-14 là 64,1%, chỉ số SMT là 2,05[19]. Tình trạng sâu răng trẻ em toàn quốốc năm 2001 Tuổi Răng sữa Răng vĩnh viễn % sâu răng Chỉ số SMT % sâu răng Chỉ số SMT 6-8 84,9 5,40 25,4 0,48 9 - 11 56,3 1,96 54,6 1,19 12 - 14 64,1 2,05 15 - 17 68,6 2,40 (Ghi chú: Không có số liệu răng sữa của nhóm 12 – 14 và 15 – 17 tuổi) Năm 2000 theo nghiên cứu của Vũ Mạnh Tuấn tại thị xã Hoà Bình cho thấy[21]: * Trẻ 6 tuổi: Tỷ lệ sâu răng sữa là 61,5%, chỉ số smt là 0,17 Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 14,5%. * Trẻ 12 tuổi Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 62%. Nghiên cứu của Đào thị Ngọc Lan trên 1176 học sinh tại Yên Bái năm 2003 cho kết quả như sau[8]: 13 * Trẻ 6 tuổi Tỷ lệ sâu răng sữa là 64,95% - chỉ số smt là 3,58. Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 13,97% - chỉ số SMT là 0,23. * Trẻ 12 tuổi Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 51,82% - chỉ số SMT là 1,50. Năm 2004 Lê Ngọc Tuyến, Nguyễn Quốc Trung, Trần Thị Lan Anh đã thông báo kết quả điều tra răng miệng của học sinh tiểu học tại Hà Nội, có 80,95% các em sâu răng sữa, 30,95% em sâu răng vĩnh viễn[22]. Năm 2004 Nguyễn Lê Thanh công bố kết quả khảo sát bệnh răng miệng của học sinh tiểu học từ 7-11 tuổi tại thị xã Bắc Cạn, có 62,6% em sâu răng[16]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đăng Nhỡn năm 2004 tại huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang, qua nghiên cứu 128 học sinh 6 tuổi cho thấy tỷ lệ sâu răng sữa là 76,56%, sâu răng vĩnh viễn là 14,84%, chỉ số SMT là 0,22. Cũng trong nghiên cứu này ở lứa tuổi 12 tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 64,06%, chỉ số SMT là 1,67[11]. Năm 2007 theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Thành tại thị xã Hưng Yên thì tỷ lệ sâu răng sữa của học sinh 6 tuổi là 87,74%, chỉ số smt là 3,72, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 10,43%, chỉ số SMT là 0,12[17]. Nghiên cứu của tác giả Lê Huy Nguyên tại Hoài Đức, Hà Tây năm 2007 tỷ lệ sâu răng của học sinh khối lớp 5 là 58,48%, chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn là 1,3[10]. Qua các số liệu trên cho thấy tình trạng sâu răng còn rất phổ biến và chưa có dấu hiệu suy giảm, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn tăng nhanh theo tuổi. 4.3 Phòng chống sâu răng 4.3.1 Các biện pháp PCSR Năm 1984 WHO đã đưa ra các biện pháp phòng bệnh sâu răng, trong đó nhấn mạnh đến một số biện pháp sau: * Sử dụng fluor: Bằng một số cách 14 - Fluor hóa nguồn nước cung cấp nước cho cộng đồng. - Đưa fluor vào muối. - Dùng viên fluor - Xúc miệng với các dung dịch fluor pha loãng. - Dùng kem đánh răng có fluor * Trám bít hố rãnh mặt nhai các răng vĩnh viễn. * Chế độ ăn hợp lý phòng sâu răng Kiểm soát các thức ăn và đồ uống có đường bao gồm các biện pháp dưới đây: Kiểm soát các thực phẩm có đường ở trường học, giảm số lần ăn các thực phẩm đường, giảm mức độ tiêu thụ đường ở tầm quốc gia. * Hướng dẫn VSRM Các biện pháp được giám sát chặt chẽ ở trường bao gồm chải răng và dùng chỉ nha khoa. Các biện pháp không giám sát được như thực hiện chải răng và các biện pháp VSRM khác ở nhà. 4.3.2 Can thiệp PCSR ở Việt Nam Cơ sở khoa học và thực tiễn đã chứng minh chúng ta có thể phòng chống được sâu răng. Trên thực tế WHO rất quan tâm và tìm ra các biện pháp phòng chống sâu răng có hiệu quả[3]. Điều quan trọng là chọn biện pháp thích hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước hay từng địa phương và tình trạng bệnh. Nước ta là một nước đang phát triển, nền kinh tế còn nhiều khó khăn, trang thiết bị máy móc cũng như đội ngũ cán bộ làm công tác răng hàm mặt còn thiếu do đó chưa đáp ứng được nhu cầu điều trị rất lớn của nhân dân. Vì thế cách tốt nhất để giải quyết bệnh sâu răng là bằng chăm sóc sức khỏe răng miệng ban đầu. Năm 1991, sau điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc, Trần Văn Trường và Lâm Ngọc Ấn đặt việc chăm sóc răng miệng trẻ em học đường là nhiệm vụ trọng tâm chiến lược của nghành răng hàm mặt và đề nghị nhà nước quan tâm đầu tư. Từ đó đến nay các hoạt động trên không ngừng được mở rộng[20]. Dự phòng sâu răng ở Việt Nam chủ yếu dưới hình thức nha học đường và nha cộng đồng 15 Mục tiêu dự phòng sâu răng đến năm 2010 của WHO là[41]: Trẻ 5 – 6 tuổi: 90% không sâu răng. Trẻ 12 tuổi: SMT < 1. 18 tuổi: 100% giữ được răng toàn bộ răng Ở Việt Nam, mục tiêu của nghành răng hàm mặt đến năm 2010 phải đảm bảo ít nhất 80% học sinh tiểu học và THCS được chăm sóc răng miệng ổn định và lâu dài qua chương trình nha học đường[20]. 4.3.3 Chương trình nha học đường Chương trình nha học đường là chương trình chăm sóc răng miệng trẻ em tại trường học áp dụng chủ yếu cho học sinh tiểu học và THCS, có thể áp dụng cho học sinh mẫu giáo. Lứa tuổi ưu tiên từ 6-15 tuổi do ở độ tuổi này răng vĩnh viễn bắt đầu mọc, thời gian học sinh ở trường nhiều. Hoạt động của chương trình gồm có 4 nội dung sau[18]:  Nội dung 1: Giáo dục nha khoa Giáo dục nha khoa bằng cách đưa kiến thức nha khoa vào trường học bao gồm: Cách phòng bệnh răng miệng, chải răng đúng phương pháp và phát hiện các tật xấu ảnh hưởng đến răng miệng.  Các nội dung giáo dục nha khoa Giáo dục chải răng. Kỹ thuật chải răng : Phương pháp Bass : Bàn chải nghiêng 45 độ hướng về phía lợi Phương pháp charter : Bàn chải nghiêng 45 độ hướng về phía mặt nhai Để loại trừ mảng bám răng Số lần chải răng trong ngày Thời gian chải răng Cách lựa chọn bàn chải và thuốc đánh răng Giáo dục dùng chỉ tơ nha khoa để làm sạch các mặt bên của răng Giáo dục sử dụng đường: Hướng dẫn chế độ dinh dưỡng cân bằng hợp lý . 16 Hướng dẫn lựa chọn thực phẩm ít gây sâu răng Giáo dục giảm số lượng và số lần sử dụng đường. Giáo dục giảm các thói quen có hại  Hình thức giáo dục : Đưa vào chương trình học chính khoá  Phương tiện giáo dục : Mô hình, tranh ảnh  Nội dung 2: Xúc miệng phòng bệnh sâu răng bằng dung dịch NaF 20/00 Tác dụng : Làm cho men răng cứng hơn, cản trở việc hình thành mảng bám răng. Cách tiến hành : Áp dụng cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở Tổ chức mỗi khối lớp 1 tuần 1 lần trong 3 phút vào 1 ngày cố định trong tuần Thuốc phải đựng trong lọ và cốc thuỷ tinh hoặc bằng sứ Là biện pháp có hiệu quả cao và dễ thực hiện.  Nội dung 3: Tổ chức phòng khám chữa răng cho học sinh tại trường học Cơ sở : Phòng rộng 12 đến 15 m2 Nhân lực : 1 y sỹ NHĐ hoặc 1 bác sỹ nha khoa Trang thiết bị cần thiết : 1 ghế răng cho trẻ em 1 bộ kìm nhổ răng sữa Tay khoan Bộ dụng cụ khám răng Bộ dụng cụ chữa răng Thuốc và các hoá chất cần thiết để khám chữa, nhổ răng và trám bít hố rãnh. Các dụng cụ để xúc miệng phòng bệnh sâu răng Tài liệu, tranh ảnh, mô hình để tuyên truyền giáo dục Hồ sơ quản lý sức khoẻ cho học sinh toàn trường Sổ theo dõi khám và điều trị Tủ thuốc Tủ đựng hồ sơ Tủ sấy dụng cụ 17  Nhiệm vụ của phòng khám chữa răng tại trường học: Khám định kì Phát hiện sớm, điều trị sớm Giáo dục sức khoẻ răng miệng Xúc miệng phòng sâu răng bằng dung dịch NaF Trám bít hố rãnh phòng sâu răng Lập hồ sơ theo dõi kết quả khám chữa bệnh cho học sinh.  Phương pháp khám điều tra sức khoẻ răng miệng: Khám đánh giá tình trạng sức khoẻ răng miệng theo mẫu thống nhất của WHO Phương pháp đánh giá tình trạng bệnh sâu răng: Mã số răng vĩnh viễn 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Tình trạng răng Răng lành mạnh Răng bị sâu Răng đã hàn có sâu Răng đã hàn không sâu D Răng mất do sâu Răng mất vì lý do khác Răng có trám bít vecni Trụ , chụp Răng chưa mọc, không mọc Răng bị loại Mã số răng sữa A B C E F G Các tiêu chuẩn để chẩn đoán và ghi mã số 0 (A) Răng lành mạnh: Không có dấu hiệu của sâu răng, chưa hoặc đã điều trị 1 (B) Răng sâu: Răng có thương tổn, có đáy mềm và các răng đã hàn tạm 2 (C) Răng đã hàn và có sâu: Răng có 1 hay nhiều miếng hàn và 1 hay nhiều lỗ sâu 3 (D) Răng đã hàn và không sâu: Răng có 1 hay nhiều miếng hàn vĩnh viễn 18 và không có sâu thứ phát hoặc sơ phát 4 (E) Răng mất do sâu: Răng sữa hoặc răng vĩnh viễn nhổ do sâu 5 Răng mất vì lý do khác: Răng vĩnh viễn mất vì các lý do khác 6 (F) Răng có trám bít vecni 7 (G) Trụ cầu hay chụp 8 Răng chưa mọc 9 Răng bị loại: Các răng không thể khám được Chỉ số đánh giá tình trạng bệnh sâu răng : SMT (sâu , mất , trám ) S : gồm các mã số : 1và 2 M : gồm mã số 4 T : gồm mã số 3 Đánh giá nhu cầu điều trị: Mã số 0: Không cần điều trị Mã số 1: Chăm sóc ngừng sâu răng hoặc trám bít hố rãnh Mã số 2: Trám 1 mặt Mã số 3: Trám 2 mặt trở lên Mã số 4: Mão , trụ cầu Mã số 5: Đơn vị cầu : phần của cầu thay thế răng bị mất Mã số 6: Điều trị tuỷ Mã số 7: Nhổ răng, răng cần nhổ vì các lý do khác Mã số 8 và 9: Các nhu cầu điều trị khác (nêu rõ loại điều trị)  Nội dung 4: Trám bít các hố rãnh phòng bệnh sâu răng Mục đích: Cô lập các rãnh răng với môi truờng miệng bằng nhựa tổng hợp để phòng sâu răng Đối tượng: Học sinh 7-8 tuổi trám bít răng số 6 Học sinh 12- 13 tuổi trám bít rắng số 7 Ưu tiên các răng hàm dưới 19 Ưu tiên các em sâu nhiều răng Theo dõi đánh giá kết quả và báo cáo: Sau 1 tháng kiểm tra lần thứ nhất Sau 3 đến 6 tháng kiểm tra lần thứ 2 Sau 1 năm kiểm tra lần thứ 3 Sau đó hàng năm kiểm tra lại Sau 1 năm kiểm tra lại chỉ số SMT theo mặt răng được trám Thực hiện công tác nha học đường là một trong những biện pháp quan trọng để chăm sóc sức khoẻ răng miệng ban đầu nhằm hạ thấp tỷ lệ bệnh răng miệng cho cộng đồng. Trong nhiều năm qua bộ y tế phối hợp với bộ giáo dục và đào tạo đã triển khai chương trình này đạt được hiệu quả đáng kể. Tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng địa phương, từng trường có thể thực hiện cả bốn nội dung trên hoặc một số nội dung của chương trình. Tuy nhiên cần có sự đánh giá một cách khách quan, khoa học từng nội dung để chương trình được thực hiện một cách có hiệu quả[4;9;40].  Vài nét về công tác nha học đường tại trường Trung học cơ sở xã Hoàn Sơn Do thiếu thốn về cơ sở vật chất cũng như nhân lực chương trình nha học đường ở nơi đây mới triển khai được một phần nhỏ của nội dung 1. Chưa có phòng khám nha để khám và trám bít hố rãnh phòng sâu răng cho học sinh, chưa tổ chức cho học sinh xúc miệng bằng dung dịch NaF. Nội dung giáo dục nha khoa đã được triển khai, do các thày cô giáo giảng dạy môn sinh học và giáo dục công dân đảm nhiệm. Tuy nhiên do chưa có mô hình, hình ảnh cũng như chưa có tiết học chính khóa nên giáo viên mới chỉ dành phần nhỏ thời gian để trang bị cho học sinh kiến thức mà chưa có điều kiện hướng dẫn và cho học sinh thực hành. Các giáo viên chỉ giảng dạy kiêm nhiệm nên phần lớn cũng chưa được được tập huấn, các kiến thức 20 phổ biến tới học sinh là do các thày cô tự tìm hiểu nên hiệu quả đem lại chưa cao. 5. Kiến thức thực hành phòng chống sâu răng 5.1 Thực trạng Kiến thức thực hành phòng chống sâu răng Theo kết quả nghiên cứu của Đào Thị Ngọc Lan tại Yên Bái năm 2003 thì chỉ có 21,21% học sinh biết mình bị sâu răng. Với câu hỏi bạn có hiểu biết gì về fluor không cũng chỉ có 26,22% học sinh trả lời có. 68,6% học sinh biết chải răng là để phòng sâu răng, 75,61% học sinh biết ăn đồ ngọt gây sâu răng và 42,68% học sinh biết cần đi khám răng định kỳ. Cũng trong nghiên cứu này khi hỏi bạn vệ sinh răng miệng thế nào sau khi ăn thì chỉ có 10,37% học sinh đánh răng, 19,51% tăm răng, 26,52% xúc miệng và có tới 43,6% không vệ sinh răng miệng sau khi ăn. 30,49% số học sinh đánh răng ngày 2 lần, 1 lần 15,85%, thỉnh thoảng 9,45% và 44,21% không đánh răng[8]. Kết quả của Nguyễn Đăng Nhỡn tại Yên Sơn - Tuyên Quang năm 2004 ở học sinh 12 tuổi cho thấy 32,71% biết mình bị sâu răng, 48,6% các em biết cần đi khám răng định kỳ. Khi hỏi đánh giá thực hành đánh răng cho thấy 28,04% học sinh không đánh răng, 45,79% đánh răng ngày 1 lần và 26,17% đánh răng ít nhất 2 lần 1 ngày, 65,42% chưa đi khám răng lần nào. Có 49,02% cha mẹ biết con mắc bệnh răng miệng, 74,5% có nhắc nhở con vệ sinh răng miệng và 82,35% cho rằng cần thiết phải đi khám răng định kỳ, 60,79% chưa đưa con đi khám răng lần nào[11]. Trong nghiên cứu của Ngô Thị Hoa Sen năm 2005 tại Gia Lâm Hà Nội 70% cha mẹ có kiến thức về phòng chống bệnh răng miệng chưa đạt yêu cầu, và 86,1% thực hành phòng chống bệnh răng miệng cho con chưa đạt yêu cầu[15]. Theo kết quả của Nguyễn Văn Thành, nghiên cứu tại thị xã Hưng Yên năm 2007 ở học sinh 6 tuổi cho thấy: Trẻ em biết mình bị sâu răng chiếm tỷ lệ 18,38%, không biết mình bị sâu răng chiếm tỷ lệ khá cao là 81,62%. Trẻ em có mong muốn được khám răng thường xuyên ở trường chiếm tỷ lệ 42,83%, không muốn được
- Xem thêm -