Thực thi các cam kết của Việt Nam với tổ chức thương mại thế giới trong lĩnh vực ngân hàng

  • Số trang: 89 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 20 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC MỞ ĐẦU ...........................................................................................................1 Chương 1 ...........................................................................................................4 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ KHÁI QUÁT QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG .......4 1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ...................................................................................................4 1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng ......................................4 1.1.2. Khái niệm dịch vụ ngân hàng và nội dung dịch vụ ngân hàng ...................5 1.1.3. Vai trò và xu hướng phát triển của ngành ngân hàng ............................11 1.2. KHÁI QUÁT QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG14 1.2.1. Vị trí dịch vụ ngân hàng trong GATS ....................................................15 1.2.2. Nội dung dịch vụ ngân hàng theo quy định của GATS .........................15 1.2.3. Phương thức cung ứng dịch vụ ngân hàng theo quy định của GATS .17 1.2.4. Các nguyên tắc chung của GATS áp dụng đối với thương mại - dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ ngân hàng) .........................................................18 Chương 2 .........................................................................................................24 CAM KẾT GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CAM KẾT ...................................24 2.1. CÁC CAM KẾT GIA NHẬP WTO CỦA VIỆT NAM VỀ MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ......................................24 2.1.1. Các cam kết chung của Việt Nam về mở cửa thị trường dịch vụ (bao gồm cả dịch vụ ngân hàng) .................................................................24 2.1.2. Cam kết cụ thể đối với các phân ngành dịch vụ ngân hàng ...................25 2.2. SO SÁNH CAM KẾT WTO CỦA VIỆT NAM VỀ MỞ CỬA THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VỚI CAM KẾT CỦA VIỆT NAM TẠI BTA VÀ CAM KẾT WTO CỦA TRUNG QUỐC ......29 2.2.1. So sánh với cam kết của Việt Nam tại BTA ..........................................29 2.2.2. So sánh với cam kết WTO của Trung Quốc ..........................................30 2.3. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG TRONG TƯƠNG QUAN VỚI CÁC CAM KẾT WTO ...33 2.3.1. Đánh giá việc tuân thủ các nghĩa vụ chung của GATS ....................33 2.3.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến các cam kết chung của Việt Nam trong Biểu cam kết cụ thể về dịch vụ ......................38 2.3.3. Thực trạng pháp luật Việt Nam liên quan đến các cam kết WTO của Việt Nam về dịch vụ ngân hàng ................................................39 Các văn bản điều chỉnh việc cấp phép thành lập, tổ chức hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài .........................................................40 2.3.3.2. Các văn bản điều chỉnh việc góp vốn, mua cổ phần tại ngân hàng Việt Nam .....................................................................................................48 2.3.3.3. Các văn bản điều chỉnh việc cung cấp dịch vụ ngân hàng .................50 2.4. ĐÁNH GIÁ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA VIỆT NAM ...................................................................................................63 Chương 3 .........................................................................................................68 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ...................................................68 3.1.2. Pháp luật về dịch vụ ngân hàng phải đảm bảo tương thích với các quy tắc và thông lệ quốc tế .........................................................................69 3.1.3. Việc hoàn thiện pháp luật về dịch vụ ngân hàng cần được đặt trong giải pháp tổng thể hoàn thiện pháp luật thương mại dịch vụ, kinh tế, tài chính ....................................................................................................69 3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGÂN HÀNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA WTO VÀ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ.........................................................................69 3.2.1. Giải pháp về lập pháp, chính sách..........................................................69 3.2.2. Giải pháp tăng năng lực điều hành hoạt động cho ngành ngân hàng ....73 KẾT LUẬN .....................................................................................................80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................81 1.1.1 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BTA: Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ GATS: Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO IMF: Quỹ Tiền tệ quốc tế Luật Các TCTD: Luật Các tổ chức tín dụng MFN: Chế độ đối xử tối huệ quốc NT: Chế độ đối xử quốc gia NHNN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam NHTM: Ngân hàng thương mại NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần TCTD: Tổ chức tín dụng TMDV: Thương mại dịch vụ WTO: Tổ chức thương mại thế giới DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Tên bảng Trang bảng 2.1 Tỷ lệ nhận tiền gửi từ thể nhân Việt Nam không có quan 28 hệ tín dụng so với vốn được cấp của Chi nhánh ngân hàng nước ngoài 2.2 Quy định về tổng tài sản đối với TCTD nước ngoài thiết lập hiện diện thương mại tại Việt Nam 29 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sau tiến trình chuẩn bị và đàm phán hơn mười một năm. Việc gia nhập WTO đồng nghĩa với việc chúng ta phải thực hiện các cam kết mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ ở một mức độ nhất định. Trong ngành dịch vụ tài chính, dịch vụ ngân hàng là một trong lĩnh vực gay go khi đàm phán vào WTO do đây luôn là ngành "huyết mạch" của nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, đòi hỏi các bước đi thận trọng khi mở cửa thị trường. Việc thực thi các cam kết trong ngành ngân hàng tạo ra nhiều sức ép đối với hệ thống pháp luật Việt Nam sao cho vừa tạo điều kiện cho các ngân hàng trong nước tăng sức cạnh tranh, không bị "thôn tính" bởi các ngân hàng nước ngoài trong khuôn khổ các cam kết với WTO. Tác giả chọn đề tài "Thực thi các cam kết của Việt Nam với Tổ chức Thương mại Thế giới về dịch vụ ngân hàng" để nghiên cứu vì những lý do sau đây: - Mong muốn được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ những quy định của WTO về tự do hoá dịch vụ ngân hàng; nghiên cứu các cam kết của Việt nam với WTO về dịch vụ ngân hàng. - Hiện nay, chúng ta đang trong giai đoạn rà soát, xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm thực hiện các cam kết trong các lĩnh vực thương mại dịch vụ nói chung và ngân hàng nói riêng. Trong lĩnh vực ngân hàng hàng loạt các văn bản pháp luật cũng đang được nghiên cứu sửa đổi, xây dựng mới để phù hợp với các cam kết của Việt Nam tại WTO. - Đưa ra những nhận xét và đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực ngân hàng nhằm thực thi tốt các cam kết của 1 Việt Nam khi gia nhập WTO. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra giải pháp cụ thể đối với việc xây dựng chính sách, pháp luật về ngân hàng trong bối cảnh thực thi các cam kết của WTO. 2. Tình hình nghiên cứu và ý nghĩa lí luận của đề tài Hiện nay ở nước ta, ngoài một số bài báo đề cập hoặc nghiên cứu một số nội dung của cam kết WTO trong lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách sâu sắc, hệ thống và đầy đủ về thực hiện các cam kết với WTO về dịch vụ ngân hàng với nội dung gồm các phần chính là nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật các quốc gia và các quy định của pháp luật Việt Nam. Trong xu thế hội nhập hiện nay, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng những quy phạm pháp luật đầy đủ, phù hợp với cam kết quốc tế và là cơ sở pháp lý cho việc phát triển dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam. Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam nhằm mục đích vừa thực hiện đúng các cam kết quốc tế vừa phát triển ngành ngân hàng của Việt Nam. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO về dịch vụ ngân hàng và các chế định, quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh lĩnh vực dịch vụ ngân hàng. Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, tác giả luận văn tập trung nghiên cứu các dịch vụ ngân hàng theo quy định của GATS tại Phụ lục về dịch vụ tài chính, thực trạng pháp luật Việt Nam về dịch vụ ngân hàng theo các tiêu chí của GATS và cam kết gia nhập WTO của Việt Nam. Từ đó, tác giả luận văn đưa ra đề xuất về định hướng và một số giải pháp hoàn thiện 2 pháp luật về dịch vụ ngân hàng của Việt Nam đáp ứng yêu cầu thực hiện cam kết WTO cũng như lộ trình hội nhập kinh tế của Việt Nam. 4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh luật học. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Khái quát quy định của WTO về dịch vụ ngân hàng và cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về dịch vụ ngân hàng. Chương 2: Thực tiễn thực thi cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về dịch vụ ngân hàng. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật ngân hàng Việt Nam đáp ứng các cam kết gia nhập WTO và lộ trình hội nhập quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng. 3 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG VÀ KHÁI QUÁT QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG VÀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng Sự hình thành và phát triển của hệ thống ngân hàng gắn liền với lịch sử của xã hội loài người. Hình thức ngân hàng sơ khai được nhiều nhà sử học cho rằng đã hình thành trước khi con người phát minh ra tiền là các đền thờ, thánh đường. Ban đầu, tài sản gửi tại đền thờ là các loại ngũ cốc, sau đó là gia cầm, nông sản, rồi đến kim loại quý như vàng. Đền thờ là nơi an toàn để cất trữ tài sản bởi xét về tâm linh thì ngay những tên trộm táo tợn nhất cũng có ý tránh chốn linh thiêng này. Các nhà khảo cổ học tìm được những tàng tích cho thấy tới đầu thế kỷ 18 trước công nguyên, tại Babylon, dưới thời trị vì của Hammurabi, thầy tu trông giữ đền thờ bắt đầu cho các nhà buôn mượn tài sản cất trữ trong đền. Việc này giống như hoạt động huy động vốn để cho vay của ngân hàng [59]. Đến thời kỳ Phục Hưng, các tổ chức kinh doanh tiền tệ phát triển nhanh và mở rộng các nghiệp vụ mới như chi trả bằng thương phiếu... Thời kỳ này đã xuất hiện các ngân hàng gia tầm cỡ như Jacques ở Pháp, gia đình Medicis ở Ý, gia đình Fugger ở Đức và các tổ chức kinh doanh tiền tệ như Banco di Valencia năm 1409, Banco di Realto năm 1507. Đây là các tổ chức kinh doanh tiền tệ đầu tiên có dáng dấp như một ngân hàng hiện đại. Thời kỳ cận đại là giai đoạn xuất hiện các ngân hàng hiện đại như ngân hàng Amsterdam ở Hà Lan năm 1609, ngân hàng Hamburg ở Đức năm 1617, ngân hàng Anh Quốc năm 1694 [22, tr. 61-62]. 4 Trong giai đoạn từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17, hoạt động ngân hàng có các đặc trưng sau: - Các ngân hàng hoạt động độc lập, chưa tạo ra hệ thống tạo sự ràng buộc lẫn nhau. - Nhiều ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh tương tự nhau như nhận ký thác, chiết khấu, cho vay và thực hiện các dịch vụ tiền tệ. - Mỗi ngân hàng phát hành một đồng tiền riêng. Một số ngân hàng phát hành tiền không dựa trên sự bảo đảm bằng vàng và bị phá sản nên giấy bạc ngân hàng kém hoặc mất giá trị. Trong giai đoạn từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 20, nhà nước bắt đầu can thiệp vào hoạt động ngân hàng thông qua việc ban hành các đạo luật nhằm hạn chế số lượng các ngân hàng được phép phát hành tiền để đảm bảo sự an toàn cho tiền gửi, khắc phục nhược điểm của hệ thống ngân hàng giai đoạn trước đó. Trong giai đoạn này, ngân hàng đã hình thành hệ thống và được chia thành hai loại: - Các ngân hàng được phép phát hành tiền (gọi là ngân hàng phát hành). - Các ngân hàng không được phép phát hành tiền (gọi là ngân hàng trung gian). Trong nền kinh tế chỉ còn một số ngân hàng được phép phát hành tiền. Từ đầu thế kỷ 20 đến nay, tại đa số các quốc gia, nhà nước chỉ cho phép một ngân hàng được quyền phát hành tiền và nắm quyền quản lý các ngân hàng phát hành bằng một trong các hình thức: quốc hữu hóa 100%, nắm giữ trên 51% số cổ phần. Từ những năm 80 của thế kỷ 20, các ngân hàng thương mại được tổ chức dưới hình thức tập đoàn và chuyển sang hướng kinh doanh đa năng. 1.1.2. Khái niệm dịch vụ ngân hàng và nội dung dịch vụ ngân hàng 1.1.2.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng Theo trang web www.bitpipe.com, dịch vụ ngân hàng là bất kỳ hoạt động nào liên quan đến việc nhận và bảo vệ an toàn tiền gửi của cá nhân và tổ 5 chức, sau đó cho vay số tiền đó nhằm kiếm lợi nhuận (Any activities involved in accepting and safeguarding money owned by other individuals and entities, and then lending out this money in order to earn a profit). Pháp luật các nước không đưa ra định nghĩa tổng quát về dịch vụ ngân hàng mà thường liệt kê các dịch vụ được coi là dịch vụ ngân hàng. Ví dụ như: Theo Luật về Tài chính 1994 của Ấn Độ (Finance Act), dịch vụ ngân hàng và tài chính có nghĩa là các dịch vụ được cung cấp bởi một ngân hàng hoặc tổ chức tài chính, bao gồm cả tổ chức tài chính phi ngân hàng, các doanh nghiệp khác, gồm các dịch vụ sau: (i) cho thuê tài chính bao gồm cho thuê thiết bị và thuê mua, (ii) dịch vụ thẻ tín dụng, (iii) dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp, (iv) kinh doanh chứng khoán và ngoại hối, (v) quản lý tài sản bao gồm quản lý danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và các dịch vụ lưu ký và tín thác, nhưng không bao gồm quản lý tiền mặt, (vi) dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác, nghiên cứu và tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn về mua bán và sáp nhập, tư vấn về tái cơ cấu và chiến lược doanh nghiệp, (vii) cung cấp và chuyển thông tin và xử lý dữ liệu (As per section 65(10) of the Finance Act, 1994, "banking and financial services" means the following services provided by a banking company or a financial institution including a non banking financial company, namely: (i) financial leasing services including equipment leasing and hire-purchase by a body corporate; (ii) credit card services; (iii) merchant banking services; (iv) securities and foreign exchange (forex) broking; (v) asset management including portfolio management, all forms of fund management, pension fund management, custodial depository and trust services, but does not include cash management; (vi) advisory and other auxiliary financial services including investment and portfolio research and advice, advice on mergers and acquisition and advice on corporate restructuring and strategy; and (vii) provision and transfer of information and data processing). 6 Theo các tài liệu nêu trên, khái niệm dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các hoạt động ngân hàng của tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng trên thị trường vì mục tiêu lợi nhuận. Quan điểm khác cho rằng các hoạt động sinh lời khác của ngân hàng ngoài hoạt động cho vay thì được coi là hoạt động dịch vụ. Luận văn tiếp cận quan điểm thứ nhất, đó là dịch vụ ngân hàng là tất cả dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng, bao gồm cả hoạt động tín dụng. 1.1.2.2. Nội dung dịch vụ ngân hàng a) Các dịch vụ ngân hàng truyền thống Dù phát triển đến trình độ nào, các dịch vụ ngân hàng truyền thống vẫn là sản phẩm không thể thiếu của các ngân hàng. Theo Peter Rose (2001), các dịch vụ truyền thống của ngân hàng gồm: (i) Trao đổi tiền: đây là một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên. Ban đầu, dịch vụ này đơn thuần chỉ là việc ngân hàng thực hiện đổi một loại tiền này lấy một loại tiền khác cho khách hàng và hưởng phí dịch vụ.Về sau, khi thị trường ngoại hối quốc tế hình thành, các ngân hàng lớn thực hiện kinh doanh ngoại tệ trên thị trường với số lượng lớn. (ii) Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại: Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương - những người bán các khoản nợ (khoản phải thu) của khách hàng cho ngân hàng để lấy tiền mặt. Tiếp đó các ngân hàng thực hiện cho vay trực tiếp để doanh nhân xây dựng cơ sở sản xuất, mua hàng hóa để kinh doanh. (iii) Nhận tiền gửi: Để thực hiện được hoạt động cho vay, các ngân hàng phải thực hiện huy động nguồn vốn, trong đó nguồn huy động vốn quan trọng nhất là các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng. Khách hàng gửi tiền tại ngân hàng vừa nhận được tiền lãi vừa tránh được nguy cơ mất cắp do lưu giữ tiền mặt. 7 (iv) Bảo quản vật có giá trị: Ngay từ thời Trung cổ, các ngân hàng đã bắt đầu thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản. Các giấy chứng nhận do ngân hàng phát cho khách hàng có thể lưu hành như tiền - đây là hình thức có tính chất như séc và thẻ tín dụng ngày nay. (v) Cung cấp các tài khoản giao dịch: một dịch vụ ngân hàng quan trọng được phát triển trong thời kỳ cách mạng công nghiệp tại Châu Âu và Châu Mỹ là tài khoản tiền gửi giao dịch (demand deposit) - loại tài khoản tiền gửi cho phép người gửi tiền viết séc thanh toán cho việc mua hàng hóa và dịch vụ. Dịch vụ này cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, đặc biệt là hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng, nhanh chóng và an toàn hơn. (vi) Cung cấp dịch vụ ủy thác: Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã thực hiện việc quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp. Ngân hàng sẽ thu phí trên cơ sở giá trị của tài sản hay quy mô họ quản lý. Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp cả hai loại: dịch vụ ủy thác thông thường cho cá nhân, hộ gia đình và ủy thác thương mại cho các doanh nghiệp. b) Các dịch vụ ngân hàng hiện đại Xã hội ngày càng phát triển nên nhu cầu đối với dịch vụ ngân hàng ngày càng cao. Bên cạnh các dịch vụ truyền thống, ngân hàng đang cung cấp nhiều dịch vụ hơn, như: (i) Cho vay tiêu dùng: Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình do các khoản vay này có quy mô nhỏ và rủi ro cao. Tuy nhiên, sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng - đối tượng khách hàng trung thành tiềm năng. Tại Việt Nam, dịch vụ cho vay tiêu dùng phát triển mạnh trong những năm gần đây, tiêu biểu là các dịch vụ cho vay mua nhà, mua xe, cho vay du học… 8 (ii) Tư vấn tài chính: Ngân hàng ngày nay cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn tài chính đa dạng, đặc biệt là về tiết kiệm và đầu tư. Tại Việt Nam, gần đây một số ngân hàng đã bắt đầu cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính cá nhân như Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (ACB), Ngân hàng thương mại cổ phần Nhà Hà Nội (Habubank). (iii) Quản lý tiền mặt: ngân hàng quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần. (iv) Dịch vụ thuê mua thiết bị: Ngân hàng mua thiết bị theo yêu cầu của khách hàng và cho khách hàng thuê lại. (v) Cho vay tài trợ dự án: Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao. Do rủi ro trong loại hình tín dụng này cao nên các ngân hàng thường thực hiện cho vay cùng với sự tham gia của các nhà thầu và các nhà đầu tư khác để chia sẻ rủi ro. Ví dụ nổi bật về loại hình công ty đầu tư này là Bankers Trust Venture Capital và Citicorp Venture, Inc. (vi) Dịch vụ bảo hiểm: Các ngân hàng ngày nay còn tham gia kinh doanh các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ; tái bảo hiểm phi nhân thọ trong và ngoài nước; hoạt động đầu tư tài chính, cụ thể: - Kinh doanh các sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại; bảo hiểm thân tàu; bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường hàng không; bảo hiểm trách nhiệm chung; bảo hiểm xe cơ giới; bảo hiểm cháy; bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; bảo hiểm thiệt hại kinh doanh; bảo hiểm con người và các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ khác. - Kinh doanh tái bảo hiểm phi nhân thọ: ngân hàng xây dựng được mối quan hệ hợp tác kinh doanh với các công ty tái bảo hiểm có uy tín trên thế giới như Swiss Re, Labuan Re, B.E.S.T Re, Malaysian Re Berhad, Caisse 9 Centrale De Reassurance. Tái bảo hiểm là một trong những công cụ quản lý rủi ro, đảm bảo khả năng tài chính cho các hợp đồng có giá trị bảo hiểm lớn và tăng doanh thu từ phí nhận tái bảo hiểm và hoa hồng từ nhượng tái bảo hiểm. - Đầu tư tài chính: thực hiện hoạt động đầu tư tài chính theo hướng chuyên nghiệp hóa nhằm nâng cao năng lực tài chính của công ty, hỗ trợ các hoạt động khai thác. Ngoài ra, nghiệp vụ đầu tư tài chính là một kênh chính tạo ra lợi nhuận cho công ty điều hòa nguồn vốn và sử dụng hợp lý tối đa nguồn vốn nhàn rỗi. Với nghiệp vụ đầu tư tài chính chuyên nghiệp, công ty bảo hiểm ngân hàng sẽ có điều kiện thực hiện chiến lược mở rộng đầu tư, đầu tư chiến lược vào các doanh nghiệp trong lĩnh vực bảo hiểm cũng như lĩnh vực có nhiều tiềm năng. (vii) Cung cấp các kế hoạch hưu trí: Ngân hàng của các quốc gia phát triển cung cấp dịch vụ quản lý kế hoạch hưu trí mà hầu hết các doanh nghiệp lập cho người lao động, đầu tư vốn và phát lương hưu cho những người đã nghỉ hưu hoặc tàn phế. Ngân hàng cũng bán các kế hoạch tiền gửi hưu trí cho các cá nhân và giữ nguồn tiền gửi cho đến khi người sở hữu các kế hoạch này cần đến. (viii) Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Các ngân hàng cung cấp các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. (ix) Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp: Do ngân hàng cung cấp các tài khoản tiền gửi truyền thống với lãi suất quá thấp, nhiều khách hàng đã hướng tới việc sử dụng sản phẩm đầu tư (investment products) đặc biệt là các tài khoản của quỹ tương hỗ và hợp đồng trợ cấp. Loại hình này cung cấp triển vọng thu nhập cao hơn tài khoản tiền gửi dài hạn, cam kết thanh toán một khoản tiền mặt hàng năm cho khách hàng bắt đầu từ một ngày nhất định trong tương lai (chẳng hạn ngày nghỉ hưu). Ngược lại, quỹ tương hỗ 10 bao gồm các chương trình đầu tư được quản lý một cách chuyên nghiệp nhằm vào việc mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán phù hợp với mục tiêu của quỹ (ví dụ: tối đa hóa thu nhập hay đạt được sự gia tăng giá trị vốn). (x) Dịch vụ thẻ thanh toán: Ngày nay, thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán thông dụng và văn minh. Các công ty và ngân hàng liên kết với nhau để khai thác lĩnh vực thu nhiều lợi nhuận này. Các loại thẻ Master Card, Visa, Dinners Club, JCB, American Express (Amex) được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu. Người sử dụng thẻ có thể thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, trả cước phí điện, điện thoại, tiền nước hay rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động 24/24 rất tiện lợi. Ngoài ra, họ còn được cấp hạn mức thấu chi qua thẻ mà không phải bảo quản cất giữ tiền mặt không an toàn. Tóm lại, rõ ràng là không phải tất cả mọi ngân hàng đều cung cấp đầy đủ dịch vụ tài chính như danh mục dịch vụ đã miêu tả ở trên, nhưng quả thật danh mục dịch vụ ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng. Nhiều loại hình tín dụng và tài khoản tiền gửi mới đang được phát triển, các loại dịch vụ mới như giao dịch qua internet và thẻ thông minh (smart) đang được mở rộng và các dịch vụ mới (như bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán) được tung ra hàng năm. Nhìn chung, danh mục các dịch vụ đầy ấn tượng do ngân hàng cung cấp tạo ra sự thuận lợi rất lớn cho khách hàng. Khách hàng có thể hoàn toàn thỏa mãn tất cả các nhu cầu dịch vụ tài chính của mình thông qua một ngân hàng và tại một địa điểm. Ở các nước có nền kinh tế phát triển, sản phẩm dịch vụ ngân hàng có thể lên đến vài nghìn sản phẩm khác nhau còn ở các nước đang phát triển, con số này chỉ ở hàng trăm. 1.1.3. Vai trò và xu hướng phát triển của ngành ngân hàng 1.1.3.1. Vai trò của ngân hàng đối với nền kinh tế Thứ nhất, ngân hàng là trung gian tài chính trong nền kinh tế. Ngân hàng đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho 11 vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận tiền gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ. Hơn nữa ngân hàng còn đảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán thuận tiện. Đối với người đi vay, họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn kinh doanh tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp, chi tiêu, thanh toán mà không chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm những nơi cung ứng vốn riêng lẻ. Đặc biệt là đối với nền kinh tế, ngân hàng huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để sản xuất kinh doanh. Qua đó, ngân hàng thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thứ hai, ngân hàng là trung gian thanh toán. Ngân hàng đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu từ việc bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng... Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể trong nền kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán, nhờ vậy mà tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Việc thanh toán qua ngân hàng đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Đồng thời việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, nhờ vậy tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt như chi phí in ấn, kiểm đếm, bảo quản. 12 Thứ ba, ngân hàng là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương. Ngân hàng thương mại là một trong các chủ thể tham gia vào quá trình cung ứng tiền, tạo ra một khối lượng phương tiện thanh toán rất lớn trong nền kinh tế. Để thực hiện chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương phải sử dụng các công cụ để điều tiết lượng trong lưu thông, nhằm đạt được các mục tiêu của nền kinh tế vĩ mô, đặc biệt là mục tiêu ổn định tiền tệ. Phần lớn các công cụ của chính sách tiền tệ chỉ được thực thi có hiệu quả với sự hợp tác tích cực và có hiệu quả của các ngân hàng thương mại cũng như việc chấp hành qui định dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao hiệu quả cho vay và đầu tư. 1.1.3.2. Xu hướng phát triển của ngành ngân hàng Mặc dù xảy ra cuộc khủng hoảng cho vay thế chấp dưới chuẩn tại Mỹ và một số nền kinh tế phát triển khác trong thời gian gần đây, xét về dài hạn ngành dịch vụ ngân hàng vẫn có tiềm năng phát triển rất lớn. Xu hướng phát triển thứ nhất của ngành ngân hàng là hình thành các tập đoàn tài chính - ngân hàng đa chức năng, có khả năng đáp ứng hầu hết các nhu cầu về tài chính của khách hàng. Danh mục dịch vụ ngân hàng đang tăng lên nhanh chóng. Nhiều loại hình tín dụng và tài khoản tiền gửi mới đang được phát triển, các loại dịch vụ mới như tư vấn tài chính cá nhân, bảo hiểm, thẻ thông minh được các ngân hàng nghiên cứu và cung cấp cho khách hàng. Thực sự ngân hàng đã trở thành "bách hóa tài chính" ở kỷ nguyên hiện đại, nơi hầu hết nhu cầu về tài chính của khách hàng được đáp ứng. Công việc hợp nhất các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán… dưới một mái nhà chính là xu hướng mà người ta thường gọi là Universal Banking ở Mỹ, Canada và Anh, là Allginanz ở Đức, và Bancassurance ở Pháp [36]. Xu hướng thứ hai là áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong hoạt động ngân hàng để đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng và quản lý khách hàng, ví dụ như hệ thống máy rút tiền tự động (ATM) cho phép khách hàng rút tiền, 13 chuyển khoản và thanh toán dịch vụ, các máy thanh toán tiền dịch vụ (POS) lắp đặt tại các điểm bán hàng thay thế việc thanh toán bằng tiền mặt, dịch vụ ngân hàng điện tử (e-banking) cho phép các giao dịch ngân hàng được thực hiện qua internet mà khách hàng không cần phải trực tiếp đến giao dịch tại ngân hàng hay hệ thống chấm điểm tín dụng khách hàng tự động. Do đó, ngân hàng đang dần trở thành ngành kinh tế sử dụng ít lao động, sử dụng nhiều vốn và chi phí cố định. Như các ngành dịch vụ khác trong nền kinh tế, ngành ngân hàng cũng chịu tác động của xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế. Toàn cầu hóa mang lại cơ hội cho các ngân hàng phát triển vượt ra ngoài biên giới quốc gia và phát triển trên quy mô toàn cầu. Vào những năm 80, các ngân hàng Nhật, dẫn đầu là Dai-I Chi Kangyo Bank và Fuji Bank đã phát triển nhanh hơn hầu hết các đối thủ cạnh tranh trên khắp thế giới. Các ngân hàng lớn đặt trụ sở tại Pháp (dẫn đầu là Caisse Nationale de Credit Agricole), tại Đức (dẫn đầu là Deutsche Bank) và tại Anh (dẫn đầu là Barclays PLC) cũng trở thành những đối thủ nặng ký trên thị trường cho vay chính phủ và cho vay công ty. Ngày nay, các ngân hàng lớn nhất thế giới cạnh tranh với nhau trên tất cả các lục địa. Công nghệ hiện đại hỗ trợ hoạt động kinh doanh toàn cầu của các ngân hàng với chi phí tối thiểu [36]. 1.2. KHÁI QUÁT QUY ĐỊNH CỦA WTO VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG Trong số các điều ước quốc tế đa phương điều chỉnh lĩnh vực thương mại - dịch vụ, Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO là điều ước quốc tế có phạm vi lớn nhất, có nhiều quốc gia thành viên tham gia nhất. Mục tiêu của GATS là nhằm thiết lập các nguyên tắc và quy tắc của thương mại - dịch vụ nhằm mở rộng thương mại - dịch vụ trong điều kiện minh bạch và tự do hóa, ổn định các quan hệ thương mại thông qua các cam kết về chính sách trên cơ sở nguyên tắc đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia. 14 1.2.1. Vị trí dịch vụ ngân hàng trong GATS Kết cấu của GATS gồm: Lời nói đầu, Phần I - Phạm vi và định nghĩa, Phần II - Các nghĩa vụ và nguyên tắc chung, Phần III - Những cam kết cụ thể, Phần IV - Tự do hóa từng bước, Phần V - Những quy định về thể chế, Phần VI - Điều khoản cuối cùng, Phần các Phụ lục, Phần Quyết định về cơ chế của Hiệp định, Phần cuối cùng là thỏa thuận về các cam kết trong dịch vụ tài chính. Tại Điểm 5 Phụ lục về các dịch vụ tài chính của GATS đưa ra định nghĩa về dịch vụ tài chính như sau: Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một Thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm). Qua định nghĩa trên ta thấy dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính. Do vậy, dịch vụ ngân hàng chịu sự điều chỉnh của các quy định của GATS về dịch vụ tài chính, bên cạnh nhóm các quy định mang tính chất nguyên tắc chung đối với thương mại - dịch vụ. 1.2.2. Nội dung dịch vụ ngân hàng theo quy định của GATS Theo quy định tại Phụ lục của GATS về dịch vụ tài chính thì dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác (trừ bảo hiểm) gồm: i) Nhận tiền gửi hoặc đặt cọc và các khoản tiền có thể thanh toán khác của công chúng; ii) Cho vay dưới các hình thức, bao gồm tín dụng tiêu dùng, tín dụng thế chấp, bao tiêu nợ và tài trợ các giao dịch thương mại; iii) Thuê mua tài chính; iv) Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ tín dụng, thẻ thanh toán và báo nợ, séc du lịch và hối phiếu ngân hàng; v) Bảo lãnh và cam kết; 15 vi) Kinh doanh tài khoản của mình hoặc của khách hàng, dù tại sở giao dịch và trên thị trường không chính thức, hoặc các giao dịch khác về: (A) công cụ thị trường tiền tệ (gồm séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi); (B) ngoại hối; (C) các sản phẩm tài chính phái sinh, bao gồm nhưng không hạn chế các hợp đồng kỳ hạn (futures) hoặc hợp đồng quyền chọn (options); (D) các sản phẩm dựa trên tỷ giá hối đoái và lãi suất, gồm các sản phẩm như hoán vụ (swarps), hợp đồng tỷ giá kỳ hạn; (E) chứng khoán có thể chuyển nhượng; (F) các công cụ có thể chuyển nhượng khác và tài sản tài chính, kể cả kim khí quý. vii) Tham gia vào việc phát hành mọi loại chứng khoán, kể cả bảo lãnh phát hành và chào bán như đại lý (dù công khai hoặc theo thỏa thuận riêng) và cung cấp dịch vụ liên quan tới việc phát hành đó; viii) Môi giới tiền tệ; ix) Quản lý tài sản, như tiền mặt hoặc quản lý danh mục đầu tư, mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, dịch vụ bảo quản, lưu giữ và tín thác; x) Các dịch vụ thanh toán và quyết toán tài sản tài chính, bao gồm chứng khoán, các sản phẩm tài chính phái sinh và các công cụ thanh toán khác; xi) Cung cấp và chuyển thông tin về tài chính, xử lý dữ liệu tài chính và phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác; xii) Các dịch vụ về tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ khác liên quan đến các hoạt động nêu từ điểm (iv) đến (xi), kể cả tham khảo và phân tích tín dụng, nghiên cứu, tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn mua sắm và về cơ cấu lại hoặc chiến lược doanh nghiệp. 16
- Xem thêm -