Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới qua thực tiễn tỉnh Hưng Yên

  • Số trang: 94 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 18 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -------------------------------------- QUÁCH THỊ HƯƠNG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI QUA THỰC TIỄN TỈNH HƯNG YÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Chính trị học Hà Nội - 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN -------------------------------------- QUÁCH THỊ HƯƠNG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI QUA THỰC TIỄN TỈNH HƯNG YÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH TRỊ HỌC Chuyên ngành: Chính trị học Mã số 60.31.02.01 Người hướng dẫn: PGS, TS Vũ Hoàng Công Hà Nội - 2013 MỤC LỤC Nội dung Trang MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 3 1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 3 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ................................................ 5 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu................................................................ 6 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 7 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu ............................................... 7 6. Đóng góp của luận văn .............................................................................. 7 7. Kết cấu luận văn: ....................................................................................... 8 CHƢƠNG I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở NÔNG THÔN ............................................................................ 9 1.1. Vấn đề dân chủ trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng ....................................................................................................................... 9 1.2. Thực hiện Quy chế dân chủ ở nông thôn Hƣng Yên từ năm 1998-2010 ..................................................................................................................... 27 1.3. Kết quả, hạn chế, bài học kinh nghiệm trong khi thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phƣờng, thị trấn ........................................................................... 30 Kết quả thực hiện ............................................................................................ 30 Hạn chế, thiếu sót........................................................................................... 33 Bài học kinh nghiệm ...................................................................................... 34 CHƢƠNG 2. THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ..................................................... 37 2.1.Chủ trƣơng xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nƣớc .............. 37 2.1.1 Quan điểm của Đảng ...................................................................... 37 2.1.2 Phƣơng hƣớng ............................................................................... 41 2.1.3 Giải pháp ........................................................................................ 41 2.2. Hƣng Yên trong quá trình triển khai xây dựng nông thôn mới ........... 45 2.2.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh Hƣng Yên hiện nay 45 Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 45 2.2.2. Vai trò cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể trong xây dựng nông thôn mới thời gian qua .................................................................. 50 2.2.3 Vấn đề thƣ̣c hiê ̣n quy chế dân chủ trong xây dựng nông thôn mới58 Nông thôn trải qua xây dựng nông thôn mới đã có bước trưởng thành nhất định67 2.2.4 Những vấn đề đặt ra trong điều kiện xây dựng Nông thôn mới .... 73 2.2.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả quy chế dân chủ trong xây dựng nông thôn mới .................................................................................................. 76 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 87 Kiến nghị đề xuất ............................................................................................ 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 89 1 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT stt Cụm từ viết tắt Viết đầy đủ 1 CNXH Chủ nghĩa xã hội 2 QCDC Quy chế dân chủ 3 MTTQ Mặt trận tổ quốc 4 NTM Nông thôn mới 5 HĐND Hội đồng nhân dân 6 SDĐ Sử dụng đất 7 MTQG Mục tiêu quốc gia 8 GTNT Giao thông nông thôn 9 BCĐ Ban chỉ đạo 10 UBND Ủy ban nhân dân 11 UBTVQH Ủy ban thƣờng vụ quốc hội 12 HTCT Hệ thống chính trị 13 CNH,HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa 14 CNXH Chủ nghĩa xã hội 15 TBCN Tƣ bản chủ nghĩa 2 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng tƣ tƣởng ''Lấy dân làm gốc" và có nhiều thành công trong việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng nhƣ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. “Không thể có một CNXH thắng lợi mà lại không thực hiện dân chủ hoàn toàn” [31, tr.324]. Trong điều kiện hiện nay khi Đảng và nhà nƣớc đang phát động phong trào thi đua cả nƣớc chung tay xây dựng nông thôn mới và phấn đấu đến năm 2020 nƣớc ta trở thành nƣớc công nghiệp phát triển, thì điều quan trọng phải biết huy động đƣợc sức dân tham gia vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới, những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc ta đã ban hành nhiều Nghị định, Chỉ thị quan trọng về dân chủ trên các loại hình cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân để phát triển kinh tế - xã hội ổn định chính trị: Chỉ thị 30- CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Chỉ thị 22/1998/CT-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về việc triển khai thực hiện QCDC ở xã; Nghị định số 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, Pháp lệnh 34/2007/PL của Ủy ban thƣờng vụ quốc hội về thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phƣờng, thị trấn, Nghị định 71/1998 quy định về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ quan hành chính và Nghị định 07/1999 quy định về Quy chế dân chủ ở doanh nghiệp nhà nƣớc... Đây là một bƣớc tiến lớn thể hiện sự quyết tâm củng cố, hoàn thiện và phát triển nền dân chủ XHCN của Đảng và Nhà nƣớc ta, đồng thời cũng là phƣơng thức giải quyết các nhiệm vụ, mục tiêu chung của đất nƣớc trong công cuộc đổi mới. 3 Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định vị trí và tầm quan trọng của dân chủ nhằm mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Thực tiễn cho thấy ở đâu cấp ủy đảng nhận thức rõ và quan tâm chăm lo đúng mức tới việc triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở thì ở đó kinh tế phát triển, đời sống nhân dân cải thiện, chính trị ổn định, củng cố niềm tin của Đảng, chính quyền với nhân dân. Ngƣợc lại nếu ở địa phƣơng nào thiếu quan tâm đến dân chủ và thực hiện dân chủ hình thức, qua loa thì ở đó chính trị mất ổn định, đời sống nhân dân gặp khó khăn, đơn thƣ vƣợt cấp kéo dài dẫn đến mất ổn định chính trị trở thành điểm nóng nhƣ Thái Bình, Hƣng Yên đã từng xảy ra. Hƣng Yên là tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ Sông Hồng, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm miền Bắc (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nhờ đó Hƣng Yên có thể chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế, theo hƣớng công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Nông nghiệp nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, hiê ̣n nay các xã trong toàn tỉnh đang hăng hái thực hiện phong trào thi đua “Cả nƣớc chung tay xây dựng nông thôn mới”. Quan điểm cốt lõi trong xây dựng nông thôn mới là phong trào quần chúng rộng lớn, phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, có sự tham gia tích cực chủ động của mỗi ngƣời dân, mỗi cộng đồng dân cƣ, cần phát huy dân chủ và sự đóng góp của mỗi ngƣời dân, dựa vào dân để xây dựng nông thôn mới. Do vậy vấn đề dân chủ là rất quan trọng, vừa là mục tiêu, vừa là động lực, là giải pháp mấu chốt, quyết định sự thành công trong xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên đến nay đã đƣợc ba năm bƣớc đầu đã đạt đƣợc kết quả ban đầu đáng mừng (nhƣ cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng và củng cố, đời sống nhân dân đƣợc cải thiện, bộ mặt 4 nông thôn văn minh và ngày càng đổi mới). Song cũng còn nhiều việc phải làm, nhiều vấn đề nảy sinh phải giải quyết. Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên tôi chọn đề tài thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong xây dựng nông thôn mới qua thực tiễn ở tỉnh Hƣng Yên. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Vấn đề dân chủ, dân chủ ở cơ sở, quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở từ lâu đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà khoa học, những ngƣời làm công tác lý luận nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này của các cá nhân, tập thể đƣợc công bố. Ví dụ các cuốn sách nhƣ: - Bàn về một số vấn đề về nông thôn nƣớc ta hiện nay - GS Hồ Văn Thông. -Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tiến trình đổi mới - GS Hoàng Chí Bảo. - Hệ thống chính trị cơ sở - TS Vũ Hoàng Công - NXB chính trị Quốc gia năm 2002. Và rất nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các đề tài đã đƣợc nghiệm thu, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, về vấn đề dân chủ cơ sở nhƣ. - Luận văn thạc sỹ triết học của thạc sỹ Vũ Quỳnh Lê: Đề tài Thực hiện dân chủ ở nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay. - Luận văn thạc sỹ triết học của thạc sỹ Dƣơng Thị Khánh Ly Đề tài Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện nay. Các công trình nghiên cứu kể trên đã đi sâu nghiên cứu việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với việc tăng cƣờng củng cố, hoàn thiện hệ thống chính trị ở cơ sở. Các công trình đó cũng đã cố gắng làm rõ bản chất, nội dung, tính chất và cơ chế thực hiện dân chủ ở cơ sở nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Các tác giả cũng đã phân tích, lý giải, yêu cầu, 5 chỉ ra phƣơng hƣớng và giải pháp nhất định nhằm bảo đảm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nâng lên tầm cao mới phù hợp với xu hƣớng của thời đại. Đó là những kết quả bƣớc đầu là tƣ liệu quý giá để tác giả tham khảo kế thừa tiếp thu để tiếp tục làm căn cứ nghiên cứu đề tài. Tuy nhiên từ khi phát động phong trào xây dựng nông thôn mới thì chƣa có công trình nghiên cứu nào về dân chủ cơ sở trong xây dựng nông thôn mới. Từ đó nghiên cứu đề tài thực hiện quy chế dân chủ trong xây dựng nông thôn mới qua thực tiễn tỉnh Hƣng Yên và có đóng góp của luận văn về lĩnh vực xây dựng nông thôn mới. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là phân tích thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ, chỉ ra những hạn chế, tồn tại: -Bƣớc đầu hệ thống hóa vấn đề lý luận trong trong xây dựng nông thôn mới. -Đề xuất những kiến nghị nâng cao chất lƣợng quy chế dân chủ ở cơ sở và giải pháp để thực hiện QCDC trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hƣng Yên hiện nay. Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: - Làm rõ vai trò ý nghĩa của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đối với phát triển nông thôn nƣớc ta nói chung, tỉnh Hƣng Yên nói riêng. - Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện QCDC trong xây dựng nông thôn mới ở của tỉnh Hƣng Yên. - Đề xuất những phƣơng hƣớng, giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hƣng Yên. 6 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Luận văn nghiên cứu về vấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ trong xây dựng nông thôn mới ở nông thôn tỉnh Hƣng Yên hiện nay. - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu việc thực hiện QCDC ở các xã, phƣờng, thị trấn ở tỉnh Hƣng yên (Từ năm 1998 đến nay). Trong đó tập trung vào giai đoạn 2011-2013 (từ khi triển khai phong trào xây dựng nông thôn mới). 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, các chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Bên cạnh đó, kế thừa, chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học đã đƣợc công bố về vấn đề dân chủ cơ sở. Phương pháp nghiên cứu: Từ góc độ chính trị xã hội vận dụng các phƣơng pháp lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp và so sánh, đồng thời sử dụng phƣơng pháp điều tra xã hội học để thực hiện luận văn. 6. Đóng góp của luận văn -Phân tích quá trình thực hiện QCDC ở cơ sở từ khi triển khai phong trào xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên. - Khái quát những thành tựu bƣớc đầu; những hạn chế và nguyên nhân thực hiện dân chủ trong xây dựng nông thôn mới. -Đề xuất những phƣơng hƣớng và những giải pháp cụ thể, phù hợp, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới của tỉnh. 7 7. Kết cấu luận văn: Gồm: phần mở đầu, 2 chƣơng, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo. 8 CHƢƠNG I TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở NÔNG THÔN 1.1. Vấn đề dân chủ trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng Xung quanh quan niệm về dân chủ, cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, luận bàn. Ở đây chúng tôi chỉ kế thừa và nêu lên một số nét có tính chất khái quát. Dân chủ là một khái niệm đa nghĩa, phức tạp, thuộc phạm trù chính trị có nguồn gốc từ xã hội Hy Lạp cổ đại. Ở đây, "dân chủ" là một từ ghép bao gồm hai chữ: Dêmos, có nghĩa là ngƣời bình dân, là dân chúng (không phải là quý tộc, cũng không phải là nô lệ), và Kratia - có nguồn gốc từ chữ Kratos có nghĩa là quyền lực cai trị, sức mạnh. Do vậy, từ nguyên Dêmos Kratia có nghĩa là dân chủ, quyền lực, là sự thống trị, nền cai trị của ngƣời bình dân. Nó đƣợc biểu hiện theo nghĩa đối lập với chế độ độc tài. Theo đó, dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân; dân chủ là sự cai trị của nhân dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực, trong đó quyền lực chính trị là quan trọng nhất để tổ chức, quản lý xã hội, thực hiện sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con ngƣời. Từ khi xuất hiện cho đến nay nội dung của khái niệm dân chủ đƣợc chuyển hóa ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới. "Dân chủ" có nghĩa chung là quyền lực của ngƣời bình dân, quyền làm chủ xã hội, và làm chủ bản thân con ngƣời, là quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội. Càng ngày, khái niệm dân chủ càng đƣợc mở rộng nhiều hơn, mang nhiều nội dung mới mẻ hơn, nó đƣợc gắn với ý thức chính trị, gắn với chính quyền của nhân dân, gắn với tiến trình lịch sử của xã hội loài ngƣời. Đồng thời nó còn là giá trị xã hội nhân văn, đánh dấu 9 những nấc thang tiến bộ của xã hội loài ngƣời. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, ở buổi bình minh của lịch sử nhân loại, trƣớc sức mạnh huyền bí của thiên nhiên hoang sơ, để tồn tại và phát triển, con ngƣời buộc phải gắn bó với nhau thành cộng đồng để tạo nên sức mạnh cộng đồng. Và con ngƣời, ngay từ buổi đầu ấy đã sử dụng sức mạnh cộng đồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do, quyền mƣu cầu hạnh phúc. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ đƣợc xây dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mang bản chất giai cấp công nhân, dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản để thực hiện và đảm bảo quyền làm chủ thực sự của đông đảo nhân dân đối với xã hội. Hồ Chí Minh là nhà lí luận và thực hành dân chủ tiêu biểu của Việt Nam trong thế kỷ XX. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo và phát triển tƣ tƣởng dân chủ của C.Mác, F.Ăngghen, V.I. Lê nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Ngƣời không chỉ nêu lên hệ thống những quan điểm về vai trò, bản chất của dân chủ mà còn chỉ ra những giải pháp quan trọng nhằm xây dựng một nền dân chủ mới gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con ngƣời ở Việt Nam trong thời đại mới, từ sau thắng lợi cách mạng Tháng Mƣời Nga Khi bàn về vai trò của dân chủ, Hồ Chí Minh là ngƣời nhìn thấy rõ sức mạnh của nhân dân: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới này không gì mạnh bằng lực lƣợng đoàn kết của nhân dân. Và chính Ngƣời đã huy động sức mạnh của toàn dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình, góp phần đƣa dân tộc Việt Nam từ địa vị nô lệ tới độc lập tự do, đƣa nhân dân ta lên địa vị là chủ đất nƣớc, làm chủ xã hội. Ngƣời luôn tìm mọi cách để làm cho nhân dân biết hƣởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Việc giáo dục dân tự ý thức đƣợc vai trò làm chủ xã hội ở một dân tộc hàng ngàn năm bị phong kiến phƣơng Bắc đô 10 hộ, hàng trăm năm bị chủ nghĩa thực dân thống trị và trình độ dân trí thấp nhƣ ở nƣớc ta là điều Ngƣời luôn trăn trở, dồn hết tâm lực để tranh đấu, thực hiện. Với Hồ Chí Minh, “dân chủ là của quý nhất của nhân dân ” [25, tr.279] thực hành dân chủ một cách rộng rãi là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Từ việc khẳng định địa vị pháp lý (dân là chủ) đến việc hiện thực hóa lý tƣởng đó, Ngƣời luôn đòi hỏi phải nâng cao vai trò, năng lực không chỉ ở chủ thể lãnh đạo, quản lý trong việc hoàn thiện thể chế, cơ chế mà quan trọng hơn nữa là tạo mọi điều kiện cho nhân dân đủ năng lực và bản lĩnh làm chủ. Là nhà tƣ tƣởng, nhà tổ chức của cách mạng Việt Nam, Ngƣời đã giải quyết thấu tình, đạt lý những nội dung đó hơn ai hết, Hồ Chí Minh thấy rõ dân chủ là động lực, là sức mạnh để xây dựng một xã hội ấm no, tự do bình đẳng, hạnh phúc. Chính vì vậy, Ngƣời luôn nhắc nhở cán bộ lãnh đạo rằng: Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên đƣợc tất cả lực lƣợng của nhân dân, đƣa cách mạng tiến lên. Nhƣ thế, dân chủ không chỉ là quyền lực thuộc về nhân dân, làm cách mạng trao quyền làm chủ cho nhân dân lao động là đủ, mà quan trọng hơn là bằng phƣơng pháp quản lý dân chủ để làm sao cho nhân dân biết hƣởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Tƣ tƣởng ấy có sức mạnh khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân. Khi bàn về bản chất của dân chủ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nƣớc ta là nƣớc dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [22, tr.515]. Điều đó có nghĩa là, Ngƣời đã xác định trên thực tế địa vị ngƣời chủ của nhân dân đối với xã hội, đất nƣớc. Đây là sự khẳng định quan trọng thể hiện sự thay đổi mang tính cơ bản trong vị thế, tƣ cách của nhân dân trong đời sống xã hội. Tuy nhiên giữa địa vị “là chủ” và trình độ “làm chủ” của nhân dân trên thực tế có khoảng cách rất lớn. “Là chủ” nhƣng chƣa hẳn đã có thể “làm chủ” bởi có thể làm chủ trên danh nghĩa chứ chƣa đƣợc làm chủ trên thực tế. Từ “dân là chủ” đến “dân làm chủ” là cả một quá trình phát triển và trƣởng thành về năng lực thực hành về 11 dân chủ của nhân dân. Điều đó hoàn toàn không dễ dàng, nếu không nói là hết sức khó khăn, phức tạp. Để dân chủ trở thành một tổ chức nhà nƣớc, thông qua tổ chức và quản lý của Nhà nƣớc mà nhân dân thực hiện quyền lực của mình đối với xã hội, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng chế độ dân chủ, thể chế chính trị và thể chế nhà nƣớc dân chủ, trong đó có thể chế dân chủ của Đảng, nhất là khi Đảng đã ở vào vị trí cầm quyền. Thực chất của chế độ dân chủ chính là chế độ ủy quyền của dân vào nhà nƣớc và nhà nƣớc là cơ quan quyền lực của nhân dân, thực thi sự ủy quyền của dân. Xây dựng thể chế thì trƣớc hết phải xây dựng chính quyền Nhà nƣớc mà chính quyền đó phải là chính quyền dân chủ, ngƣời chủ thực sự không ai khác chính là nhân dân. Hồ Chí Minh không chỉ đề cập tới vai trò của Nhà nƣớc nói chung mà còn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Chính phủ - cơ quan hành pháp của Nhà nƣớc. Chính phủ điều hành, quản lý nhà nƣớc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Một chính phủ tốt phải là Chính phủ do dân cử ra, mỗi thành viên trong Chính phủ phải trực tiếp do dân lựa chọn: Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ƣơng do dân cử ra. Để xứng đáng với sự ủy thác, tin cậy của dân chúng thì Chính phủ phải hành động vì lợi ích của nhân dân, nhiệm vụ của Chính phủ là ngƣời đầy tớ trung thành, tận tụy của nhân dân, nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ, Hồ Chí Minh đã xác lập một hệ thống các quan điểm về những vấn đề nhà nƣớc từ lựa chọn mô hình nhà nƣớc dân chủ đến một loạt chƣơng trình hành động cụ thể, chi tiết cho sự ra đời của nhà nƣớc đó ở Việt Nam ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, xây dựng Nhà nƣớc đó thực sự là Nhà nƣớc dân chủ. Đó là kết quả của trình độ, phƣơng pháp sáng tạo trong quản lý, trong thực hành dân chủ, là hệ quả của cả một quá trình khảo sát, kiểm nghiệm lựa chọn, xác định mô hình thể chế của nhà hoạt động chính trị Hồ Chí Minh. Lần đầu tiên trong lịch sử nƣớc nhà, chính quyền nhà nƣớc đã đƣợc trao vào tay “dân chúng số nhiều” nhƣ ƣớc nguyện cũng là bài học lịch sử mà Chủ 12 tịch Hồ Chí Minh đã rút ra từ kinh nghiệm của các cuộc cách mạng đi trƣớc, để tránh cho nhân dân khỏi hy sinh nhiều lần, để dân chúng đƣợc thực sự hạnh phúc. Giá trị xã hội đích thực của dân chủ là giành về cho đại đa số nhân dân lao động quyền lực của chính họ thông qua đấu tranh cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Đó là quyền dân chủ, quyền tự do, công bằng, bình đẳng thực sự của quần chúng nhân dân. Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động chính trị của mình từ khi ý thức đƣợc nỗi nhục mất nƣớc, ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc đến khi phải từ giã cõi đời, Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm cho nƣớc nhà đƣợc độc lập, nhân dân đƣợc tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đƣợc học hành. Ngƣời đã làm tất cả để thực hiện Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho Tổ quốc, dân tộc và nhân dân. Ngƣời đã rút ra một chân lý vĩnh hằng không chỉ cho dân tộc mà còn cho cả nhân loại “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Trong “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra chế độ Dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945 ở Việt Nam, Ngƣời đã thể hiện ý chí và quyết tâm của cả dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do: “Nƣớc Việt Nam có quyền hƣởng tự do và độc lập, và thực sự đã trở thành nƣớc tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tinh thần và lực lƣợng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[ 22, tr.4]. Đó chính là tuyên ngôn về dân chủ gắn liền với tự do, bình đẳng và công bằng xã hội, thể hiện khát vọng chính đáng về quyền dân chủ và làm chủ của nhân dân Việt Nam, khẳng định thành quả vĩ đại của cuộc đấu tranh vì dân chủ mà nhân dân Việt Nam đã giành đƣợc với một ý chí quyết không gì lay chuyển nổi cùng tinh thần đoàn kết muôn ngƣời nhƣ một của dân tộc Việt Nam để giữ vững nguồn của cải vô giá đó của nhân dân. “Nhƣng nếu nƣớc đƣợc độc lập mà nhân dân không hƣởng tự do, hạnh phúc, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [ 22, tr.56]. Vì vậy, tiêu ngữ: Việt Nam dân chủ cộng hòa, Độc lập - Tự do - Hạnh phúc có một ý nghĩa lịch sử thiêng liêng, nó là mục tiêu phấn đấu của cả dân tộc Việt Nam thể hiện đầy đủ, toàn diện nội dung nhân quyền và dân quyền mà bất cứ quốc gia văn minh 13 nào cũng phải hƣớng tới. Giải phóng con ngƣời, thực hiện tự do và hạnh phúc của con ngƣời, đó là mục tiêu phấn đấu cao nhất, thƣờng xuyên chi phối mọi suy nghĩ và hành động của Hồ Chí Minh Dù là nói đến nhiệm vụ của Đảng hay của Chính Phủ, dù là nói đến việc lớn nhƣ kế hoạch xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa hay nói đến việc nhỏ nhƣ sinh hoạt hàng ngày của cá nhân, bao giờ Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh phải chăm lo đến con ngƣời, tạo điều kiện cho con ngƣời có những khả năng và điều kiện tốt nhất để phát triển, thấu hiểu tâm trạng, nguyện vọng của quần chúng, tôn trọng nhân cách của từng ngƣời một. Đó là chiều sâu giá trị nhân văn của dân chủ theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Trong một xã hội dân chủ, con ngƣời có điều kiện rèn luyện tài năng, đạo đức để phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình. Đó là nhân cách của ngƣời lao động làm chủ, có tài và có đức mà đức là gốc nhƣ Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: lời nói đi đôi với việc làm, lấy phục vụ nhân dân làm lẽ sống của mình, đó là những con ngƣời: trung với nƣớc, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vƣợt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Về xây dựng chế độ dân chủ, đối với Hồ Chí Minh, để xác lập chế độ dân chủ thì việc xây dựng một nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng bởi đó là cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân trong thực tế. Trƣớc hết nhà nƣớc ta là nhà nƣớc của dân, ngay từ khi giành đƣợc chính quyền (8-1945), Ngƣời đã cùng toàn thể đồng bào lập tức bắt tay vào một công việc trọng đại là thiết lập một nhà nƣớc dân chủ của dân tộc Việt Nam, một nhà nƣớc mà: “Tất cả quyền bình trong nƣớc là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt giống nòi, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập (2-91945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì phiên họp Chính phủ lâm thời (3-9), Ngƣời nêu rõ: Những nhiệm vụ cấp bách của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gồm 6 điểm trong đó có việc đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay 14 cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Trong tuyển cử 6-1-1946, toàn dân đã đi bầu cử, mọi ngƣời tự do ứng cử và lựa chọn đại biểu của mình. Với một đất nƣớc còn đang ngổn ngang khó khăn và nền độc lập mới giành đƣợc 4 tháng đang ở tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, một Quốc hội, một Chính phủ qua Tổng tuyển cử hợp pháp đã ra đời. Đây là một Nhà nƣớc có đầy đủ tƣ cách gánh vác trách nhiệm lớn lao trƣớc dân tộc, đất nƣớc. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một nhà nƣớc của dân đƣợc lập ra bằng con đƣờng bầu cử theo chế độ bầu cử phổ thông, trực tiếp, bình đẳng và bỏ phiếu kín - một chế độ bầu cử dân chủ, tiến bộ của thế giới đƣơng đại mà ở Việt Nam ngay trong năm đầu của chính quyền cách mạng đã thực hiện đƣợc. Đây là hình thức chủ yếu nhất để nhân dân chọn ngƣời mình ủy quyền, ở đây, quyền hành, công việc, lực lƣợng mà cơ quan, nhân viên Nhà nƣớc thực hiện bắt nguồn từ sự ủy quyền của dân. Nhân viên, cơ quan nhà nƣớc chỉ là ngƣời đƣợc giao, đƣợc ủy thác và là ngƣời “đầy tớ” thừa hành, gánh vác công việc trong phạm vi khuôn khổ đƣợc giao và phải đƣợc nhân dân thƣờng xuyên kiểm tra, giám sát. Nhƣ thế, đủ thấy thực chất của nhà nước dân chủ là nhà nước của dân. Đây là vấn đề đƣợc thể hiện đậm nét trong tƣ tƣởng dân chủ của Hồ Chí Minh. Cùng với xây dựng một nhà nƣớc của dân, Hồ Chí Minh rất chăm lo đến xây dựng một nhà nƣớc do dân, vì dân. Ngƣời hiểu nhân dân là một lực lƣợng vô cùng hùng hậu, “Lực lƣợng toàn dân là lực lƣợng vĩ đại hơn ai hết. Không ai chiến thắng đƣợc lực lƣợng đó” [22, tr.20]. Vấn đề lớn đặt ra mà Hồ Chí Minh quan tâm giải quyết là mối quan hệ giữa nhà nƣớc và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lƣợng. Nếu không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đƣờng. Vậy Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết lại thành một khối” [22, tr.56]. Đây là một quan điểm hết sức cơ bản trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về một nhà nƣớc do dân. Nhà nƣớc và Chính Phủ do nhân dân bầu nên không phải để làm thay nhân dân, thay xã hội 15 mà để tổ chức các hoạt động của nhân dân trong những khuôn khổ pháp luật quy định và để thực hiện đúng đắn các quyền của dân chúng, đem lại lợi ích thiết thân hàng ngày cho dân chúng. Lý do tồn tại của Nhà nƣớc, Chính Phủ là ở sự đảm trách vai trò của ngƣời điều hành, quản lý. Mặt khác dân có quyền làm chủ thì cũng phải có nghĩa vụ của ngƣời làm chủ. Lực lƣợng ở nơi dân, nhà nƣớc muốn làm bất kỳ việc gì đều phải dựa vào sức dân, thông qua việc huy động nhân tài, vật lực của dân. Vì vậy, nhà nƣớc của dân, do dân giao quyền, ủy quyền phải đƣợc làm nhiệm vụ “đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”.[21,tr.61] Xét đến cùng, một nhà nƣớc của dân, do dân xây dựng nên phải là một nhà nƣớc vì dân - một nhà nƣớc tồn tại và hoạt động vì lợi ích của toàn thể nhân dân, không vì một nhóm hay một tập đoàn xã hội nào nhƣ nhà nƣớc ở các xã hội cũ. Nhà nƣớc của ta ngoài lợi ích phục vụ dân chúng không vì lợi ích nào khác. Đó là bản chất của nhà nƣớc ta, Ngƣời đòi hỏi mọi việc làm của Nhà nƣớc phải thể hiện rõ bản chất đó: “Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta” [ 22, tr.56-57]. Ngƣời nhắc nhở chính quyền các cấp phải tránh cho đƣợc các lầm lỗi, khuyết điểm, những thói hƣ tật xấu nhƣ những chứng bệnh vốn dễ tập nhiễm trong các cơ quan quyền lực nhà nƣớc nhƣ: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tƣ túng, cục bộ, chia rẽ, kiêu ngạo… Hồ Chí Minh yêu cầu mọi chủ trƣơng, chính sách, mọi quy định của nhà nƣớc từ trung ƣơng đến địa phƣơng đều phải xuất phát từ lợi ích của dân. Mọi cán bộ Nhà nƣớc đều vì dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tƣ. Cao hơn nữa, một nhà nƣớc vì dân phải đảm bảo cho dân có đƣợc cuộc sống ấm no, hạnh phúc, Ngƣời đã chỉ ra một cách rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nƣớc, của Đảng đối với dân. “Nếu dân đói, Đảng và chính phủ có lỗi” [25, tr.572]. Nhà nƣớc của dân, nhà nƣớc do dân và nhà nƣớc vì dân đó là ba đặc trƣng cấu thành của một nhà nƣớc kiểu mới mà Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác- Lê 16 nin về nhà nƣớc để xây dựng chính quyền cách mạng ở nƣớc ta. Ba đặc trƣng này gắn bó hữu cơ với nhau và đƣợc thể hiện nhất quán trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Cùng với tổ chức bộ máy nhà nƣớc, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật là một công việc có phần quan trọng đặc biệt đối với nhà nƣớc, đối với việc xây dựng nền dân chủ cho đa số. Do vậy, theo Hồ Chí Minh nhà nƣớc kiểu mới– nhà nƣớc của dân, do dân, vì dân thì tất yếu phải là một nhà nƣớc pháp quyền dân chủ mạnh, sáng suốt, tổ chức và hoạt động theo pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật. Hồ Chí Minh rất coi trọng việc xây dựng pháp luật. Theo Ngƣời, một nhà nƣớc kiểu mới phải là một nhà nƣớc dân chủ và pháp luật phải gắn liền với nhau, nƣơng tựa vào nhau. Mọi quyền dân chủ của ngƣời dân phải đƣợc thể chế hóa bằng hiến pháp và pháp luật, ngƣợc lại hệ thống pháp luật đảm bảo cho quyền tự do, dân chủ của ngƣời dân phải đƣợc tôn trọng và thi hành trong thực tế. Hồ Chí Minh đòi hỏi không chỉ nhân dân mà các cơ quan nhà nƣớc, các cơ quan đảng và của toàn thể cán bộ, đảng viên công chức cũng phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng tính tối cao của pháp luật. Đồng thời, Ngƣời cũng đòi hỏi phải trừng trị rất nghiêm những kẻ phạm tội, nhất là đối với những tội đƣa và nhận hối lộ, tham ô, trộm cắp của công. Phải thực hiện nghiêm minh pháp luật trong xét xử, phải thực hiện sự bình đẳng của tất cả đối với mọi công dân trƣớc pháp luật. Điều đặc sắc trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nhà nƣớc pháp quyền dân chủ là sự kết hợp giữa pháp luật và đạo đức. Ở Ngƣời, hai yếu tố đó không hề mâu thuẫn mà còn thống nhất với nhau một cách biện chứng. Ngƣời chủ trƣơng “ đức” là để cảm hóa, ngăn cản những thói hƣ tật xấu, hạn chế “cái ác” nảy sinh, do đó hạn chế những hành vi phạm pháp ở mỗi con ngƣời. Trong quản lý, ở đâu pháp luật không tới thì ở đó là lĩnh vực điều chỉnh của đạo đức - đây chính là chỗ gặp nhau giữa đức trị và pháp trị. Đó cũng là sự kết hợp hài hòa, sáng taọ giữa chủ nghĩa Mác- Lê nin với những tinh hoa của nền văn hóa dân tộc và văn minh nhân loại trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về một nhà nƣớc kiểu mới, nhà 17 nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Nhà nƣớc đó phải thể hiện sâu sắc các giá trị pháp lý và nhân văn của dân chủ. Xây dựng và củng cố nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân thực chất là xây dựng một nhà nƣớc tiêu biểu cho quyền lực chính trị của toàn dân. Một khi nền dân chủ đƣợc thực hiện triệt để thông qua việc quản lý và tổ chức các quá trình dân chủ nhà nƣớc, thì pháp luật của nhà nƣớc chính là sự kết đọng tinh thần dân chủ, bởi pháp luật đó là ý chí chung của toàn dân. Để quyền dân chủ của nhân dân đƣợc thực hiện, để quyền lực nhà nƣớc đƣợc đảm bảo, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh ba yếu tố: Hiến pháp, pháp luật và bộ máy chính quyền, Ngƣời yêu cầu: phải có hiến pháp thích hợp với sự phát triển của chế độ, bảo đảm được quyền tự do dân chủ cho các tầng lớp nhân dân; phải có luật pháp thực sự dân chủ vì nó bảo vệ quyền tự do dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động; phải có một bộ máy chính quyền có đủ năng lực, phẩm chất, tinh giản, nhạy bén để phục vụ nhà nước có hiệu quả và gắn bó, liên hệ mật thiết với dân chúng. Chỉ có một thiết chế dân chủ có hiệu quả thì nhân dân mới thực sự có quyền, mới có những điều kiện về cơ chế, về pháp luật và về tổ chức có thể “kiểm soát ” đƣợc bộ máy chính quyền, cái công cụ của mình, mà nó luôn có khuynh hƣớng thoát li khỏi quyền lực của nhân dân để xa rời “dân chủ” và trở thành “quan chủ”. Trong xây dựng chế độ dân chủ, Hồ Chí Minh không chỉ coi trọng vai trò của Nhà nƣớc mà Ngƣời còn nhấn mạnh vai trò của Đảng cầm quyền. Ngay từ những ngày đầu tiên, khi Đảng trở thành đảng cầm quyền, Ngƣời đã giành sự quan tâm đặc biệt cho công tác xây dựng Đảng. Tiêu biểu cho sự quan tâm, chăm lo của ngƣời đối với nhiệm vụ xây dựng Đảng là, Ngƣời dành nhiều thời gian viết cuốn sách: Sửa đổi lối làm việc (1947). Đây thực chất là cuốn “sách gối đầu giường” cho cán bộ tu dƣỡng bản 18
- Xem thêm -