Thực hiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam Luận văn ThS. Luật

  • Số trang: 97 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 92 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27462 tài liệu

Mô tả:

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Hồng Linh 3 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ 5 CẠNH TRANH 1.1. Khái niệm về cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh 5 1.1.1. Khái quát chung về cạnh tranh 5 1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh 5 1.1.1.2. Nhận dạng cạnh tranh 6 1.1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường 8 1.1.2. Pháp luật và thực hiện pháp luật về cạnh tranh 9 1.1.3. Quan điểm, cách nhìn nhận về cạnh tranh và độc quyền ở Việt Nam 13 1.2. Thực trạng cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh hiện nay ở Việt Nam 14 1.2.1. Thực trạng về cạnh tranh ở Việt Nam 14 1.2.2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật có liên quan đến cạnh tranh 22 1.2.2.1. Các nguyên tắc chung 22 1.2.2.2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cạnh tranh 23 Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CẠNH 37 TRANH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM 2.1. Nhu cầu điều tiết cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam 37 2.2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật cạnh tranh chuyên ngành 38 4 viễn thông 2.2.1. Thực trạng điều chỉnh trong pháp luật chuyên ngành viễn thông về kiểm soát độc quyền (hạn chế cạnh tranh) 40 2.2.2. Thực trạng điều chỉnh trong pháp luật chuyên ngành viễn thông về cạnh tranh không lành mạnh 42 2.3. Tình hình thực hiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông ở Việt Nam 43 2.3.1. Tình hình cạnh tranh nói chung trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông ở Việt Nam 43 2.3.1.1. Tình hình cạnh tranh trong khai thác dịch vụ điện thoại cố định 44 2.3.1.2. Tình hình cạnh tranh trong khai thác dịch vụ di động 48 2.3.1.3. Tình hình cạnh tranh trong khai thác dịch vụ Internet 50 2.3.2. Tình hình thực hiện pháp luật liên quan đến các hành vi kiểm soát độc quyền (hạn chế cạnh tranh) 51 2.3.3. Tình hình thực hiện pháp luật liên quan đến các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. 58 2.3.3.1. Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực giá cước 59 2.3.3.2. Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực công nghệ 60 2.3.3.3. Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo, khuyến mại 62 2.4. Ảnh hưởng của kinh tế quốc tế và xu hướng cạnh tranh đối với hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông ở Việt Nam 65 2.4.1. Các thỏa thuận quan trọng mà ngành viễn thông đã tham gia 65 2.4.1.1. Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 65 2.4.1.2. Diễn đàn Hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) 66 2.4.1.3. Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 67 2.4.1.4. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 67 2.4.2. Các tác động ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng cạnh tranh các dịch vụ viễn thông 5 70 2.4.2.1. Đối với các dịch vụ gia tăng giá trị 70 2.4.2.2. Đối với các dịch vụ thông tin cơ bản và dịch vụ thoại cơ bản 70 2.4.2.3. Về vốn đầu tư và con người 71 2.4.2.4. Về công nghệ 72 Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM THÚC ĐẦY VÀ BẢO VỆ 73 CẠNH TRANH LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM 3.1. Dự báo về sự thay đổi của thị trường viễn thông Việt Nam 73 3.2. Giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông ở Việt Nam 78 3.2.1. Nâng cao nhận thức và tư duy về cạnh tranh 78 3.2.2. Xây dựng chuẩn mực về văn hóa doanh nghiệp 78 3.2.3. Khuyến khích cạnh tranh và hợp tác giữa các doanh nghiệp trong lĩnh vực viễn thông 80 3.2.4. Hướng dẫn và hỗ trợ thành lập hội người tiêu dùng các dịch vụ viễn thông 81 3.3. Kiến nghị nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh ở Việt Nam 81 3.3.1. Về hệ thống văn bản pháp lý liên quan đến chính sách cạnh tranh nói chung 81 3.3.1.1 Về xác định vị trí thống lĩnh thị trường 81 3.3.1.2. Rà soát, cụ thể hóa một số nội dung của Luật và văn bản hướng dẫn 83 3.3.1.3. Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật cạnh tranh 84 3.3.2. Về hệ thống văn bản quản lý về lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông 84 KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 6 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Trong những năm qua, với chủ trương đi thẳng vào công nghệ hiện đại và với chiến lược tăng tốc hết sức mạnh dạn, ngành viễn thông Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc. Các dịch vụ viễn thông không chỉ được phổ cập rộng rãi tới khắp mọi miền đất nước, mà còn thực sự tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển hơn. Tuy nhiên, cũng như hầu hết các doanh nghiệp khác ở nước ta, mức độ sẵn sàng tham gia cạnh tranh và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của các doanh nghiệp viễn thông còn thấp. Hiện nay, ngoài Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), trên thị trường dịch vụ viễn thông đã và đang cạnh tranh rất mạnh bởi sự tham gia của nhiều nhà khai thác viễn thông khác như SPT, Viettel, Vishipel, EVN Telecom, Hanoi Telecom... Chính sách tự do hóa thị trường dịch vụ viễn thông đang đặt ra cho các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông Việt Nam những thách thức to lớn - đó là cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của viễn thông và tin học cho phép các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới vào khai thác nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Điều đó làm cho yếu tố cạnh tranh trên thị trường dịch vụ viễn thông càng thêm sôi động. Vấn đề cạnh tranh cần được các doanh nghiệp cùng tham gia cung cấp dịch vụ viễn thông coi trọng và hiểu rõ trong chiến lược phát triển của mình. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của ngành, các quy định pháp lý của Nhà nước về vấn đề này còn rất tản mạn, nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, thậm chí đôi khi còn chồng chéo và mâu thuẫn với nhau. Điều đó dễ tạo ra một cách nhìn nhận không đầy đủ hoặc thiếu chính xác về cạnh tranh, độc quyền và chống độc quyền trong lĩnh vực viễn thông. 7 Chính vì vậy, đề tài "Thực hiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam" được lựa chọn nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp bậc học thạc sĩ. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Thực hiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông không phải là vấn đề quá mới mẻ ở Việt Nam. Đã có nhiều bài báo cũng như những công trình nghiên cứu về vấn đề này nhưng chủ yếu đề cập đến việc thực hiện pháp luật cạnh tranh nói chung, cũng có bài viết về một số hiện tượng, hành vi hạn chế cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông, nhưng chưa có một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về thực hiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam. Các giáo trình, sách chuyên khảo về thực hiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông hầu như không có, mà chỉ có xuất bản về thực hiện pháp luật cạnh tranh nói chung... Cho đến nay, đây là đề tài thạc sĩ đầu tiên nghiên cứu "Thực hiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam". Để hoàn thành đề tài này, tôi đã sưu tầm nhiều sách, bài báo của nước ngoài cũng như trong nước, các thông tin trên mạng Internet... 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là phân tích các quy định pháp luật hiện tại và dự báo xu hướng vận động của các quy định pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông, từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam. Việc phân tích, dự báo xu hướng vận động các quy định pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông và các đề xuất kiến nghị phải đảm bảo yêu cầu trung thực, khách quan và toàn diện và phù hợp với các quy định của pháp luật. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài: Với mục đích trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ sau: 8 - Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam để làm cơ sở nghiên cứu các phần tiếp theo của luận văn. Để thực hiện được nhiệm vụ này, luận văn đã xây dựng các khái niệm khoa học về cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh (kiểm soát độc quyền)... Qua đó phân tích những đặc điểm và tìm ra mối liên hệ giữa chúng. - Nghiên cứu thực trạng việc thực hiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam và các quy định của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông. Với nhiệm vụ này, luận văn phân tích các quy định của Luật Cạnh tranh, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông..., phân tích và đánh giá những ví dụ cụ thể trong thực tiễn, trên cơ sở đó tìm ra những điểm bất cập, hạn chế đồng thời đưa ra những phương hướng hoàn thiện những quy định này. - Dự báo về sự thay đổi của thị trường viễn thông Việt Nam trong thời gian tới và đưa ra một số kiến nghị nhằm thúc đẩy và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông để phần nào đó giúp ích cho việc hoàn thiện hơn pháp luật về cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông nói riêng. 4. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung phân tích các quy định của pháp luật về cạnh tranh và việc thực hiện các quy định đó trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông ở Việt Nam (không phân tích việc thực hiện pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực công nghiệp viễn thông). 5. Phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận nền tảng của thực tiễn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Mọi vấn đề nghiên cứu luôn phải xem xét trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng, luôn đặt trong quan hệ tổng thể tác động qua lại giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng khác. Các hiện tượng luôn được xem xét trong cả quá trình từ sự hình 9 thành đến sự phát triển qua các giai đoạn khác nhau. Một số phương pháp tiếp cận cụ thể được áp dụng như: phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích và phương pháp so sánh. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan về cạnh tranh và pháp luật về cạnh tranh. Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam Chương 3: Một số kiến nghị nhằm thúc đẩy và bảo vệ cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam. 10 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH 1.1. KHÁI NIỆM CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH 1.1.1. Khái quát chung về cạnh tranh 1.1.1.1. Khái niệm cạnh tranh Nền kinh tế Việt Nam đang trong cơ chế thị trường, là nền kinh tế có sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu được pháp luật thừa nhận và bảo hộ, cùng với nó là sự tự do hóa thương mại, quyền tự do khế ước, quyền tự do định đoạt của các chủ thể và cạnh tranh xuất hiện - đó là quy luật của kinh tế thị trường. Cạnh tranh là lực lượng điều tiết trong hệ thống thị trường (đảm bảo cả người sản xuất và người tiêu dùng không thể bị lợi dụng ưu thế của nhau trên thị trường). Tuy nhiên, cạnh tranh chỉ xuất hiện với tính cách là động lực phát triển nội tại của nền kinh tế, động lực thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển. Hơn nữa, cạnh tranh cũng chỉ xuất hiện thực sự với tính cách là một cuộc đua tranh của một ngành, một lĩnh vực kinh tế nào đó khi có sự tham gia của các chủ thể kinh doanh có lợi ích cơ bản mâu thuẫn nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh và cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Adam Smith - nhà kinh tế học theo trường phái cổ điển Anh là người đầu tiên đưa ra lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về cạnh tranh trên cơ sở những tiếp thu và bổ sung những lý luận về giá trị tự nhiên của trường phái này, ông đòi hỏi sự đảm bảo tự do hành động cho mọi doanh nghiệp và hộ gia đình, nghĩa là đảm bảo sự tự do cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng như sự lựa chọn tiêu dùng của các hộ gia đình. Theo ông, cạnh tranh là một quá trình bao gồm 11 các hành vi và phản ứng tạo ra cho mỗi thành viên tham gia thị trường tự do có giới hạn. Theo Đại từ điển tiếng Việt thì cạnh tranh được hiểu là "sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình". Ngày nay, cạnh tranh được hiểu là sự chạy đua hay ganh đua giữa các thành viên của một thị trường hàng hóa, sản phẩm cụ thể nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng, thị trường và thị phần của một thị trường. Như vậy, xét về phương diện kinh tế, cạnh tranh được tồn tại trên cơ sở tiền đề là sự hiện diện của các thành viên trên thương trường có chạy đua vì mục tiêu kinh tế giữa các thành viên và chúng đều diễn ra trên một thương trường hàng hóa cụ thể. Tuy nhiên, để đơn giản hóa có thể hiểu cạnh tranh là sự ganh đua giữa một nhóm người mà sự nâng cao vị thế của người này sẽ làm giảm vị thế của những người còn lại và điều kiện cho sự cạnh tranh trên thị trường là phải có ít nhất hai chủ thể quan hệ khách hàng và có sự tương ứng giữa sự cống hiến và phần được hưởng của mỗi thành viên trên thị trường. Có thể kết luận rằng, cạnh tranh chỉ xuất hiện trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, nơi mà cung - cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường [28]. 1.1.1.2. Nhận dạng cạnh tranh Ở mỗi một hình thái khác nhau, cạnh tranh lại có tính chất và mức độ biểu hiện khác nhau. Để đánh giá tính chất và mức độ biểu hiện cạnh tranh theo từng hình thái thì việc nhận dạng và xác lập các tiêu chí phân loại hình thái thị trường là hết sức quan trọng. - Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của công quyền vào đời sống kinh tế, người ta phân chia thị trường thành hai hình thái: cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước. 12 Cạnh tranh tự do là một hình thái thị trường thoát khỏi mọi sự can thiệp của nhà nước. Đây là một hiện tượng không thể có trong thế giới hiện đại vì kinh tế thị trường hiện đại luôn có nhu cầu được điều tiết và nhà nước nào cũng phải có chính sách kinh tế riêng, vì thế luôn tìm cách hướng các hoạt động kinh tế vào mục tiêu kinh tế của mình. Cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước là hình thái thị trường của các nền kinh tế thị trường hiện đại (tự do cạnh tranh trong hình thái thị trường này được bảo vệ, nuôi dưỡng và giới hạn bởi thể chế, chính sách và pháp luật của nhà nước). - Căn cứ vào cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung trong một ngành, một lĩnh vực kinh tế, mối liên hệ giữa bên mua và bên bán, người ta phân chia thị trường thành các hình thái sau: Một Một số Một Độc quyền mua bán song phương Độc quyền mua bán hạn chế Độc quyền bán Một số Độc quyền mua bán hạn chế Cạnh tranh mua bán hạn chế Cạnh tranh bán Nhiều Độc quyền mua Cạnh tranh mua Cạnh tranh mua và bán S.lg bên mua Nhiều S.lg bên bán - Căn cứ vào mục đích, tính chất của các phương thức cạnh tranh, người ta phân nhóm các hành vi cạnh tranh trên các hình thái thị trường gồm hai loại: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Cạnh tranh lành mạnh là hình thức cạnh tranh bằng khả năng vốn có của doanh nghiệp. Đó là những hoạt động nhằm thu hút khách hàng mà pháp luật không cấm, phù hợp với tập quán thương mại và đạo đức kinh doanh truyền thống như đăng ký nhãn hiệu thương phẩm, hạ giá bán hàng hóa trên cơ sở đổi mới công nghệ, giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông, nâng 13 cao chất lượng phục vụ khách hàng, liên tục đổi mới phương thức giao tiếp với khách hàng... Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cụ thể của một chủ thể kinh doanh, nhằm mục đích cạnh tranh luôn thể hiện tính không lành mạnh (chứ không phải là trái pháp luật) và vô tình hay cố ý gây thiệt hại cho một đối thủ cạnh tranh hay bạn hàng cụ thể. Tuy nhiên, vì được bảo hộ bởi các nguyên tắc về quyền tự do kinh doanh, tự do khế ước và tự do lập hội và sự giục giã của lợi nhuận nên thực trạng của thương trường luôn diễn ra theo hướng không lành mạnh. Đây là một trong những tiền đề để pháp luật cạnh tranh ra đời. 1.1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường Như ta đã biết, cạnh tranh là tất yếu của một nền kinh tế thị trường. Ngay từ khi xuất hiện, cạnh tranh đã có vai trò và ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế. Ở thế kỷ XVIII, A.Smith (nhà kinh tế học cổ điển Anh) trong tác phẩm "Của cải của các dân tộc" (1776) đã thuyết minh vai trò quan trọng của cạnh tranh tự do trong bối cảnh nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đang ở giai đoạn hình thành bị rất nhiều ràng buộc bởi những thiết chế phi tự do của Nhà nước phong kiến. Ông đưa ra thuyết "bàn tay vô hình", với ông trật tự thị trường theo nguyên tắc "bàn tay vô hình" sẽ điều hòa các hoạt đồng kinh tế một cách hiệu quả. Hãy thử hình dung một nền kinh tế thị trường sẽ ra sao nếu không có cạnh tranh. Ở trạng thái của cạnh tranh hoàn hảo, nền kinh tế sẽ đạt mức độ hiệu quả cấp phát lý tưởng, tức là nếu không có cạnh tranh thì nền kinh tế sẽ nằm ở giới hạn đường giới hạn tiềm năng sản xuất. Như vậy, một bộ phận nguồn lực sẽ không được huy động vào sản xuất và gây ra sự lãng phí xét trên bình diện tổng thể nền kinh tế xã hội. Một doanh nghiệp rất khó trở thành doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh nếu không được dung dưỡng 14 lâu năm trong một môi trường không có cạnh tranh. Do đó, trong khuôn khổ của nền kinh tế thị trường, ý nghĩa kinh tế của cạnh tranh là: - Thông qua quy luật cung cầu, cạnh tranh có khả năng nhanh nhạy trong việc phát hiện và đáp ứng mọi nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, bằng phương thức cạnh tranh kinh điển là cạnh tranh qua giá mà nhờ đó giá cả của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được cải thiện theo hướng có lợi cho khách hàng và người tiêu dùng. - Cạnh tranh còn là nguồn gốc, động lực để phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ cao do cạnh tranh luôn có mục tiêu lâu dài là thu hút về mình ngày càng nhiều khách hàng nên nó buộc các nhà sản xuất công nghiệp và dịch vụ phải tạo ra những sản phẩm có chất lượng ngày càng cao với giá thành ngày càng hạ. Vì vậy, cạnh tranh cũng là cơ hội buộc các nhà doanh nghiệp phải áp dụng công nghệ mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật. - Trong điều kiện của cơ chế thị trường có sự phát triển của cạnh tranh, nghĩa là mức độ của cạnh tranh đã trở nên sâu sắc thì các doanh nghiệp vì sự tồn tại của mình luôn phải toan tính để vượt lên trên các đối thủ của mình. Điều đó có nghĩa là cạnh tranh có khả năng tạo sức ép để chống trì trệ, khắc phục suy thoái và buộc các doanh nghiệp phải kinh doanh có hiệu quả. Môi trường cạnh tranh là môi trường mà ở đó các doanh nghiệp luôn phải vận động, đổi mới, cải tiến không chỉ công nghệ mà cả chủng loại, kiểu dáng, phương thức kinh doanh. Theo đó, cạnh tranh tạo ra sự đổi mới liên tục và động lực phát triển liên tục. Với tất cả những vai trò và ý nghĩa trên đây của cạnh tranh, một nhà nước văn minh của một nền kinh tế thị trường hiện đại cần phải có nhiệm vụ, chức năng phát hiện, thừa nhận và bảo vệ, khuyến khích những khả năng và thuộc tính tốt đẹp đó của cạnh tranh. 1.1.2. Pháp luật và thực hiện pháp luật về cạnh tranh 15 Nền kinh tế thị trường không những chỉ bảo vệ và khuyến khích những thuộc tính tốt đẹp của cạnh tranh mà còn phải khắc phục những mặt tiêu cực, những khuyết tật của thị trường qua cạnh tranh và độc quyền. Ở các quốc gia đều có chính sách về cạnh tranh và từ đó điều tiết môi trường cạnh tranh của thị trường. Chính sách của cạnh tranh phải bao gồm việc sử dụng một số công cụ điều tiết cạnh tranh như: - Chính sách thuế - Kiểm soát giá cả - Điều chỉnh, kiểm soát độc quyền - Quốc hữu hóa - Ban hành pháp luật về cạnh tranh. Trong các công cụ nói trên, pháp luật có vai trò quan trọng thể hiện là công cụ có hiệu quả nhất vì nó là phương thức để đưa và bảo đảm cho các công cụ điều tiết cạnh tranh khác được thực thi trên thực tế của thương trường. Theo thông lệ, pháp luật cạnh tranh ở các nước được chia thành hai lĩnh vực khác biệt: đó là pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh. Sự phân biệt này căn cứ vào tính chất mức độ nguy hại đối với thị trường và theo đó là phương thức và tính cương quyết trong việc trừng trị của pháp luật đối với hai nhóm hành vi: cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh (độc quyền hóa) là rất khác nhau mặc dù chúng đều làm hại đến sự vận động bình thường và lành mạnh của thị trường. Theo kinh nghiệm của các nước, thể hiện qua nội dung của pháp luật cạnh tranh không lành mạnh, những hành vi cạnh tranh không lành mạnh được chia làm 5 nhóm: Thâu tóm khách hàng: bao gồm những phương pháp cạnh tranh trái với tập quán để tác động lên khách hàng và bạn hàng. Tính trái với tập 16 quán ở đây thể hiện ở chỗ nó gây ảnh hưởng đến sự tự do trong quyết định của bạn hàng hay khách hàng. Nó biểu hiện trong những dạng cụ thể: - Dối trá, đưa thông tin sai về quan hệ mua bán. - Bán cưỡng bức như bán kèm. - Gạ gẫm, quấy rầy. Ngăn cản: được thực hiện để chống đối thủ cạnh tranh về giá, tẩy chay nói xấu hay phân biệt đối xử. Bóc lột: loại hành vi này cũng có mục đích chống lại đối thủ song chủ yếu lại không nhằm vào sản phẩm của đối thủ. Thực ra vấn đề này được giải quyết chủ yếu trong pháp luật về sở hữu công nghiệp. Song tính không lành mạnh ở đây thể hiện sự lợi dụng trái với tập quán những sản phẩm của người khác. Chẳng hạn như bắt chước kiểu dáng công nghiệp, man trá về nguồn gốc của sản phẩm hay dựa dẫm vào uy tín của sản phẩm khác (đặt tên giống với sản phẩm của người khác) hoặc lôi kéo khách hàng hoặc người làm công của đối thủ. Vi phạm pháp luật: những vi phạm loại này thường diễn ra trong lĩnh vực luật kinh tế hay luật thuế song chỉ bị coi là không lành mạnh khi hành vi vi phạm có chủ ý can thiệp trái phép đến đối thủ cạnh tranh. Ngoài ra vi phạm pháp luật khác cũng có thể đồng thời bị coi là cạnh tranh không lành mạnh. Những vi phạm hợp đồng cũng có thể đồng thời vi phạm pháp luật cạnh tranh nếu nó gắn liền với việc phá vỡ niềm tin cạnh tranh hoặc lạm dụng lòng tin của bạn hàng. Gây rối thị trường: loại hành vi này không nhằm vào một đối thủ cạnh tranh nào, song nó có tác động chung gây rối thị trường. Chẳng hạn, doanh nghiệp lớn hạ giá sản phẩm làm ảnh hưởng đến những doanh nghiệp nhỏ, hay một doanh nghiệp quảng cáo giật gân gây tâm lý hoảng sợ. Trong khi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh nhằm vào từng hành vi, từng quan hệ thì pháp luật chống hạn chế cạnh tranh nhằm vào hiện tượng có tính chất độc quyền (độc quyền hành chính, độc quyền 17 tự nhiên, độc quyền hay độc quyền nhóm), là pháp luật bảo vệ cơ cấu và tương quan thị trường. Bao gồm ba nội dung: - Cấm Cartel (thỏa thuận hạn chế cạnh tranh) - Kiểm soát sáp nhập - Xác định và xử lý các hành vi lạm dụng quyền lực thị trường của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường. Như vậy, khi áp dụng pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, điều cần thiết phải xác định thị trường theo ba dấu hiệu về thị trường liên quan: - Đối tượng của thị trường (loại hàng hóa) - Giới hạn không gian của thị trường (khu vực, quốc gia, quốc tế) - Giới hạn về thời gian của thị trường. Cùng với sự phân biệt hai lĩnh vực pháp luật đó pháp luật của các nước có những quy định về xem xét, kiểm tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay hạn chế cạnh tranh. Bên cạnh đó, quản lý Nhà nước về cạnh tranh cũng là một vấn đề lớn thuộc pháp luật cạnh tranh mà theo đó pháp luật thiệt lập cơ quan cạnh tranh và xác lập địa vị pháp lý của chúng. Pháp luật cạnh tranh là công cụ điều tiết thị trường tiến bộ, văn minh và mạnh mẽ hơn cả. Là lĩnh vực trụ cột của luật kinh tế truyền thống, nó có khả năng: - Bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, trung thực, công bằng. - Điều tiết cạnh tranh theo mức độ của thị trường nội địa và quốc tế. - Bảo vệ lợi ích của người sản xuất, tiêu dùng, Nhà nước và xã hội. - Tạo thế cạnh tranh trên trường quốc tế. - Tạo động lực phát triển kinh tế. - Chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền, góp phần điều tiết nền kinh tế theo chính sách kinh tế của Nhà nước. 18 - Định hướng chuẩn mực. Giữ gìn đạo đức và tập quán trong kinh doanh đã được thừa nhận. Với tất cả các đặc điểm của pháp luật cạnh tranh đó, việc xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam cần phải luôn xem xét trên cơ sở chính sách cạnh tranh trong cơ chế thị trường nước ta hiện nay. Khác với pháp luật cạnh tranh của nhiều quốc gia khác, pháp luật cạnh tranh ở nước ta chắc là phải đối mặt với dạng độc quyền Nhà nước và bên cạnh đó cần bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Pháp luật cạnh tranh của Việt Nam cần đề cập đến hai khía cạnh của hành vi cạnh tranh: chống cạnh tranh không lành mạnh và hạn chế cạnh tranh (kiểm soát độc quyền), tuy nhiên cần ưu tiên sự quan tâm của mình cho việc kiểm soát độc quyền. 1.1.3. Quan điểm, cách nhìn nhận về cạnh tranh và độc quyền ở Việt Nam Cạnh tranh và độc quyền là hai vấn đề ngày càng được nhắc đến nhiều hơn khi xem xét nền kinh tế của Việt Nam. Với mỗi vấn đề được đề cập bao giờ ta cũng có những cách nhìn nhận, quan điểm khác nhau. Tuy nhiên ta luôn cần phải xem xét từ bản chất vấn đề. Theo quy luật chung, cạnh tranh luôn có xu hướng dẫn đến độc quyền. Xu hướng này một mặt do sự tác động của quy luật hiệu quả kinh tế theo quy mô, mặt khác độc quyền là trạng thái đem lại cho cá nhân các nhà cung cấp lợi nhuận siêu ngạch. Do đó cạnh tranh kinh tế luôn có sự ganh đua quyết liệt để giành lấy vị thế độc quyền. Có thể coi đây là một khía cạnh không hoàn hảo mang tính đạo đức mà cạnh tranh đáng bị lên án. Tuy vậy, trong thực tế, người ta cố gắng hạn chế những nhân tố gây ra mức độ không hoàn hảo của thị trường càng nhiều càng tốt. Xét về phương diện kinh tế, độc quyền (cạnh tranh bằng phương thức độc quyền) có những tác hại: 19 - Nền kinh tế nằm ở dưới tiềm năng sản xuất, một bộ phận nguồn lực phát triển kinh tế bị bỏ phí. - Tạo ra sự khan hiếm giả tạo để nâng giá thành sản phẩm, dịch vụ. Do đó, người tiêu dùng đã phải trả thêm một khoản tiền không đáng mà chất lượng chưa chắc đã tăng, thậm chí có phần giảm sút. - Không có cạnh tranh, người sản xuất không có nhu cầu sáng tạo, đổi mới công nghệ, hạn chế áp dụng khoa học kỹ thuật vì vậy mà chất lượng hàng hóa, năng suất không được cải thiện. Từ đó cho thấy, độc quyền là vật cản sự tiến bộ kinh tế. Độc quyền kiểu kinh tế kế hoạch hóa tập trung dẫn đến những kết cục là khủng hoảng kinh tế mang tính hệ thống buộc phải được thay thế bằng cơ chế thị trường có sự cạnh tranh. Ở Việt Nam do chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập sựung sang kinh tế thị trường, nên khác với nền kinh tế thị trường truyền thống, xu hướng độc quyền xuất phát từ bản thân các lực lượng thị trường trong quá trình cạnh tranh, độc quyền ở Việt Nam nằm ngay trong cơ chế quản lý Nhà nước. Vì vậy, nền kinh tế Việt Nam hiện nay có mức độ cạnh tranh thấp. Những yếu tố độc quyền (từ cơ chế) vẫn còn cản trở tính cạnh tranh của nền kinh tế. Với quan điểm và cách nhìn nhận đó, nhiệm vụ tạo lập một môi trường kinh tế có tính cạnh tranh, kiểm soát độc quyền là chức năng riêng có của Nhà nước. Đối với nền kinh tế thị trường phát triển, vấn đề kiểm soát độc quyền (đảm bảo tính cạnh tranh của nền kinh tế) phải được đặc biệt chú ý. 1.2. THỰC TRẠNG CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 1.2.1. Thực trạng về cạnh tranh ở Việt Nam Cạnh tranh được xem như là yếu tố tất yếu, là thuộc tính vốn có của nền kinh tế thị trường. Nhất là từ khi Đảng và Nhà nước ta thực hiện công 20 cuộc đổi mới, chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, cạnh tranh đã từng bước được tiếp cận như một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức, quản lý và điều hành nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam nhập cuộc cạnh tranh từ một nền tảng công nghệ, kỹ thuật thấp kém, thiếu vốn và kinh nghiệp quản lý trong cơ chế thị trường, kinh tế còn dựa chủ yếu vào nông nghiệp và các yếu tố tự nhiên nên sức cạnh tranh thấp. Nhất là dấu ấn của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp vẫn còn tồn tại, đó là tình trạng độc quyền doanh nghiệp nhà nước. Hầu hết các doanh nghiệp này được hình thành không phải do kết quả của quá trình tích tụ, tập trung vốn và yếu tố sản xuất như ở các nước tư bản mà là sản phẩm của cơ chế kinh tế tập trung của nhà nước. Trước đây, các doanh nghiệp kinh doanh độc quyền nhằm vào các rào cản hành chính không cho phép bất kỳ doanh nghiệp nào khác được cùng kinh doanh, hạn chế thương quyền thông qua giấy phép kinh doanh hay các chế định giá (như giá điện, giá cước viễn thông, giá vé máy bay…) và các hành vi của các quan chức nhà nước cao cấp (trong xét chọn thầu, cấp hạn ngạch…). Chính những điều đó đã làm giảm tính cạnh tranh ở thị trường Việt Nam. Nguy hiểm hơn, sự kéo dài của cơ chế độc quyền đã không đi cùng nhịp với xu thế tự do hóa đang phát triển trên khắp thế giới. Do đó, thực chất của đổi mới kinh tế là quá trình "giải độc quyền" của cơ chế hóa tập trung, mà những gì làm được cho tới nay tuy không ít nhưng cũng chỉ mới bắt đầu, và phần nhiều là theo lối "dò đá qua sông". Bởi thế việc tiếp theo của quá trình "giải độc quyền" sắp tới là hết sức khó khăn. Bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã khởi đầu cho hoạt động cạnh tranh được công khai và mở rộng trong nền kinh tế nước ta. Nhưng cạnh tranh thực sự diễn ra gay gắt khi Nhà nước cho thi hành hàng loạt các chính sách về chống lạm phát, xóa bỏ bao cấp qua giá và một phần qua vốn chủ yếu đối với khu vực kinh tế quốc doanh. Sự cạnh tranh diễn ra 21 ngay giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành, trong cùng một Bộ hay trong một địa phương, trong cùng một hình thức sở hữu; cạnh tranh giữa hàng nội và hàng ngoại… Cùng với việc ban hành các chính sách đổi mới quản lý kinh tế đã giảm dần những ưu đãi về đầu tư, về tín dụng và thực hiện bình đẳng nghĩa vụ nộp thuế giữa các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tạo ra động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Cạnh tranh trên thị trường thực sự đã đem lại nhiều kết quả tích cực. Nền kinh tế Việt Nam đã có những khởi sắc đáng mừng, hàng hóa trên thị trường dồi dào và phong phú, người bán, người mua được tự do lựa chọn hàng hóa và thỏa thuận giá cả trong trao đổi hàng hóa. Các doanh nghiệp đã tự vươn lên đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng hàng hóa cho phù hợp với nhu cầu để đứng vững trong cạnh tranh. Hơn nữa, cơ cấu kinh tế ở nước ta cho phép các doanh nghiệp thành lập nhiều trong một số ngành công nghiệp nhẹ, giải trí, dịch vụ khiến cho sự cạnh tranh giữa các đối thủ ngày càng trở nên gay go và quyết liệt. Cạnh tranh bắt đầu đem lại một sức sống mới cho nền kinh tế xã hội. "Sức nóng" của thị trường cạnh tranh Việt Nam đã làm cho đời sống kinh tế nước ta sôi động hẳn lên, mức sống của nhân dân ngày càng được cải thiện. Song, những khuyết tật vốn có của thị trường không thể không bộc lộ trong thực tiễn. Bên cạnh những kết quả tích cực của thị trường hàng hóa đang diễn ra một cuộc cạnh tranh sôi động không cân sức và không bình đẳng. Cùng với thời gian và cùng với sự phát triển của nền kinh tế, những thủ đoạn cạnh tranh ngày càng trở nên tinh vi và nguy hiểm gây ra hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng sâu sắc tới sự ổn định của nền kinh tế Việt Nam cũng như sự sống còn của một số ngành nội địa. Có thể nhận thấy các thủ pháp kiểm soát độc quyền và cạnh tranh không lành mạnh sau đã trở nên phổ biến: * Hạn chế cạnh tranh (kiểm soát chống độc quyền): 22
- Xem thêm -