Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh

  • Số trang: 108 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------------------- LÊ THANH NGHỊ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Chính trị học Hà Nội – 2013 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---------------------------------- LÊ THANH NGHỊ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Chính trị học Mã số: 60 31 02 01 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hoàng Hải Hà Nội – 2013 ii LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi thực hiện từ năm 2012 và hoàn thành vào tháng 6 năm 2013. Các số liệu và trích dẫn trong luận văn là trung thực. Các kết quả nghiên cứu của luận văn không trùng với bất kỳ công trình nào khác. NGƢỜI CAM ĐOAN Lê Thanh Nghị iii MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 4 1. Tính cấp thiết của đề tài 4 2. Tình hình nghiên cứu đề tài 7 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11 5. Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu 11 6. Ý nghĩa của luận văn 12 7. Kết cấu luận văn 12 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 13 1.1. QUAN ĐIỂM VỀ NÔNG THÔN, NÔNG DÂN VÀ NÔNG NGHIỆP 13 1.1.1. Quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí minh về Nông thôn, nông dân và nông nghiệp 13 1.1.2. Quan điểm Đảng cộng sản Việt Nam về nông thôn, nông dân, nông nghiệp 14 1.1.3. Quan điểm, chủ trương của Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh về xây dựng nông thôn mới 21 1.1.4. Quan điểm, chủ trương của Đảng bộ huyện Vũ Quang về xây dựng nông thôn mới 21 1.2. VẤN ĐỀ NÔNG THÔN, NÔNG DÂN, NÔNG NGHIỆP TRONG CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƢỚC 22 1.2.1. Tầm quan trọng của vấn đề nông thôn, nông dân và nông nghiệp trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước 22 1.2.2. Khái niệm nông thôn mới 24 1.3. CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 25 1.3.1. Mục tiêu của chính sách xây dựng Nông thôn mới 25 1.3.2. Nội dung chính sách xây dựng Nông thôn mới 26 1.3.3. Đánh giá Chính sách xây dựng Nông thôn mới 27 1 1.4. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 46 1.4.1. Mô hình nông nghiệp của Nhật Bản 46 1.4.2. Mô hình Saemaul Ungdong của Hàn Quốc 48 1.4.3. Mô hình phát triển nông thôn của Trung Quốc 51 1.4.4. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho quá trình thực hiện các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam 52 Tiểu kết Chƣơng 1 55 Chƣơng 2 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN VŨ QUANG, TỈNH HÀ TĨNH 56 2.1. BỐI CẢNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN VŨ QUANG 56 2.1.1.Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 56 2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 56 2.1.3. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện Vũ Quang 59 2.2. THỰC TIỄN VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN VŨ QUANG 61 2.2.1. Căn cứ và sự lựa chọn chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện Vũ Quang 62 2.2.2. Thực trạng thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện Vũ Quang 65 2.2.3. Hạn chế và nguyên nhân chính trong thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện Vũ Quang 81 2.3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN VŨ QUANG 84 2.3.1. Phương hướng 84 2.3.2. Giải pháp 88 2.4. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN VŨ QUANG 96 Tiểu kết Chƣơng 2 97 KẾT LUẬN 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 2 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TT Chữ viết tắt Diễn giải 1 CNH-HĐH 2 HĐND 3 HTX 4 KH&CN 5 NN&PTNT 6 NTM Nông thôn mới; 7 TBCN Tư bản chủ nghĩa; 8 THCN Trung học chuyên nghiệp; 9 UBND Ủy ban nhân dân; 10 UBMTTQ 11 XHCN Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa Hội đồng nhân dân; Hợp tác xã; Khoa học và Công nghệ; Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Ủy ban mặt trận tổ quốc; Xã hội chủ nghĩa; 3 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều chủ trương, chính sách nhằm không ngừng hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn. Những chính sách này đang khơi dậy và phát huy cao độ các nguồn lực để phát triển nông nghiệp, nông thôn của đất nước. Khi Việt Nam gia nhập WTO, tham gia vào các diễn đàn hợp tác kinh tế lớn của khu vực và thế giới, sức ép của hội nhập và phát triển ngày một lớn, đặt ra yêu cầu rất cao đối với nền kinh tế nước ta, trong đó lĩnh vực nông nghiệp là lĩnh vực phải đối mặt với nhiều thách thức nhất. Trước yêu cầu phát triển và hội nhập hiện nay, thực hiện mục tiêu đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đã đến lúc đòi hỏi phải có nhiều chính sách đột phá và đồng bộ nhằm giải quyết toàn diện các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hoá nông thôn. Giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn có ý nghĩa chiến lược đối với sự ổn định và phát triển đất nước. Hà Tĩnh là một tỉnh nông nghiệp, nông dân đang chiếm trên 83,55% dân số và chiếm đến 63 % lao động xã hội, 235 xã nông nghiệp/262 xã, phường, thị trấn; GDP khu vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 34,52% GDP của tỉnh; nông nghiệp - nông thôn Hà Tĩnh đã và đang có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế của tỉnh nhà, vừa bảo đảm an sinh xã hội, vừa là nền tảng cho công nghiệp, thương mại dịch vụ phát triển. Mặc dù vậy, các chính sách phát triển nông nghiệp trước đây thực thi ở Hà Tĩnh thường thiên về thúc đẩy phát triển ngành, có phần xem nhẹ vai trò, lợi ích của chủ thể chính, động lực chính của phát triển nông nghiệp là nông dân. Phần lớn các chính sách hầu như chưa quan tâm xử lý tổng thể và hợp lý mối quan hệ giữa các vùng, các lĩnh vực trong ngành, giữa nông thôn và đô thị, chưa đặt ra và giải quyết triệt để mối quan hệ giữa các yếu tố chính của mô hình phát triển nông nghiệp, nông thôn…Đây là nguyên nhân chủ yếu, khiến cho sau nhiều 4 thập kỷ chuyển đổi nền nông nghiệp sang thị trường, đến nay về cơ bản nông nghiệp, nông thôn Hà Tĩnh vẫn mang tính khép kín, tự cấp tự túc. Thời gian qua, tỉnh Hà Tĩnh đã triển khai tốt các Chương trình của Trung ương, các tổ chức quốc tế cho nên công tác xoá đói giảm nghèo, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội ở nông thôn được cải thiện. Tuy vậy, nhìn chung, các chính sách của Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn chưa thực sự hiệu quả, thiếu bền vững, ở nhiều mặt có thể nói chưa đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, chưa đưa sản xuất nông nghiệp ở nông thôn thành sản xuất hàng hoá thực sự. Một trong những nguyên nhân cơ bản là chưa định hướng rõ mô hình phát triển, thể hiện ở việc nhận thức chưa thấu đáo các vấn đề như: Tầm nhìn (mục tiêu), mô hình phát triển, các nguồn lực và thiếu sự xác định lợi ích thực tế của các bên liên quan trong phát triển nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, dẫn đến tình trạng thiếu cụ thể, thiếu tính khoa học trong quy trình thực hiện và triển khai chính sách; có nhiều chính sách, nhưng hiệu quả kinh tế, hiệu ứng xã hội của các chính sách không tương xứng với nguồn lực đầu tư hoặc thiếu bền vững. Góp phần khắc phục một cách cơ bản tình trạng trên, đồng thời tiếp tục cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn đi vào cuộc sống, đẩy nhanh tốc độ CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn, việc cần làm trong giai đoạn hiện nay là xây dựng cho được các mô hình nông thôn mới đủ đáp ứng yêu cầu phát huy nội lực của nông dân, nông nghiệp và nông thôn, đủ điều kiện hội nhập nền kinh tế thế giới. Để thực hiện các mục tiêu trên, cần có nhiều chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn mang tính đồng bộ, trong đó chính sách có ý nghĩa quyết định là chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới. Chính sách này vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn 5 đề cụ thể, đồng thời phải giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục được tình trạng tuỳ tiện, rời rạc, ngẫu hứng hoặc duy ý chí trong các chính sách nói chung và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng từ trước đến nay ở Việt Nam. Vũ Quang là huyện miền núi nghèo, mới thành lập (năm 2000) không nhiều thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên và điều kiện khí hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật nhìn chung còn yếu kém, trình độ phát triển hiện còn thấp so với bình quân cả tỉnh; cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm và các dịch vụ công cộng thiếu và yếu…Để có bước phát triển nhanh, bền vững, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, hiện nay, Vũ Quang đang triển khai nhiều chính sách kinh tế - xã hội mang tính bứt phá. Trong nông nghiệp và nông thôn, các cơ quan thực hiện chính sách đang tìm tòi mô hình phát triển nông thôn thật sự phù hợp, có khả năng bảo đảm ổn định chính trị, kinh tế -xã hội, phát huy được các truyền thống lịch sử văn hoá, thích ứng nhanh với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH đất nước và nông nghiệp nông thôn…Mô hình nông thôn như vậy, thể hiện trong ý tưởng của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cũng như của Hội Nông dân Việt Nam là mô hình nông thôn mới. Xây dựng mô hình nông thôn mới đòi hỏi phải có chính sách cụ thể. Hiện nay, đã và đang triển khai, Trung ương đã có một số đề án đang triển khai mô hình này…Nhưng chính sách chưa cụ thể, có những chính sách ban hành đã lâu nên lạc hậu so với cuộc sống như: Cơ chế phân cấp về quyết định đầu tư và phân bổ vốn theo hướng tăng cường quyền quyết định cho cơ sở là phù hợp, nhưng thiếu các biện pháp đồng bộ và tăng cường kiểm tra, kiểm soát đã dẫn tới tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án đầu tư mà không tính đến khả năng cân đối về nguồn vốn dẫn tới tình trạng đầu tư bị phân tán, dàn trải, thời gian thi công kéo dài gây lãng phí, thất thoát nguồn lực của Nhà 6 nước. Cơ chế, chính sách để xây dựng nông thôn mới hiện còn chưa đồng bộ, ngoài 07 nội dung được hỗ trợ 100% theo Quyết định 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, phần còn lại mức hỗ trợ cho từng đối tượng chưa rõ, chính sách hỗ trợ xây dựng nông thôn mới cho các xã theo khu vực chưa được xác định cụ thể, thiếu cơ chế gắn kết, lồng ghép, phối hợp giữa các chương trình, dự án trên một địa bàn. Đối với huyện Vũ Quang, chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thực hiện các nhiệm vụ mang tính chiến lược để tạo đột phá trong công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn. Với những lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu vấn đề "Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh" làm Luận văn thạc sĩ Chính trị học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong những năm đổi mới, phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân là những chủ đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan quản lý, các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Công trình: “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển” của tác giả Frans Ellits do Nxb Nông nghiệp ấn hành năm 1994. Công trình đã đề cập những vấn đề về chính sách phát triển vùng, chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp, chính sách thương mại nông sản, những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị hoá. Quan trọng hơn cuốn sách đã đi sâu nghiên cứu nền nông nghiệp của các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hoá gắn liền với thương mại nông sản trên thế giới, đồng thời cũng nêu lên những mô hình thành công và thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân. Công trình: “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở các nước và Việt Nam” của các tác giả Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott Nguyễn Ngọc và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, Nxb Hà Nội ấn hành 7 năm 2000. Các tác giả đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở một số nước trên thế giới và những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng truyền thống ở Việt Nam. Ở trong nước, có hàng loạt công trình nghiên cứu, giới thiệu kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, nông thôn của nước ngoài; như: Tác phẩm: “Vai trò của Nhà nước trong phát triển nông nghiệp của Thái Lan” của các tác giả GS, TS. Nguyễn Thế Nhã và TS. Hoàng Văn Hoan do Nxb Nông nghiệp ấn hành năm 1995. Công trình này đã đi sâu phân tích quá trình hoạch định và chỉ đạo thực hiện chính sách nông nghiệp của Thái Lan từng thời kỳ. Trong đó, một số nội dung được các tác giả đề cập có giá trị tham khảo rất tốt cho Việt Nam như chính sách phát triển các hợp tác xã nông nghiệp, chính sách xuất khẩu nông sản, chính sách tín dụng và đặc biệt là những chính sách liên quan đến hội nhập kinh tế quốc tế của ngành nông nghiệp. Tác phẩm: “Nông nghiệp châu Âu những kinh nghiệm phát triển” do TS. Hoàng Hải chủ biên, Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản năm 1996. Cuốn sách phân tích kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của các nước châu Âu trong nhiều giai đoạn phát triển. Không ít nội dung có giá trị đối với phát triển nông nghiệp-nông thôn Việt Nam. Bên cạnh đó, còn một số nghiên cứu khác, trong đó nhiều nghiên cứu giới thiệu trên các tạp chí khoa học. Điểm chung nhất của các nghiên cứu này và sau khi phân tích thực tiễn giải quyết vấn đề quản lý Nhà nước nói chung và việc xây dựng chỉ đạo chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ngoài, các tác giả đều cố gắng gợi mở, nêu lên những kinh nghiệm để có thể vận dụng cho giải quyết những vấn đề thực tiễn của Việt Nam. Công trình: “Phát triển nông thôn" do GS. Phạm Xuân Nam (chủ biên) Nxb Khoa học xã hội ấn hành năm 1997, là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về phát triển nông thôn. Công trình: “Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử” do GS. Phan Đại Doãn và PGS. Nguyễn Quang Ngọc làm chủ biên, 8 Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1994, là công trình nghiên cứu những vấn đề lịch sử trong phát triển nông thôn nước ta. Công trình nghiên cứu: “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” của PGS,TS. Nguyễn Sinh Cúc, Nxb Thống kê, năm 2003. Công trình đã luận giải rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Công trình nghiên cứu của PGS, TS. Nguyễn Văn Bích và TS. Chu Tiến Quang do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1996 với tiêu đề: “Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam” đã luận giải nhiều nội dung liên quan đến chủ đề nghiên cứu như khái niệm về chính sách, các nội dung của chính sách kinh tế và quá trình thay đổi chính sách nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm đổi mới và những tác động của chúng. Công trình nghiên cứu: “Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị quyết X của Bộ Chính trị” do PGS,TSKH Lê Đình Thắng chủ biên do Nxb Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1998 đã đề cập nhiều nội dung quan trọng liên quan đến chủ đề nghiên cứu như phân tích quá trình phát triển nông nghiệp của Việt Nam dưới sự tác động của hệ thống chính sách, đi sâu phân tích một số chính sách cụ thể như chính sách đất đai, chính sách phân phối trong phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta. Đặc biệt, công trình nghiên cứu do PGS. TS. Vũ Trọng Khải chủ trì được Nxb nông nghiệp ấn hành năm 2004 là một công trình nghiên cứu công phu về mô hình phát triển của nông thôn Việt Nam. Công trình nghiên cứu này được xuất bản trên cơ sở đề tài cấp Nhà nước do tác giả làm chủ nhiệm với tiêu đề: “Tổng kết và xây dựng mô hình phát triển kinh tế- xã hội nông thôn mới, kết hợp truyền thống làng xã với văn minh thời đại”. Công trình nghiên cứu: “Bảo hộ hợp lý nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” do GS,TS Bùi Xuân Lưu, Nxb Thống kê ấn hành 9 năm 2004. Trong công trình này, các tác giả đã phân tích những đặc trưng của hội nhập kinh tế quốc tế trong nông nghiệp; phân tích khái quát những thành tựu cũng như hạn chế của nông nghiệp nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời khuyến nghị về sửa đổi các chính sách và hoàn thiện vai trò của Nhà nước để nông nghiệp, nông thôn nước ta hội nhập thành công. Trong những năm đầu của thế kỷ XXI có khá nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu được công bố như: "Ảnh hưởng của chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của PGS.TS Ngô Đức Cát, Trường Đại học Kinh tế quốc dân; "Về một số chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta trong thời kỳ mới" của PGS.TS Đặng Văn Thanh, Bộ Tài chính; "Hoàn thiện các chính sách đầu tư cho phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của ThS. Vũ Thị Thảo, Trường Đại học Kinh tế quốc dân; Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Tiến Dĩnh, năm 2003: "Hoàn thiện các chính sách kinh tế phát triển nông nghiệp, nông thôn ngoại thành Hà Nội theo hướng CNH-HĐH"... Những công trình đó đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng cho việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết vấn đề nông dân trong thời kỳ mới ở nước ta. Tuy nhiên, các công trình ấy không đi sâu nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách về nông nghiệp, nông thôn nói chung và mô hình nông thôn mới nó riêng. Những kết quả nghiên cứu đã nêu cũng là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng mà tác giả tiếp thu và sử dụng trong quá trình hoàn thành luận văn này và trong những công trình nghiên cứu của mình về sau. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu: Thông qua nghiên cứu, đánh giá quá trình thực hiện chính sách trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam và tỉnh Hà Tĩnh từ khi đổi mới đến nay; Luận văn nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách trong xây dựng 10 nông thôn mới ở tỉnh Hà Tĩnh và huyện Vũ Quang, đề xuất các khuyến nghị mang tính giải pháp làm cơ sở để các cơ quan, ban, ngành thực hiện tốt hơn các chu trình thực hiện chính sách trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở địa phương, xây dựng thành công nông thôn mới. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận về chính sách và việc thực hiện chính sách. Phân tích quá trình hình thành và phát triển của chính sách trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung, xây dựng mô hình nông thôn mới nói riêng của Đảng và Nhà nước ta từ sau đổi mới đến nay; Phân tích quá trình thực hiện chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới ở địa huyện Vũ Quang. Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra những kiến nghị mang tính giải pháp nhằm thực hiện một cách khoa học các chu trình thực hiện chính sách trong xây dựng mô hình nôn thôn mới, góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở huyện Vũ Quang. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Các chính sách và chu trình thực hiện chính sách trong phát triển nông nghiêp, nông thôn nói chung và mô hình nông thôn mới nói riêng. 4.1. Phạm vi nghiên cứu Chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn của Đảng và Nhà nước ta từ khi đổi mới; chính sách của địa phương từ khi thành lập huyện từ năm 2000 đến năm 2013. Nghiên cứu việc thực hiện chính sách theo quy định phân cấp của chính quyền cấp huyện ở huyện Vũ Quang trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn hướng đến xây dựng mô hình nông thôn mới. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, các khung khổ lý thuyết về chính sách. 11 Thực tiễn: Quá trình thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng mô hình nông thôn mới ở tỉnh Hà Tĩnh nói chung và huyện Vũ Quang nói riêng. Đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể: Phân tích, tổng hợp, logic, lịch sử, thống kê, khảo sát thực tiễn, điều tra xã hội học, so sánh... và dự báo. 6. Ý nghĩa của luận văn Trên phạm vi địa bàn huyện Vũ Quang, luận văn là công trình đầu tiên được nghiên cứu ở quy mô và phạm vi một luận văn thạc sĩ chính trị học. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý, thực hiện chính sách ở Tỉnh Hà Tĩnh và những huyện miền núi tương đồng. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và Mục lục, luận văn gồm 2 chương, 8 tiết. 12 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.1. QUAN ĐIỂM VỀ NÔNG THÔN, NÔNG DÂN VÀ NÔNG NGHIỆP 1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nông thôn , nông dân và nông nghiệp Nông dân, nông thôn là vấn đề rất quan trọng trong liên minh công nông. Vì vậy, Mác -Ăngghen cho rằng trong các cuộc cách mạng nếu giai cấp công nhân không liên minh được với giai cấp nông dân thì những cuộc cách mạng vô sản sẽ trở thành bài ca ai điếu. Về vấn đề nông dân và nhiệm vụ của người cộng sản trong sự nghiệp cách mạng nông dân, nông thôn vẫn mang tính thời sự. Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp” viết năm 1894 khi trình bày những nguyên lý của chính sách nông nghiệp xã hội chủ nghĩa, Ăngghen có nói: “Nhiệm vụ của chúng ta đối với tiểu nông trước hết phải hướng quyền sở hữu cá thể và nền kinh doanh cá thể vào con đường kinh doanh hợp tác” [28, tr.9]. Ph.Ănghen còn cho rằng: “Chúng ta kiên quyết đứng về phía người tiểu nông, chúng ta cố tìm đủ mọi cách để làm cho số phận của họ dễ chịu hơn, để cho họ chuyển sang hợp tác xã được dễ dàng hơn, nếu họ quyết như thế” [ 28, tr.10]. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề nông dân nông nghiệp nông thôn, Ăngghen cho rằng: “Chúng ta làm như thế là vì chính ngay lợi ích của Đảng”. Vì thế sau này, Để xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện một nước kém phát triển, trong những năm 1921-1923, V.I. Lênin đưa ra quan điểm là: Phải bắt đầu từ nông dân; phải chấn hưng nông nghiệp và xem đó là giải pháp quan trọng để thực hiện Chính sách kinh tế mới và chế độ hợp tác xã" [ 28, tr.10]. Luận chứng về vai trò quyết định của giai cấp nông dân rằng: “Nhân tố thắng lợi ở chỗ không phải giai cấp công nhân, tức giai cấp vô sản chiếm ưu thế trong dân số trên toàn quốc và ở tính tổ chức của họ mà ở chỗ giai cấp vô sản được sự ủng hộ của giai cấp nông dân” [ 32, tr.6]. 13 Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và đề cao vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn trong sự nghiệp cách mạng: “Phát triển nông nghiệp là việc cực kỳ quan trọng. Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính. Nếu không phát triển nông nghiệp thì không có cơ sở để tiêu thụ hàng hoá của công nghiệp làm ra” [37, tr.180]. Là một vị lãnh tụ có tầm nhìn sâu rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ rất sớm đã khẳng định vị trí, vai trò hết sức to lớn của sản xuất nông nghiệp đối với việc phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu Cách mạng tháng Tám mới thành công, trong Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam, ngày 11-4-1946, Hồ Chí Minh viết: "Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh". Từ đó, Người khẳng định: "Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính". Chính vì vậy, Người rất quan tâm, dành nhiều công sức để nghiên cứu và chỉ đạo phát triển sản xuất nông nghiệp. 1.1.2. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về nông thôn, nông dân và nông nghiệp Cương lĩnh Chính trị (1930), Đảng ta đã khẳng định vai trò của nông dân trong cách mạng nước ta. Qua mỗi một giai đoạn cách mạng quan điểm, đường lối của Đảng về vấn đề này cũng được cụ thể hóa, thay đổi, phát triển đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn đề ra. Sau năm 1954, trong khôi phục kinh tế, Đảng rất quan tâm đến sản xuất Nông nghiệp, sản xuất lương thực. Quan điểm Nghị quyết Trung ương 8 khóa II (8-1955): “ Phải nhận thức đầy đủ và sâu sắc về tính chất trọng yếu của sản xuất nông nghiệp đối với cả nền kinh tế nước ta hiện nay và sau này”. Về sau, tiếp tục tinh thần đó, Đai hội V 14 (1982) chỉ rõ: “ Cần tập trung phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu”. Trong 20 năm đổi mới vừa qua (1986 - 2006), Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường. Những chủ trương, chính sách đó là sự cụ thể hoá quan điểm, đường lối đổi mới theo tinh thần Đại hội VI của Đảng (1986). Tư duy kinh tế đối với phát triển nông nghiệp của Đảng tại Đại hội VI là: “Bố trí lại cơ cấu sản xuất, bố trí lại cơ cấu đầu tư, tập trung thực hiện cho được ba chương trình mục tiêu về lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu [ 31, tr.47]. Các chương trình đó là sự cụ thể hoá nội dung chính của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên”[ 31, tr.48]. Mặc dù vậy, trong những năm 1987, 1988 diễn biến tình hình vẫn chưa mấy khả quan, lạm phát vẫn ở ba con số, nạn đói xảy ra ở nhiều vùng, phải nhập khẩu lương thực hàng năm. Trước tình hình đó, Bộ chính trị khoá VI đã có nhiều Nghị quyết quan trọng nhằm cụ thể hoá quan điểm của Đảng trong công cuộc đổi mới, dấu ấn đậm nét nhất thời kỳ này là Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý nông nghiệp (5/4/1988). Việc thực hiện Nghị quyết 10 đã đem lại sự đổi thay rất lớn cho nông nghiệp nông thôn như: Cơ chế quản lý mới trong nông nghiệp dần hình thành, thay đổi căn bản vị trí, vai trò và mô hình tổ chức, quản lý của các đơn vị kinh tế cơ sở (hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, đóng vai trò chủ yếu trong kinh tế nông thôn); hợp tác kiểu cũ dần thay đổi chức năng, nội dung, phương thức hoạt động; doanh nghiệp nhà nước trong nông nghiệp, nông thôn cũng phải tự đổi mới để chuyển sang tự chủ, tự hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Nhìn chung, giai đoạn từ năm 1989 - 1999 là giai đoạn sản xuất nông nghiệp chuyển từ tự cung, tự cấp sang kinh tế hàng hoá, từng bước chuyển dần hướng về xuất khẩu. Chính sách nhà nước ở cấp vĩ mô có sự thay đổi căn bản so với trước, góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, tạo tiền đề chuyển dịch 15 cơ cấu theo hướng ngày càng phù hợp, hiệu quả, tăng thu nhập và ổn định đời sống nhân dân, thoát khỏi khủng hoảng, giành được nhiều kết quả to lớn. Bước vào thập niên 90, Đại hội VII (1991) chỉ rõ “Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội”[32, tr.63], mở ra thời kỳ mới cho phát triển nông nghiệp nông thôn theo chủ trương: Nông nghiệp, kinh tế nông thôn là mặt trận hàng đầu. Cụ thể hoá đường lối Đại hội VII, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 (10/6/1993) đã ra Nghị quyết quan trọng tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn với trọng tâm là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mục tiêu của Nghị quyết là trên cơ sở phát triển nhanh và vững chắc nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ nông thôn, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh doanh mà thu hút đại bộ phận lao động dư thừa, tăng năng suất lao động xã hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nông dân. Trên cơ sở xúc tiến công nghiệp hoá nói chung, công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn nói riêng mà thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển mạnh, vững chắc, có hiệu quả. Đối với công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, phương hướng chung là tăng nhanh tỷ trọng những ngành này trong cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn, đa dạng hoá ngành nghề và dịch vụ phi nông nghiệp, phấn đấu đến năm 2010 đạt cơ cấu 15-16% nông nghiệp, 43-44% công nghiệp - xây dựng và 40-41% dịch vụ. Về chính sách tài chính, Nghị quyết Trung ương 5 chỉ rõ: Nhà nước giành phần đầu tư thoả đáng từ ngân sách; đồng thời có chính sách và hình thức huy động nguồn đầu tư của các thành phần kinh tế khác cho xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Thay thuế nông nghiệp bằng thuế sử dụng đất, dành toàn bộ nguồn thu từ thuế sử dụng đất đầu tư trở lại cho nông nghiệp và kết cấu hạ tầng nông thôn, giảm giá thuỷ lợi phí và giá điện nông thôn... 16 Tháng 7/1993, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá IX thông qua, Luật Đất đai với nhiều nội dung mới, trong đó có nội dung quan trọng là Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng với 5 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp. Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp ra đời với thuế suất thấp hơn thuế nông nghiệp đã góp phần giảm đóng góp của nông dân và khuyến khích hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả hơn. Thực hiện đường lối của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định 64 về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp; về thuế sử dụng đất nông nghiệp (NĐ74/CP) và nhiều chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Việc ban hành Luật Đất đai và Luật Thuế sử dụng đất năm 1993 đã đáp ứng kịp thời nguyện vọng của hộ nông dân: Làm chủ thực sự ruộng đất của mình với quyền lợi, nghĩa vụ rõ ràng, có lợi cho người nông dân với tư cách là đơn vị kinh tế tự chủ. Đại hội VIII của Đảng (1996) đề ra nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Ra Nghị quyết về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong đó trọng tâm là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn (12/1996). Nội dung cơ bản của CNH, HĐH trong những năm còn lại của thập kỷ 90 là: Đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp- nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, xuất khẩu, các dịch vụ cho sản xuất và đời sống nông dân, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, tiến bước hình thành nông thôn mới văn minh - hiện đại. Cụ thể hoá NQ Đại hội VIII, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách và văn bản pháp luật thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH. Luật hợp tác xã (1996), trong đó nội dung quan trọng là: Chuyển đổi các Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trước đây sang theo mô 17
- Xem thêm -