Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tượng bằng trùn giấm

  • Số trang: 56 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 107 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Thử nghiệm ương nuôi cá xiêm và cá bống tượng bằng trùn giấm
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA THỦY SẢN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: THỬ NGHIỆM ƯƠNG NUÔI CÁ XIÊM (BETTA SPLENDES) và CÁ BỐNGTƯỢNG (OXYELEOTRIS MARMORATA) BẰNG TRÙN GIẤM (TUBATRIX ACETI) NGÀNH: THUỶ SẢN KHOÁ: 2001 – 2005 SINH VIÊN THỰC HIỆN: ĐÀO NGỌC QUYÊN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 9/2005 CẢM TẠ Chúng tôi xin chân thành cảm ơn: Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm – Tp.HCM Ban Chủ Nhiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại Học Nông Lâm – Tp.HCM. Cùng toàn thể quý thầy cô trong trường đã truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt những năm học tại trường. Đặc biệt gởi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Phạm Văn Nhỏ đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp. Đồng thời chúng tôi gởi lời cảm ơn đến tất cả các anh chị, các bạn trong và ngoài lớp đã động viên, giúp đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài. Do thời gian thực hiện đề tài còn có hạn, trang thiết bị còn thiếu thốn và lần đầu tiên làm quen với công việc nghiên cứu nên luận văn của chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự góp ý của thầy cô và các bạn. 2 TÓM TẮT Đề tài được thực hiện tại Trại Thực Nghiệm Khoa Thuỷ Sản Trường Đại Họcï Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh từ ngày 29/3/2005 đến ngày 31/7/2005, nhằm đánh giá ảnh hưởng của các khẩu phần thức ăn khác nhau lên tỷ lệ sống của cá xiêm, cá bống tượng. Nghiên cứu bao gồm 2 phần.   Phần A: Kết quả trên cá xiêm Phần B: Kết quả trên trùn giấm Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lập lại cho mỗi nghiệm thức. Các nghiệm thức ứng với các khẩu phần thức ăn A, B, C, D.  Nghiệm thức 1 (A): 1òng đỏ trứng gà   Nghiệm thức 3 (C): thức ăn tổng hợp Nghiệm thức 4 (D): trùn giấm  Nghiệm thức 2 (B): tảo khô Spirulina Ở cả 2 phần A và B, kết quả tỷ lệ sống của cá bột ở 4 khẩu phần thức ăn khác nhau thì giống nhau và không sai khác về mặt thống kê (P>0,05). 3 ABSTRACT The study was conducted at Fisheries Experimental Farm Of Fisheries Faculty Nong Lam University in HCM city to assess impacts of various diets on survival rate of fry. From 29th March to 31st July in 2005. The study comprised two part with 4 diets:  Part A: Result of experiments on Fightting Fish Treatment 1 (A): egg yolk Treatment 2 (B): dried algae Spirulina Treatment 3 (C): synthesis food Treatment 4 (D): Vinegar eel  Part B: Result of experiments on Marble Gobby Treatment 1 (A): egg yolk Treatment 2 (B): algae Spirulina Treatment 3 (C): synthesis food Treatment 4 (D): Vinegar eel In part A and B, survival rate of fry fishes in A, B, C, D are similar and not significantly different (P>0,05). 4 MỤC LỤC ĐỀ MỤC TRANG TRANG TỰA CẢM TẠ TÓM TẮT ABSTRACT MỤC LỤC DANH SÁCH ĐỒ THỊ DANH SÁCH CÁC BẢNG DANH SÁCH HÌNH ẢNH i ii iii iv v viii ix x I GIỚI THIỆU 1.1 1.2 Đặt Vấn Đề Mục Tiêu Đề Tài II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 2.1.1 2.1.2 2.1.3 2.1.4 2.1.5 2.1.6 2.1.7 2.2 2.2.1 2.2.2 2.2.3 2.2.4 2.2.5 2.2.6 2.2.7 2.3 2.3.1 2.3.2 2.4 2.4.1 2.4.2 Đặc Điểm Sinh Học Của Cá Xiêm Đặc điểm phân loại Đặc điểm hình thái và phân bố Đặc điểm sinh thái Tập tính sống Đặc điểm dinh dưỡng Đặc điểm sinh sản Mùa vụ sinh sản Đặc Điểm Sinh Học Của Bống Tượng Đặc điểm phân loại Đặc điểm hình thái Phân bố Đặc điểm sinh thái Đặc điểm dinh dưỡng Tăng trưởng và kích thước tối đa Đặc điểm sinh sản Tình Hình Sản Xuất Giống Cá Bống Tượng Trong nước Trên thế giới Thức Aên Sử Dụng Trong Quá Trình Ương Cá Bột Lân Cá Hương Thức ăn chế biến Thức ăn sống III 2 2 2 3 3 4 4 5 7 7 7 7 8 8 9 9 10 11 11 12 13 13 16 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 3.1 Thời Gian Và Địa Điểm Thực Hiện Đề Tài 5 19 3.1.1 3.1.2 3.1.3 3.1.4 3.2 3.2.1 3.2.2 3.2.3 3.3 3.4 IV Vật Liệu Nguồn cá bột Thức ăn và dụng cụ cho ăn Hệ thống ương nuôi cá bột Phương Pháp Nghiên Cứu Phương pháp bố trí thí nghiệm Quản lý và chăm sóc Các chỉ tiêu theo dõi Phương Pháp Thu Thập Số Liệu Phương Pháp Phân Tích Số Liệu 19 19 19 20 20 20 22 22 23 23 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24 Phần A: Kết Quả Thử Nghiệm Trên Cá Xiêm 24 4.1 Giá Tỷ Lệ Sống Của Cá Xiêm Ơû Các Lần Thử Nghiệm 4.1.1 Lần thử nghiệm thứ I (từ 24/4/2005 đến 4/5/2005) 4.1.2 Lần thử nghiệm thứ II (từ 11/5/2005 đến 27/5/2005) 4.1.3 Lần thử nghiệm thứ III (từ 14/6/2005 đến 20/6/2005) 4.1.4 Lần thử nghiệm thứ IV (từ 1/7/2005 đến10/7/2005) Đánh 24 24 Phần B: Kết Quả Thử Nghiệm Trên Cá Bống Tượng 31 4.1 Đánh Giá Tỷ Lệ Sống Của Cá Bống Tượng Ơû Các Lần Thử Nghiệm 4.1.1 thử nghiệm thứ I (từ 14/4/2005 đến 20/4/2005) 4.1.2 Lần thử nghiệm thứ II (từ 8/6/2005 đến 12/6/2005) 4.1.3 Lần thử nghiệm thứ III (từ 22/7/2005 đến 31/7/2005) 4.2 So Sánh Tỷ Lệ Sống Trung Bình Giữa Các Nghiệm Thức 4.3 Các Yếu Tố Chất Lượng Nước Trong Quá Trình Nuôi 4.3.1 Chỉ tiêu pH trong suốt quá trình thí nghiệm 4.3.2 Chỉ tiêu nhiệt độ trong quá trình thí nghiệm 25 26 28 31 Lần 31 32 33 34 35 35 36 V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38 5.1 5.2 Kết Luận Đề Nghị 38 38 6 TÀI LIỆU THAM KHẢO 39 PHỤ LỤC 40 Phụ Lục 1: Một Số Hình Aûnh Minh Họa Phụ Lục 2: Cách Bố Trí Thí Nghiệm Phụ Lục 3: Kết Quả Phân Tích Thống Kê Phụ Lục 4: Kết Quả Tỷ Lệ Sống Phụ Lục 5: Các Chỉ Tiêu Môi Trường Nước 40 43 46 49 51 DANH SÁCH CÁC ĐỒ THỊ ĐỒ THỊ 4.1 4.2 4.3 4.4 4.5 4.6 4.7 4.8 NỘI DUNG TRANG Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Ơû Giai Đoạn I Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Ơû Giai Đoạn II Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Ơû Giai Đoạn III Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Ơû Giai Đoạn IV Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Bống Tượng Ơû Giai Đoạn III Chỉ Tiêu pH Các Buổi Sáng Trong Quá Trình Thí Nghiệm Chỉ Tiêu pH Các Buổi Chiều Trong Quá Trình Thí Nghiệm Nhiệt Độ Trong Quá Trình Thí Nghiệm 24 26 27 28 33 35 36 36 DANH SÁCH CÁC BẢNG BẢNG NỘI DUNG TRANG 4.1 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Có Mật Độ 20con/Lít (Lần IV) 4.2 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Xiêm Có Mật Độ 50con/Lít (Lần IV) 4.3 Kết Quả Ương Nuôi Cá Bống Tượng Trong Bình Nhựa (Lần Thứ I) 4.4 Kết Quả Ương Nuôi Cá Bống Tượng Trong Bình Nhựa (Lần Thứ I) 4.5 Tỷ Lệ Sống Trung Bình Của Cá Bống Tượng (Lần III) 4.6 Yếu Tố Nhiệt Độ Trong Quá Trình Thí Nghiệm 29 30 31 32 34 37 7 DANH SÁCH CÁC HÌNH ẢNH HÌNH ẢNH NỘI DUNG Hình 1 Hình Dạng Ngoài Của Trùn Giấm Hình 2 Cá Bống Tượng 1 Ngày Sau Khi Nở Hình 3 Cá Xiêm 2 Ngày Sau Khi Nở Hình 4 Cá Xiêm 10 Ngày Tuổi (Lần III) Hình 5 Cá Xiêm Trưởng Thành Hình 6 Thức Aên Cho Cá Bột 8 TRANG 40 40 41 41 42 42 I. GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, ngành thủy sản nước ta đã không ngừng phát triển. Nhiều mặt hàng thủy hải sản đã có mặt trên thị trường thế giới như: cá basa, tôm sú và một số mặt hàng thủy hải sản khác. Để ngành thủy sản có thể ngày càng ổn định và phát triển hơn nữa thì cần phải chú ý đến ba vấn đề sau: con giống, kỹ thuật nuôi và thức ăn. Trong đó, thức ăn có thể coi là nhân tố quan trọng nhất. Các loại thức ăn có thể là nguồn gốc động vật hay thực vật, thức ăn tự nhiên hay thức ăn chế biến. Để duy trì sự sống và hoạt động của cơ thể, ngoài oxygen mọi sinh vật đều cần có thức ăn. Thức ăn là nguồn cung cấp nguyên liệu giúp cho cơ thể sinh trưởng và phát triển, là nguồn vật liệu tái tạo bổ sung những bộ phận hao mòn của cơ thể trong quá trình sống. Hơn nữa, thức ăn còn cung cấp nguồn năng lượng cần thiết cho cơ thể hoạt động. Cho nên, trong quá trình sống, động vật không ngừng lấy thức ăn từ môi trường bên ngoài. Thức ăn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của động vật thủy sản. Nếu dinh dưỡng không hợp lý có thể gián tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của các bệnh khác nhau mà ngày nay người ta chưa kịp xác định hết. Vì vậy thức ăn đóng một vai trò nhất định trong nuôi trồng thủy sản đặt biệt là trong giai đoạn ấu trùng. Hiện nay, ở Việt Nam, có rất nhiều loại thức ăn sống được sử dụng để ương nuôi cá bột như : Rotifera, Moina, trùng chỉ, lăn quăn, Atermia…nhưng không phải thức ăn nào cũng phù hợp cho tất cả mọi loài cá, đặc biệt là những loài cá có kích thước nhỏ như cá xiêm, cá bống tượng… Tuy nhiên, trên thế giới, từ lâu, có một loại thức ăn sống rất phổ biến cho các loài cá đặc biệt là cá có kích cỡ nhỏ, đó là trùn giấm. Được sự phân công của Khoa Thuỷ Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Thử Nghiệm Ương Nuôi Cá Xiêm (Betta splendes) và Cá Bống Tượng (Oxyeleotris marmorata) Bằng Trùn Giấm (Tubatrix aceti). 1.1 Mục tiêu đề tài Mục tiêu đề tài nhằm:   Nhằm đánh giá tỷ lệ sống của cá bột cá xiêm và cá bột bống tượng khi cho ăn trùn giấm. So sánh kết quả tỷ lệ sống của cá khi cho ăn trùn giấm và khi cho ăn các loại thức ăn khác. II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của cá xiêm 2.1.1 Đặc điểm phân loại 9 Bộ: Perciformes Bộ phụ: Anabantoidei Họ: Anabantidae Giống: Betta Loài: Betta splendes Tên tiếng Anh: Fighting fish. Tên tiếng Việt: Cá lia thia, cá đá, cá xiêm, cá chọi. Phân loại theo màu sắc và hình dáng - Cá lia thia đồng Gồm 2 loài: cá mang đỏ và cá mang xanh, thường thấy ở các đồng ruộng miền đông và miền tây Nam Bộ. Cá mang đỏ: toàn thân màu xanh da trời, đuôi màu tím nhạt, mang cá màu đỏ. Cá mang xanh: cũng có hình dáng giống cá mang đỏ nhưng màu sắc ở thân xanh đậm và nhanh nhẹn hơn. Cá xiêm (đuôi rẽ quạt) Hiện nay, loài này được coi là điển hình của loài cá đá. Màu sắc của cá đậm, sặc sỡ và lớn hơn cá lia thia đồng. Đặc biệt là vây đuôi của cá tròn xoe giống như hình rẽ quạt. Toàn thân đậm, ánh lên các màu xanh, đỏ pha vàng nhạt và có viền đỏ. Từ loài này có thể chia ra làm 4 loài như sau:     Cá xiêm đỏ Cá xiêm xanh Cá xiêm đen Cá xiêm xám Cá phướn Cá có hình dáng khá hấp dẫn, vi dài với dáng vẻ tha thướt. Cá có vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi kéo dài rũ xuống như là lá cờ phướn nên mới gọi là cá phướn. Loài cá này đá không hay, không chịu được đòn nên ít dùng làm cá đá. Chủ yếu chúng được dùng làm cá cảnh nhờ dáng vẻ thướt tha khi bơi lượn. Ngoài ra, người ta còn lai tạo giữa cá xiêm với cá phướn hoặc cá xiêm thuần với cá xiêm lai, từ đó tạo ra nhiều giống cá và đặt tên khác nhau. 10 2.1.2 Đặc điểm hình thái và phân bố Cá có thân hình thoi. Cá thuần chủng có màu xanh biếc, lá mạ, màu đỏ của rượu chát, có hoặc không có hai sọc dọc đậm từ vây lưng tới cuốn đuôi. Cá có tia vi lưng màu đen, các vây xanh nhạt, các vân sẫm gợn sóng. Vi bụng, vi hậu môn của cá có màu đỏ. Những con cá được nuôi làm cảnh có các vây phát triển hơn cá ngoài tự nhiên. Do tập tính hung hăng hay đá nhau của nó nên người ta còn gọi nó là cá đá hay cá chọi. 2.1.3 Đặc điểm sinh thái Cá xiêm là loài cá sống trong môi trường nước ngọt. Do có cơ quan hô hấp phụ là mê lộ cho phép chúng sử dụng oxy từ không khí nên cá có thể sống được trong môi trường có ngưỡng oxy thấp hoặc trong những môi trường ô nhiễm… Cá xiêm có sức sống mạnh. Vì vậy, đây là đối tượng dễ chăm sóc và có thể nuôi ở những nới chật hẹp. Điều này rất có ý nghĩa khi nuôi riêng cá đực trong những chai lọ để kích thích tính hung hăng, hiếu chiến của chúng. Dù ở ngoài tự nhiên hay trong những bể nuôi nhân tạo, cá xiêm luôn thích ẩn nấp trong hốc. Cá xiêm sống được trong mọi tầng nước. Các yếu tố môi trường sống thích hợp cho cá là:  Nhiệt độ: 240C (ngoài tự nhiên) 0 26 - 27 C (môi trường nhân tạo)  pH: 6,5 -7,5 nhưng tốt nhất là từ 6,8 - 7,2. 2.1.4 Tập tính sống Ở loài cá này, dường như những ưu điểm về màu sắc và hình dáng cũng như tập tính sống đặc biệt đều tập trung ở con đực. Khi tiếp xúc với cá đực khác hoặc thấy ảnh của nó phản chiếu qua gương, cá đực thường phô trương những màu sắc tiềm ẩn và kỳ ảo. Điều thú vị nhất khi đề cập đến tập tính “đấu tranh sinh tồn” của loài cá này là khả năng chọi nhau của con đực. Trận đấu diễn ra khi hai con đực gặp nhau. Chúng sẽ giương vi, phùng mang và màu sắc sẽ chuyển đổi rực rỡ hơn. Cá quẩy mình qua lại, đầu hướng thẳng về phía đối thủ. Chúng giữ tư thế này ở vài giây đến vài phút và bất chợt lao vào nhau và dùng miệng để tấn công. Một trong những pha quyết định sự thắng bại thú vị làm bất ngờ người xem là hai đối thủ chận đầu nhau và bất ngờ tấn công với hai 11 miệng cắn dính vào nhau. Thân cá bị căng ra. Cá chiến đấu bằng cách xoay tròn quanh trục thân và thường kéo dài từ 10 đến 20 giây, thường kết thúc khi cá chìm xuống đáy. Sau đó, chúng rời nhau ra và nhanh chóng trồi lên mặt nước để thở nhờ cơ quan hô hấp phụ. Sau đó, lại tiếp tục chiến đấu. Trận đấu kết thúc khi con yếu sức bỏ chạy, thậm chí có khi chết trận. Cả hai chiến sĩ cá sau trận đấu đều không tránh khỏi những tổn thương và các vi rách nát. 2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng 2.1.5.1 Tính ăn Cá xiêm là loài ăn tạp thiên về động vật. Chúng thích những mồi sống di động như: lăn quăn, trùng chỉ, ấu trùng muỗi lắc… Theo kết quả khảo sát tính ăn của cá xiêm của Dương Thị Thuý Nga (1993), thì cơ quan tiêu hoá của cá xiêm gồm: miệng, hầu, thực quản với hai manh tràng khá dài, ruột ngắn và tận cùng là lỗ hậu môn nếu là con đực. Còn ở con cái thì tận cùng của ruột là lỗ huyệt. Đồng thời đo được tỷ lệ chiều dài ruột /chiều dài thân (Li/Ls) là 0.67 - 0.75. Vì vậy, đây là loài cá có cấu tạo cơ quan tiêu hoá thích hợp với tập tính ăn tạp thiên về động vật. 2.1.5.2 Thức ăn theo các giai đoạn tuổi Theo nhiều tài liệu tham khảo cùng kinh nghiệm của các nghệ nhân cá cảnh thì thức ăn và liều lượng cho ăn thay đổi theo từ giai đoạn tuổi. Từ 1 - 3 ngày tuổi, cá dinh dưỡng chủ yếu nhờ noãn hoàng. Cá bột mới nở trú ẩn dưới tổ cho đến khi tiêu hết noãn hoàng. Từ 4 - 7 ngày tuổi, cá bắt đầu ăn thức ăn ngoài. Loại thức ăn thích hợp cho cá là infusoria. Từ 8 - 14 ngày tuổi, cá được cho ăn Moina và lòng đỏ trứng gà. Ngoài ra, với cách nuôi dân gian, người ta còn cho cá ăn vài giọt mỡ heo. Với loại thức ăn này, tránh cho cá ăn quá nhiều vì sẽ tạo lớp ván mỡ bên trên mặt nước cản sự khuếch tán của oxy từ không khí vào nước. Từ 15 - 21 ngày tuổi, cá có thể ăn được Moina với kích cỡ lớn hơn và trùng chỉ. Theo Dr William T.innes (1990), khi cá khoảng ba tuần tuổi thì cơ quan hô hấp phụ chưa hình thành. Vì vậy, việc ương nuôi cá trong giai đoạn này phải chú ý đến mật độ cá và chất lượng nước nuôi. Mật độ cá phải vừa phải và phải đảm bảo oxy cần thiết cho cá. Nếu mật độ quá dày hoặc chất lượng nước quá xấu sẽ làm hàm lượng oxy hoà tan trong nước thấp. Lúc này, cá buộc phải sử dụng đến cơ quan hô hấp phụ chưa hoàn chỉnh, dễ làm cá bị tổn thương… Lượng oxy đòi hỏi không được đáp ứng sẽ dẫn tới tình trạng chết ngạt ở cá. Từ 21 ngày tuổi trở đi, thức ăn là Moina trưởng thành, trùng chỉ, cung quăn… Chúng đặc biệt ưa thích mồi sống chuyển động. Nếu cùng một lúc cho cá ăn cả thức ăn 12 sống và thức ăn chết thì cá sẽ ăn mồi sống, còn lỡ nếu bắt mồi chết thì cá sẽ phun ra ngay. 2.1.6 Đặc điểm sinh sản Để phân biệt giới tính, người ta thường dựa vào màu sắc của cá. Màu sắc của cá đực không rực rỡ như cá cái nhưng khi phát dục, màu cá đực lại trở nên rất đẹp. Tuổi thành thục của cá : 3 tháng tuổi. Lúc này, cá có kích cỡ khoảng 4cm. Cá thường sinh sản vào buổi sáng kéo dài đến trưa. Thời gian đẻ từ 3 - 5 giờ. Nhiệt độ nước thích hợp cho cá sinh sản là 25 – 280C (Võ Văn Chi, 1993). Vào mùa sinh sản, sự chuẩn bị tổ và các cuộc giao hoan diễn ra rất thú vị. Khi muốn kết đôi với một con cá cái, cá đực sẽ chiếm một diện tích trong bể và nhả bọt khí ra làm tổ. Mỗi bọt khí được bao bọc bởi một màng chất nhờn tiết ra từ miệng. Chúng kết dính vào nhau tạo thành một khối bọt có đường kính từ 8 – 10 cm. Sau thời gian bị cá đực rượt đuổi, khi cá cái đã sẵn sàng đẻ thì chúng quần ổ và quấn vào nhau. Cá đực xoay quanh cá cái, ép và ôm lấy cá cái bằng các vây dài, toàn bộ cơ thể cong vòng một cách dịu dàng. Hành động này kéo dài khoảng một phút. Theo Bùi Hồng Phúc, 1992 thì hành động này là “sự va chạm có tác dụng kích thích”. Sau đó, cá đực buông dần cá cái ra. Sự tiết sẹ và trứng bắt đầu. Trứng tiết ra từng nhóm nhỏ, trung bình từ 15 – 25 trứng/lần, đôi lúc đạt 40 – 50 trứng/lần nhưng trường hợp này rất ít. Cũng ngay lúc ấy, cá đực tiết sẹ để thụ tinh. Sự thụ tinh diễn ra trong môi trường nước. Sau khi trứng được cá đẻ ra, nó sẽ chìm từ từ xuống đáy bể nuôi. Cá đực bơi theo và nhẹ nhàng ngậm trứng vào miệng rồi nhanh chóng trồi lên mặt nước, phun trứng vào tổ sao cho trứng dính vào cụm bọt nổi. Cá đực cứ tiếp tục như vậy cho đến khi thu lượm hết số trứng rơi dưới đáy. Sau đó, nó lại tiếp tục động tác cuộn thân, xoắn quanh con cái như mô tả trên, cứ thế khoảng vài chục lần cho đến khi con cái đẻ xong. Sự kết hợp giữa bơi lội và đẻ trứng xảy ra rất ngoạn mục. Trong thời gian ép đẻ, cá đực và cái ở gần mặt nước, ngay dưới đám bọt. Cá đực luôn giữ bọt, nếu bọt có tan đi, nó lại phun thành đám khác. Một đặc điểm khác ở loài cá này là khi sinh sản, con cái có đặc tính ăn trứng. Do đó, trong tự nhiên, sau khi đẻ xong, cá cái sẽ bị cá đực rượt đuổi đi xa một khoảng nào đó. Vì vậy, khi bố trí cá đẻ trong khạp, người ra bắt cá cái ra ngay sau khi nó đẻ xong, để tránh cá cái ăn trứng và bị tổn thương do cá đực rượt đuổi. Theo Võ Văn Chi, 1993 thì thời gian để trứng nở là 30 – 40 giờ ở nhiệt độ 28 – 29 C. 0 Cá bột mới nở vẫn ở dưới tổ cho đến khi tiêu hết noãn hoàng. Nếu con nào tách ra trước khi có đủ khả năng bơi lội thì cá đực sẽ hớp lấy vào miệng và nhẹ nhàng phun trở lại tổ. 13 Trong suốt thời kỳ cá bột còn quá nhỏ, cá đực lại đều đặn việc ngậm cá con và phun chúng ra với những bọt mới. Như vậy, nó đảm bảo cho cá con có đủ lượng oxy để hô hấp. Theo Mody, 1932, lúc này, cá chưa mở miệng. Chúng hô hấp bằng oxy từ bọt khí. Như vậy, việc nhả thêm bọt khí của cá đực là nhằm để đảm bảo lượng oxy cần thiết cho con nó thở. Tầm quan trọng của cá đực trong việc ấp trứng và chăm sóc con được các nghệ nhân cá cảnh đánh giá rằng: “Nếu bắt cá đực ra khỏi tổ sau khi đẻ xong thì hầu hết hoặc toàn bộ trứng sẽ không nở. Chúng bị rơi xuống đáy khạp và bị ung. Sự phân hủy của những trứng ung này làm tiêu hao nhiều oxy hoà tan. Đồng thời, không có bọt khí do cá đực phun ra. Điều này dẫn tới việc môi trường nước nghèo oxy, khả năng sống sống của cá còn lại sẽ giảm xuống. Vì vậy, sự có mặt của cá đực rất quan trọng trong sự phát triển của trứng và cá nới nở”. Khi cá con được 5 ngày tuổi, sự có mặt của cá đực lúc này không còn cần thiết nữa. Bây giờ, nên bắt nó ra, nếu không sau một thời gian nó có thể ăn con. 2.1.7 Mùa vụ sinh sản Trong tự nhiên, cá xiêm có thể sinh sản quanh năm nhưng mùa sinh sản chính chỉ tập trung vào mùa nắng và các tháng đầu mùa mưa, là từ tháng 2 đến tháng 6. Vì theo kinh nghiệm của các cơ sở nuôi cá cảnh, mùa nắng nhiệt độ nước ấm áp thì tỉ lệ nở và tỉ lệ sống của cá bột sẽ cao. Còn vào mùa mưa và mùa lạnh, cá rất dễ bị nhiễm bệnh, thường gặp là bệnh nấm thuỷ mi. 2.2 Đặc điểm sinh học của bống tượng 2.2.1 Đặc điểm phân loại Bộ: Perciformes Bộ phụ: Gobioidei Họ: Eleotridae Giống: Oxyeleotris Loài: Oxyeleotris marmorata Bleeker 1952 Tên tiếng Anh: Marble goby. Tên tiếng Việt: Cá bống tượng. 2.2.2 Đặc điểm hình thái 14 Cá bống tượng đầu to, rộng, dẹp bằng. Mõm dài nhọn, hướng lên trên, giữa mõm có một u nhô cao. Miệng trên rộng, hàm dưới dài hơn hàm trên và đưa ra phía trước. Răng nhọn, gốc răng to, xếp thưa thành nhiều hàng trên mỗi hàm. Không có râu. Mắt tròn, nhỏ lệch về phía đầu. Lưỡi rất phát triển, dẹp bằng, đầu lưỡi tròn. Lỗ mũi trước mở ra bằng một ống ngắn. Thân cá mập, phần trước hơi dẹp bằng, phần sau hơi dẹp bên. Đuôi thon dài, vẩy nhỏ phủ khắp thân và đầu từ mõm. Đầu và phần trước của thân phủ vẩy tròn, phần sau phủ vẩy lươc. Vây đuôi tròn, có màu hơi đỏ hoặc nâu vàng, có nhiều sọc đỏ và nâu hoặc xám tạo thành vân. Mặt lưng có ba đốm đen, một ở sau đầu, một ở gốc vi lưng thứ nhất và một ở gốc vi lưng thứ hai. Mặt bên của thân có nhiều đốm đen to, những đốm này không có hình dáng nhất định. 2.2.3 Phân bố Trong tự nhiên, cá phân bố ở khắp loại hình thuỷ vực nước ngọt từ ao hồ, ruộng, mương, kênh, rạch, sông… Theo Lê Như Xuân và Phạm Đinh Thành (1994), cá bống tượng là loài cá đặc trưng cho vùng nhiệt đới. Trên thế giới, bống tượng được bắt gặp ở Thái Lan, Mã Lai, Brunei, Sumatra, Lào, Campuchia và Việt Nam. Ở miền Nam Việt Nam, cá xuất hiện nhiều ở các sông rạch thuộc hệ thống sông Cửu Long, Đồng Nai và sông Vàm Cỏ. 2.2.4 Đặc điểm sinh thái Theo tác giả Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994), cá bống tượng sống ở đáy thuỷ vực, hoạt động về đêm. Ban ngày, nó thường vùi mình xuống bùn đáy và có thể sống ở đó nhiều giờ. Trong ao, cá ưa ẩn nắp ven bờ, nơi có hang hốc, cỏ rong và thực vật thuỷ sinh thượng đẳng. Cá bống tượng là loài có cơ quan hô hấp phụ nên có thể sống được trong môi trường nước thiếu oxy trong một khoảng thời gian nhất định. Qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Dũng và Đỗ Khắc Xuân Diễm (1995), thì cá bống tượng có thể sống được trong môi trường nước có pH từ 4 - 9 nhưng tốt nhất là 6 - 8. Cá cần có dưỡng khí trên 3mg/l, song cá có thể chịu đựng ở môi trường dưỡng khí thấp vì cá có cơ quan hô hấp phụ (http//: www.vietlinh.com.vn - Đi cùng nhà nông). 15 Khả năng thích ứng với độ mặn của cá bống tượng khá cao so với nhiều loài cá khác. Cá bống tượng có thể sống được ở độ mặn 130/00. Theo Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994), cá bống tượng thích hợp sống trong môi trường nước ấm áp với nhiệt độ khoảng 25 - 300C 2.2.5 Đặc điểm dinh dưỡng Cá bống tượng trưởng thành có bộ máy tiêu hoá tiêu biểu cho loài cá dữ điển hình. Miệng lớn, răng hàm dài sắc (Lê Như Xuân, Phạm Minh Thành, 1994). Theo Nguyễn Văn Thạnh (1984), Nguyễn Tuần (1993), cá bống tượng là loài cá ăn động vật. Tỷ lệ chiều dài ruột trên chiều dài chuẩn là Li/Ls < 1. Cá bống tượng thì rình bắt mồi. Cá bống tượng ăn mạnh về đêm hơn ban ngày, nước rong ăn mạnh hơn nước kém, nước lớn ăn mạnh hơn nước ròng. Thức ăn của chúng chủ yếu là: tôm, tép, cá nhỏ, cua, ốc, ấu trùng của côn trùng thuỷ sinh… Cá bống tượng không thích ăn những động vật đã ươn thối. Theo Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994), cũng như những loài cá khác sau khi tiêu hết noãn hoàn, bống tượng bắt đầu ăn thức ăn ngoài (thường là từ 3 - 4 ngày sau khi nở). Kích cỡ miệng lúc này khoảng 0,08 - 0,2mm. Vì vậy, thức ăn cung cấp phải đảm bảo phù hợp với cỡ miệng của cá bống tượng. Và những loại thức ăn mà người ta thường sử dụng như: luân trùng (Branchionus spp), lòng đỏ trứng gà, bột đậu nành… Sau 30 ngày tuổi, bống tượng có thể ăn nhiều loại thức ăn như: trùng chỉ (Tubifex), ấu trùng muỗi lắc, cá, tép, nhuyễn thể xay nhuyễn… Theo Cheng Phen, 1994 những phân tích thành phần thức ăn trong dạ dày ác mẫu cá thu được ngoài tự nhiên cho thấy: Loài thức ăn Tôm tép nhỏ Cá nhỏ Cua nhỏ Số dạ dày có chứa thức ăn 7 4 1 Tần số xuất hiện(%) 58.33 33.33 8.33 Kết quả khảo sát cho thấy cá bống tượng là loài cá có phổ thức ăn hẹp, đặc biệt cá chỉ ăn mồi động vật. Điều này phù hợp với kết quả của Nguyễn Văn Thạnh (1985). Theo Nguyễn Văn Thạnh (1985) thì tỷ lệ Li/Ls của cá bống tượng rất thấp (Li/Ls = 0.04 - 0.06), cho thấy đây là loài cá ăn động vật điển hình. 2.2.6 Tăng trưởng và kích thước tối đa Cá bống tượng là loài cá có tốc độ tăng trưởng chậm ở giai đoạn cá dưới 100g. Cá từ 100g trở lên tăng trưởng khá hơn. 16 Trong điều kiện nhiệt độ 26-300C, trứng cá bống tượng nở sau 25 - 26 giờ. Lúc này, cá có chiều dài từ 2,5 - 3mm. Sau khi cá nở 1 ngày, chiều dài cá đạt 3,8mm. Cá chuyển động thẳng đứng và từ từ buông mình chìm xuống đáy. Cá nở sau 2 ngày, chiều dài đạt 3,8 - 4mm. Mắt có sắc tố đen. Vi ngực bắt đầu xuất hiện. Cá vẫn còn vận động thẳng đứng. Cá 3 ngày tuổi dài 4 - 4,2mm. Túi noãn hoàng đã tiêu biến. Cá 12 ngày tuổi đã xuất hiện đầy đủ các vây. Cá 18 ngày tuổi bắt đầu hình thành vảy và có hình dáng của cá trưởng thành. Cá 30 ngày tuổi dài khoảng 13mm. Cá 45 ngày tuổi dài khoảng 21mm. Cá 60 ngày tuổi dài khoảng 30mm. Cá 75 ngày tuổi dài khoảng 41mm. Cá 90 ngày tuổi dài khoảng 53mm. Ở giai đoạn từ cá bột lên cá hương, cá phải mất thời gian 2 - 3 tháng mới đạt chiều dài 3 - 4cm. Từ cá hương cần phải nuôi 4 - 5 tháng cá mới đạt kích cỡ của cá giống là 100g/con. Còn để có kích cỡ 100g/con từ lúc mới đẻ phải mất từ 7 - 9 tháng. Nếu cá giống có trọng lượng 100g/con, để có cá thương phẩm 400g trở lên, phải mất 5 - 8 tháng nếu nuôi ao, 5 - 6 tháng nếu nuôi bè. Kích thước tối đa của cá có thể đạt được là 500mm. 2.2.7 Đặc điểm sinh sản a Phân biệt giới tính Thông thường, sau khi nuôi vỗ được 1 - 2 tháng, cá đã phát dục và có thể phân biệt đực cái qua quan sát hình dạng bên ngoài. Cá đực có gai sinh dục nhỏ, đầu nhọn hình tam giác. Cá cái có gai sinh dục lớn nhưng không nhọn đầu như gai sinh dục của cá đực. b Tuổi và kích thước thành thục 17 Theo nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước cùng Lê Như Xuân và Phạm Minh Thành (1994), trong tự nhiên, cá bống tượng thành thục sinh dục và tham gia sinh sản lần đầu sau 9-12 tháng tuổi. Trong nuôi và cho sinh sản nhân tạo, cá có thể thành thục sớm hơn 1-2 tháng. Kích cỡ cá lúc này khoảng 200g. c Đặc tính và môi trường sinh sản Nơi đẻ của cá bống tượng thường nằm ven bờ và chìm sâu trong nước, nơi có các cây cỏ thuỷ sinh hay các thân cây chìm. Cá đẻ trứng dính thành ô tròn ở dưới các gốc cây, hang hốc ven bờ. Trứng bống tượng giống hình quả lê, có chiều dài từ 1,2 - 1,4mm. Sau khi đẻ, cá bố mẹ bơi quanh tổ và dùng vây đuôi quạt nước để cung cấp đủ lượng oxy cho trứng cá phát triển. Và công việc này được chúng thực hiện cho đến khi toàn bộ trứng cá nở hết. d Mùa vụ sinh sản Mùa vụ đẻ ngoài tự nhiên kéo dài từ tháng 3 - 11. Cá có hệ số thành thục thấp. Cá cái thành thục chỉ đạt 1,5 - 2%, nhưng vì trứng có kích cỡ nhỏ nên sức sinh sản cao. Nhiều tác giả nghiên cứu và thấy rằng khả năng sinh sản của mỗi cá thể là khác nhau, dao động từ 2.000 – 30.000 trứng, với số lượng trứng trung bình của mỗi tổ là 24.000 trứng/tổ. Và mỗi cá thể cái đẻ ít nhất ba lần trong một năm. Thời gian tái phát dục của cá khoảng 30 ngày. 2.3 Tình hình sản xuất giống cá bống tượng 2.3.1 Trong nước Qua nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước thì mùa vụ sinh sản của cá bống tượng từ tháng 3 - 11. Tác giả Ngô Bá Thành và ctv (1988) đã kết luận cá đẻ tập trung vào tháng 5 - 6. Tan và Lam, 1973 (trích bởi Nguyễn Tuần, 1993), lần đầu tiên đã cho sinh sản nhân tạo cá bống tượng thành công bằng cách tiêm chế phẩm HCG với phương pháp thụ tinh ướt. Phương pháp này đã cho một kết quả hết sức khả quan. Tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở rất cao (90%). Nhưng tất cả cá bột đã chết sau đó vài ngày. Ở Việt Nam, từ những năm 1984-1985, các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu đã bắt đầu nghiên cứu đối tượng này. Khoa Thuỷ Sản Trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật sinh sản nhân tạo (Nguyễn Văn Thạnh, 1984, Ngô Bá Thành và ctv, 1988), ương nuôi cá bột lên cá hương giống (Nguyễn Duy Hoà Và Huỳnh Thị Ngọc Anh, 1994), sản xuất giống và gây nuôi thức ăn tự nhiên (Nguyễn Tuấn Dũng và Đỗ Khắc Xuân Diễm, 1995). 18 Nguyễn Tuần (1993), khoa Thuỷ Sản Trường Đại Học Cần Thơ cũng đã nghiên cứu cá bống tượng về: hình thái, giải phẫu, đặc điểm sinh thái cá con, đặc điểm tiền phôi và phôi, bệnh cá. Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản II đã nghiên cứu: đặc điểm phân loại, đặc điểm sinh học, kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ, sinh sản nhân tạo, ương nuôi từ cá bột lên cá hương và cá giống… Ủy Ban Khoa Học Kỹ Thuật Tỉnh An Giang bước đầu thành công trong nuôi thịt, nuôi vỗ cá bố mẹ trong bè và tiến hành kích thích sinh sản nhân tạo. Ngô Bá Thành và ctv (1988) đã thử nghiệm sản xuất giống và ương nuôi cá bống tượng với 3 loại thức ăn khác nhau. Tỷ lệ sống trung bình của các lô ương từ 3 - 60 ngày tuổi đạt được như sau: 21,78% đối với lô cho ăn lòng đỏ trứng gà; đối với lô cho ăn bột đậu nành thì đạt 13,43%; 12,15% đối với lô cho ăn thức ăn tự nhiên. 2.3.2 Trên thế giới Những báo cáo ban đầu của Tan (1973) và Phinal (1980) trích bởi Tavarutmaneegul và Lin (1988) cho thấy cá bống tượng ở giai đoạn cá bột có tỉ lệ tử vong rất cao, lên tới 100%. Nhưng với giá thể thích hợp, Tavarutmaneegul và Lin (1998) đã thành công trong việc thu trứng cá bống tượng và số lượng trứng thụ tinh hơn 80%. Với thức ăn là lòng đỏ trứng gà và luân trùng, cá bột vẫn chết nhiều với tỷ lệ là 90%. Có nhiều ý kiến xoay quanh hiện tượng này. Nguyên nhân có thể là cá chết đói do thức ăn không phù hợp (Tan và ctv, 1973), hay do mật độ các hạt thức ăn (Tavarutmaneegul và Lin, 1988). Tavarurmaneegul và Lin (1988) báo cáo rằng trong suốt 30 ngày kể từ sau khi nơ,û cá bống tượng đạt chiều dài trung bình là 1 cm với tỷ lệ sống từ 7 - 55%. Vào giai đoạn hai (từ 30 - 60 ngày sau khi nở), khi nuôi với mật độ 20 con/m2 thì cá tăng trưởng cao hơn và tỷ lệ sống cũng cao hơn 75 - 100%. Thức ăn của chúng ở giai đoạn này là Moina.sp, ấu trùng của côn trùng… Rojanapittaykul (2000) đã thực hiện những nghiên cứu về sự thích nghi của trứng và ấu trùng của cá bống tượng ở những độ mặn khác nhau (0, 10, 20 ppt). Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ nở đạt cao nhất khi cá được nuôi trong môi trường nước ngọt. Sau 23 ngày tuổi, tỷ lệ tử vong khá cao. Nhưng sau 60 ngày tuổi, ở độ mặn 10 ppt tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ sống đạt rất cao (96,88%) và cá dài 1,94 cm. Thức ăn được sử dụng để ương cá bống tượng từ sau khi nở cho đến 30 ngày tuổi là Chlorella sp, Rotifer, Artemia sp và cuối cùng là Moina sp. Theo Nguyễn Tuần (1993), thì vào những năm cuối của thập niên 70, các vùng Đông Nam Aù đã bắt đầu nuôi và cho đẻ nhân tạo thành công như: Indonesia (1978), Singapore (1980) và Thái Lan (1980)… 2.4 Thức ăn sử dụng trong quá trình ương cá bột lên cá hương 19 2.4.1 Thức ăn chế biến Thức ăn chế biến hay còn gọi là thức ăn khô, thức ăn nhân tạo do con người chế biến lại từ những dạng còn tươi sống rồi mới dùng làm thức ăn cho vật nuôi thuỷ sản. a Lòng đỏ trứng gà Trứng là loại thực phẩm vừa có nhiều chất béo, nhiều chất đạm đồng thời giàu vitamin và khoáng vi lượng. Trứng là món ăn tốt cho trẻ em đang tuổi mới lớn, bệnh nhân đang phục hồi sức khoẻ. Và đã từ lâu, trứng là thức ăn phổ biến được dùng để ương nuôi cá bột. Thành phần dinh dưỡng của trứng phụ thuộc vào thức ăn, giống, môi trường sống, trạng thái sức khoẻ và thời gian khai thác của gia cầm. Lòng đỏ trứng gà là khối nhũ tương hình cầu nằm trong màng lòng đỏ, một màng có tính đàn hồi và độ bền cao. Màu sắc lòng đỏ trứng phụ thuộc vào giống, thức ăn và khả năng chuyển hoá sắc tố của gia cầm. Lòng đỏ chiếm khoảng 30% khối lượng trứng với thành phần hoá học như sau: Nước: 47 – 50% Protein: 15 – 17% Lipid: 27 – 36% Glucid: 0.7 – 1% Khoáng: 0.7 – 1.6% Ngoài ra trong lòng đỏ trứng gà còn có các loại vitamin (trừ vitamin C) b Thức ăn tổng hợp Đây là một loại thức ăn công nghiệp với tên thương mại là Rotofier có dạng những hạt mịn, màu lục với nhiều thành phần đa dạng, phong phú. Thành phần của thức ăn bao gồm: bột cá, tôm, tảo Spirulina, dầu cá, protein động thực vật, vitamin, chất khoáng bổ sung và màu nhân tạo. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn được trình bày trên nhãn hộp như sau: Nước: Protein: Lipid: Chất xơ: Khoáng: c 8% 50% 27% 2% 1% Tảo khô Spirulina Spirulina là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, không độc, hàm lượng protein cao hơn bất cứ một loại thức ăn nào khác. Theo Lamg Switzer (1980) so sánh hàm lượng Protein có trong tảo và các thực phẩm khác. 20
- Xem thêm -