Ths31_039_xây dựng nôi dung trang web hỗ trợ viêc dạy học chương ”vectơ trong không gian quan hệ vuông góc ” theo chương trình toán lớp 11

  • Số trang: 120 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
garmetspace

Đã đăng 305 tài liệu

Mô tả:

i ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THU THỦY XÂY DỰNG NỘI DUNG TRANG WEB HỖ TRỢ VIỆC DẠY HỌC CHƢƠNG ”VECTƠ TRONG KHÔNG GIAN. QUAN HỆ VUÔNG GÓC” THEO CHƢƠNG TRÌ NH TOÁN LỚP 11 TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC THÁI NGUYÊN - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ii ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN THU THỦY XÂY DỰNG NỘI DUNG TRANG WEB HỖ TRỢ VIỆC DẠY HỌC CHƢƠNG "VECTƠ TRONG KHÔNG GIAN. QUAN HỆ VUÔNG GÓC" THEO CHƢƠNG TRÌ NH TOÁN LỚP 11 TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Toán Mã số: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đào Thái Lai THÁI NGUYÊN - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn iii LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng b iết ơn sâu sắc tới PGS .TS. Đào Thái Lai, người thầy đã hướng dẫn tận tình, chu đáo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo trong Ban chủ nhiệm khoa Toán, Phòng Quản lí khoa học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên và PGS.TS Bùi Văn Nghị, TS Nguyễn Anh Tuấn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo , trường THPT Tứ Sơn tỉnh Bắc Giang, các bạn đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài. Đặc biệt, qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới NCS . Nguyễn Văn Hồng đã dành nhiều thời gian và công sức giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này. Bắc Giang, ngày 08 tháng 08 năm 2010 Tác giả Nguyễn Thu Thủy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn iv MỤC LỤC Trang Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài……………………………………………………………1 2. Mục đích nghiên cứu………………………………………………………...2 3. Giả thuyết khoa học…………………………………………………………2 4. Nhiệm vụ nghiên cứu………………………………………………………..2 5. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………3 6. Cấu trúc của luận văn……………………………………………………….3 Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thƣ̣c tiễn………………………………………4 1.1. Tâm lý lứa tuổi học sinh THPT …………………………………………4 1.2. Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn toán ở trường THPT………6 1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học toán ở trường THPT…………6 1.2.2 Định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở trường THPT.7 1.2.3 Phương pháp dạy học tích cực…………………………………………8 1.3. Ứng dụng CNTT & TT trong dạy học toán ở THPT ……………………8 1.3.1 Tác động của công nghệ thông tin và truyền thông tới đổi mới phương pháp dạy học.………………………………………………………………….8 1.3.2 Các mức độ ứng dụng CNTT & TT trong dạy học toán ở THPT…….14 1.4. Khái quát về nội dung trang web dạy học………………………………17 1.4.1. Khái niệm về nội dung trang web dạy học ……………………………17 1.4.2. Đặc điểm của nội dung trang web dạy học ……………………………18 1.4.3. Một số yêu cầu cơ bản trong việc xây dựng nội dung trang web dạy học.…………………………………………………………………………….20 1.4.4. Chức năng hỗ trợ của website dạy học.……………………………….21 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn v 1.5. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học ở Việt Nam và các trường THPT thuộc tỉ nh Bắc giang …………………....23 1.5.1. Tình hình ứng dụng CNTT&TT trong dạy học ở Việt Nam hiện nay..23 1.5.2. Thực trạng ứng dụng CNTT&TT trong dạy học ở các trường T HPT thuộc tỉ nh Bắc Giang ……………….............................................................27 Kết luận chƣơng 1…………………………………………………………..33 Chƣơng 2. Xây dƣ̣ng nội trang web hỗ trợ việc dạy học chƣơng “Vectơ trong không gian . Quan hệ vuông góc” theo chƣơng trì nh toán lớp 11 trƣờng THPT………………………………………………………………...34 2.1. Tổng quan về dạy học chương: “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc”.…………………………………………………………………………...34 2.1.1. Mục tiêu dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc”. …………………………………………………………………………..34 2.1.2. Nội dung chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc”..….36 2.1.3. Đặc điểm học sinh khi học chươ ng “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc”..………………………………………………………………….38 2.1.4. Một số khó khăn trong dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” có thể khắc phục được với website dạy học………………..39 2.2. Xây dựng nội dung trang web hỗ trợ dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” ……………………………………………42 2.2.1 Ý tưởng xây dựng nội dung trang web dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” . …………………………………………42 2.2.2 Những căn cứ để xây dựng nội dung trang web dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc”.……………………………………44 2.2.3 Xác định cấu trúc của nội dung trang web hỗ trợ dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” .…………………………………….46 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn vi 2.2.4. Hạn chế, chú ý khi sử dụng website hỗ trợ dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc”……………………………………54 2.3. Tổ chức dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” có sự hỗ trợ của website dạy học.……………………………………………57 2.3.1 Quy trình thiết kế dạy học kiến thức của chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” có sự hỗ trợ của website dạy học……………….57 2.3.2 Cách thức tổ chức dạy học có thể khai thác khả năng hỗ trợ của w ebsite dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc”……………59 2.4. Điều kiện sử dụng nội dung website đã xây dựng có hiệu quả…………75 2.4.1 Yêu cầu về cơ sở vật chất, phần mềm: Để nội dung trang web đã xây .75 2.4.2 Yêu cầu về kĩ năng cơ bản……………………………………………...76 Kết luận chương 2…………………………………………………………….77 Chƣơng 3. Thƣ̣c nghiệm sƣ phạm ………………………………………….79 3.1. Mục đích của thực nghiệm.………………………………………………79 3.2 Đối tượng thực nghiệm…………………………………………………..79 3.3. Nhiệm vụ thực nghiệm.………………………………………………….80 3.4. Phương pháp thực nghiệm.………………………………………………80 3.5. Kết quả thực nghiệm.…………………………………………………….81 Kết luận chương 3…………………………………………………………….86 Kết luận………………………………………………………………………87 Tài liệu tham khảo……………………………………………………………89 Phụ lục………………………………………………………………………..93 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn vii NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Công nghệ thông tin CNTT Giáo viên GV Công nghệ thông tin và truyền thông CNTT&TT Hình học không gian HHKG Học sinh HS Máy vi tính MVT Phần mềm dạy học PMDH Phương pháp dạy học PPDH Phương tiện dạy học PTDH Quá trình dạy học QTDH Sách giáo khoa SGK Sách giáo viên SGV Thực nghiệm sư phạm TNSP Trung học phổ thông THPT Trắc nghiệm khách quan TNKQ Véc tơ trong không gian VTTKG Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và truyền thông(CNTT&TT), đã và đang xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Giáo dục là một trong những ngành cũng chịu nhiều tác động của CNTT&TT. Nó xâm nhập vào ngành giáo dục với tư cách là phương tiện dạy học hiện đại đã trở thành một trào lưu mạnh mẽ với quy mô quốc tế và đó là một xu thế của giáo dục trên toàn thế giới. Chiến lược phát triển giáo dục của nước ta hiện nay cũng nhấn mạnh các ứng dụng CNTT&TT trở thành thiết bị dạy học chủ đạo trong giảng dạy. Trên thực tế trong những năm gần đây, việc ứng dụng CNTT&TT vào dạy học đã mang lại hiệu quả cao hơn so với phương pháp dạy học truyền thống. Một trong những xu hướng ứng dụng đó là xây dựng nội dung trang web hỗ trợ dạy học. Trong nhà trường phổ thông, những điểm mạnh của CNTT&TT đang được khai thác để hỗ trợ quá trình dạy học. Vấn đề kết hợp CNTT&TT với lớp học truyền thống là một trong những hướng khai thác tốt, giúp tăng cường hứng thú học tập, phát triển tư duy trí tuệ và đặc biệt góp phần rèn luyện khả năng tự học, tự nghiên cứu, nâng cao kiến thức cho học sinh. Trong quá trình giảng dạy và học tập nội dung “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” theo chương trình toán lớp 11 trường THPT, học sinh gặp phải một số khó khăn như: khả năng tư duy tưởng tượng chưa tốt, sự phân biệt quan hệ vuông góc giữa các đối tượng còn chưa được rõ ràng. Do đó việc tiếp thu, lĩnh hội các kiến thức của phần này gặp những hạn chế, đôi khi học sinh phải công nhận một số tính chất, tiếp thu một cách thụ động. Để nâng cao chất lượng tri thức của học sinh, giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách có căn cứ khoa học thì việc trực quan hóa các tính chất hình học là một nhu cầu cần thiết khi giảng dạy. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 Với những lí do trên chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là “Xây dựng nội dung trang web hỗ trợ việc dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” theo chương trình toán lớp 11 trường THPT”. 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu, xây dựng nội dung trang web hỗ trợ dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” theo chương trình toán lớp 11 trường THPT, nhằm thúc đẩy khả năng tự học của học sinh và góp phần đa dạng hóa phương tiện dạy học. 3. Giả thuyết khoa học Nếu xây dựng được nội dung trang web hỗ trợ dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” đảm bảo tính chính xác khoa học và được sử dụng phù hợp với từng đối tượng học sinh thì sẽ phát huy tính tích cực, khả năng tự học của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hình học không gian lớp 11 ở trường THPT. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu định hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) và tác động của CNTT&TT tới đổi mới PPDH môn toán. - Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng nội dung trang web hỗ trợ dạy học. - Nghiên cứu thực trạng dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” ở lớp 11 trường THPT. - Thiết kế nội dung trang web hỗ trợ dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” theo chương trình hình học lớp 11 trường THPT. - Triển khai thử nghiệm nội dung trang web đã xây dựng tại trường THPT Tứ Sơn. Từ kết quả thử nghiệm đánh giá ưu, nhược điểm của nội dung đã xây dựng và có những đề xuất, kiến nghị để việc ứng dụng CNTT & TT vào giảng dạy và học tập đạt kết quả cao hơn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu lí luận: Sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài, nghiên cứu tâm sinh lý học sinh, nghiên cứu nội dung, chương trình SGK, SGV, phân phối chương trình, tài liệu lý luận về việc sử dụng máy vi tính và những ứng dụng của nó trong việc đổi mới PPDH… - Phương pháp điều tra, quan sát: Lập phiếu điều tra, quan sát kết quả, thăm dò ý kiến của học sinh để nắm bắt được những yêu cầu, thuận lợi và khó khăn của các em, trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp về việc dạy học phần nội dung này nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. - Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia giáo dục và CNTT&TT về cách thức xây dựng nội dung trang web hỗ trợ dạy học chủ đề “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc”. - Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm giảng dạy một số giáo án đã đề xuất trong luận văn bằng cách kết hợp với hình thức dạy học truyền thống trên lớp để kiểm nghiệm tính hiệu quả và khả thi của nội dung trang web đã xây dựng. 6. Cấu trúc của luận văn - Mở đầu. - Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn. - Chương 2. Xây dựng nội dung trang web hỗ trợ việc dạy học chương “Vectơ trong không gian. Quan hệ vuông góc” theo chương trình toán lớp 11 trường THPT. - Chương 3. Thực nghiệm sư phạm. - Kết luận. - Tài liệu tham khảo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1. Tâm lý lứa tuổi học sinh THPT Học sinh THPT là những HS đang ở lứa tuổi thanh niên nên các em có những đặc điểm nổi bật hơn về sự phát triển trí tuệ và nhân cách, hoạt động học tập. Đặc điểm nổi bật về sự phát triển trí tuệ của HS THPT là: tính chủ định được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức, tri giác có mục đích đã đạt được ở mức rất cao, quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn; ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ logic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày càng tăng rõ rệt. Khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo được phát triển. Tư duy của các em chặt chẽ, có căn cứ và nhất quán hơn; tính phê phán của tư duy cũng được phát triển. Trong học tập các em chú ý hơn tới tính rõ ràng, tính cơ sở, tính có thể chức minh được của các luận điểm. Sự thay đổi về chất này tạo điều kiện để HS có các thao tác tư duy phức tạp, phân tích được nội dung cơ bản của những khái niệm trừu tượng, hiểu được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội [26]. Tuy nhiên vẫn có một số hạn chế như: nhiều em kết luận vội vàng, hấp tấp chưa chín chắn, thiếu tính lịch sử, một số em chưa phát huy được năng lực độc lập suy nghĩ, sức ỳ trong suy nghĩ của các em quá cao, đối với nhiều công việc do các em chưa va chạm cuộc sống nên còn thiếu kinh nghiệm thực tế... Tự ý thức ở lứa tuổi HS THPT cũng có sự chuyển biến căn bản, nó đánh dấu sự trưởng thành về mặt tâm lý. Mặc dù chưa hoàn hảo, song có thể coi việc tự phân tích có mục đích về nhân cách và hành vi của mình là dấu hiệu cần thiết của một nhân cách đang trưởng thành, nhiều em đã định hướng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 được sự phát triển của chính mình. Đó là tiền đề, là cơ sở cho sự tăng cường hoạt động tự giáo dục, tự tu dưỡng có mục đích cho tương lai của các em . Hoạt động học tập của HS đòi hỏi tính năng động và tính độc lập ở mức cao hơn nhiều so với HS ở trung học cơ sở, đồng thời cũng đòi hỏi muốn nắm được chương trình một cách sâu sắc thì phải phát triển tư duy lý luận mạnh hơn nữa. Ở giai đoạn học tập này, ý thức học tập của HS ngày càng phát triển. Quá trình nhận thức của các em khác về chất so với các lứa tuổi trước: Cảm giác, tri giác đạt tới trình độ tinh nhạy cao, chú ý, ghi nhớ có chủ định chiếm ưu thế. Các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá được hoàn thiện hơn. Định hướng giá trị và tính tích cực là những đặc điểm nhân cách quan trọng nhất của lứa tuổi này. Các em ý thức được cần phải tích cực hơn, thái độ học tập đối với các môn học cũng thay đổi, có tính chất lựa chọn, HS có thể lựa chọn theo hứng thú hoặc do định hướng nghề nghiệp [4]. HS càng trưởng thành các em càng ý thức được rằng mình đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời. Do vậy, thái độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển, có tính chọn lựa hơn và điều đó thường gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp của các em sau này. Khả năng nhận thức của các em mang tính rộng rãi, sâu và bền vững hơn. Thái độ học tập của HS THPT được thúc đẩy bởi nhiều động cơ học tập có cấu trúc khác nhau. Lúc này có ý nghĩa nhất là động cơ thực tiễn, động cơ nhận thức, sau đó là ý nghĩa xã hội của môn học, rồi mới đến động cơ cụ thể khác. Nhưng bên cạnh những thái độ tích cực trên còn một số em có thái độ học tập thiên lệch, hạn chế là một mặt các em rất tích cực học tập ở một số môn mà các em cho rằng quan trọng với nghề mình đã chọn và sao nhãng với những môn học khác hoặc chỉ học để đạt điểm trung bình. Chính vì vậy mỗi người giáo viên cần phải làm cho các em hiểu được ý nghĩa và chức năng của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 giáo dục phổ thông đối với mỗi ngành nghề sau này và trong các giờ học GV cần tổ chức linh hoạt phù hợp sao cho có sự tham gia tích cực của HS, tăng cường dạy học có trọng tâm, trọng điểm, không nên dài dòng, đơn điệu. Để từ đó mỗi HS có hướng học các môn một cách đúng đắn, cân bằng nhất. Tóm lại, lứa tuổi HS THPT là thời kỳ kết thúc căn bản của một quá trình hình thành và phát triển lâu dài của các em cả về sinh lý cũng như tâm lý. Đây là thời kỳ mà năng lực trí tuệ, thế giới quan và toàn bộ nhân cách của con người có biến đổi lớn về chất lượng, thời kỳ phải chuẩn bị mọi mặt để bước vào cuộc sống tự lập. Vì vậy, gia đình, nhà trường và xã hội cần nhận thức đầy đủ vị trí của lứa tuổi này để từ đó có nội dung, phương pháp giáo dục các em trở thành những người lao động có đức, có tài, đáp ứng với yêu cầu của xã hội thời đại mới. 1.2. Vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học môn toán ở trƣờng THPT. 1.2.1 Nhu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học toán ở trƣờng THPT. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định: "Phải đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của học sinh. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho HS...”[25]. Luật giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam đã quy định: " Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh”[24]. Thực trạng về PPDH hiện nay còn có nhiều hạn chế như: GV thường cung cấp cho HS những tri thức dưới dạng có sẵn, thiếu yếu tố tìm tòi, phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 hiện; GV áp đặt, HS thụ động; thiên về dạy, yếu về học, thiếu hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo của người học; không kiểm soát được việc học. Đây là một vấn đề nan giải luôn mâu thuẫn với yêu cầu đào tạo con người xã hội chủ nghĩa, con người của thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điều đó đã phản ánh nhu cầu cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay. Mặt khác toán học là một môn rất quan trọng nên cần đổi mới phương pháp dạy học toán một cách thiết yếu và nhanh chóng. 1.2.2 Định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học môn Toán ở trƣờng THPT. Với những nhu cầu đổi mới PPDH như trên, các nhà khoa học giáo dục nước ta đã khẳng định định hướng đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay là: "Phương pháp dạy học cần hướng vào việc tổ chức cho HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu" [14]. Định hướng này có thể gọi tắt là học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, hay gọn hơn: hoạt động hóa người học. Trong mỗi hoạt động người giáo viên phải xác định được vai trò chủ thể của học sinh, luôn đảm bảo tính tự giác, tích cực và sáng tạo của các em. Quá trình dạy học phải dạy HS việc học, dạy tự học, chế tạo và khai thác những phương tiện phù hợp. Mỗi hoạt động phải tạo được niềm vui, hứng thú học tập cho các em. Có nhiều cách tạo niềm vui tuy nhiên quan trọng nhất vẫn là niềm lạc quan dựa trên lao động và thành quả học tập của bản thân mỗi HS. Điều đó có nghĩa là vai trò của người giáo viên không phải là nguồn phát tin duy nhất, không phải là người ra lệnh một cách khiên cưỡng mà là có vai trò thiết kế, ủy thác, điều khiển và thể chế hóa để trong đó các em được được hoạt động và giao lưu. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 1.2.3 Phƣơng pháp dạy học tích cực Bất kỳ một PPDH nào nếu biết sử dụng một cách phù hợp, đúng lúc, đúng cách đều có thể phát huy tính tích cực học tập của HS. Theo Trần Bá Hoành [10], PPDH tích cực là thuật ngữ chỉ các PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hoá, tích cực hoá HS, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của HS trong học tập. Không có một phương pháp dạy học nào là tối ưu nếu chỉ sử dụng một mình nó, điều đó đòi hỏi mỗi người GV phải kết hợp các phương pháp một cách phù hợp với mỗi nội dung, mỗi đối tượng HS khác nhau. Theo Nguyễn Bá Kim có một số xu hướng dạy học không truyền thống [14] đó là: - Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề. - Dạy học chương trình hóa. - Dạy học phân hóa. - Dạy học hợp tác theo nhóm nhỏ. - Sử dụng CNTT trong dạy học. Tuy nhiên dù là những PPDH dạy truyền thống, không truyền thống hay dùng CNTT&TT mà không kết hợp một cách hợp lý thì cũng không thể trở thành một PPDH tích cực. 1.3. Ứng dụng CNTT & TT trong dạy học toán ở THPT 1.3.1 Tác động của công nghệ thông tin và truyền thông tới đổi mới phƣơng pháp dạy học. Ở Hình 1.1 khi có sự tác động của CNTT&TT thì vị trí trung tâm của cá nhân HS được nhấn mạnh và làm rõ hơn các yếu tố mới trong môi trường dạy học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 Hình 1.1 Môi trường dạy học mới Theo Đào Thái Lai [21], với sự tham gia của công nghệ thông tin và truyền thông, môi trường dạy học thay đổi, nó có tác động mạnh mẽ tới mọi thành tố của quá trình dạy học gồm: Mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học, hình thức dạy học, phương tiện dạy học và kiểm tra, đánh giá. - Xét về mục đích và nội dung dạy học: Khi sử dụng máy vi tính (MVT) như một phương tiện dạy học, vấn đề đặt ra là điều chỉnh lại những yêu cầu về kỹ năng trong khi dạy một loạt chủ đề toán ở các bậc học. Trong hoạt động toán học, có những công việc đòi hỏi phải tư duy, nhưng cũng có những việc trung gian chỉ đòi hỏi một loại công việc đơn điệu nào đó như tính toán, vẽ hình... Những việc này lại cần thời gian, sức lực và kết quả có thể không chính xác. Có thể lược bỏ yêu cầu rèn luyện thuần tuý các kỹ năng làm việc có tính đơn điệu, không đòi hỏi tư duy đó. Khi HS được giải phóng khỏi các công việc này thì khả năng tập trung tư duy vào chủ đề Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 chính tốt hơn. Như vậy, CNTT&TT đã tác động trực tiếp dẫn đến xu hướng tăng cường các hoạt động để HS có điều kiện hiểu sâu hơn hoặc mở rộng hơn về nội dung kiến thức toán học. Tuy nhiên, những yêu cầu gắn với việc rèn luyện các thao tác trí óc thì không thể giảm nhẹ được, dù cho có thể dùng máy tính thay thế chúng. Chẳng hạn việc tính nhẩm, việc dạy HS thuộc các bảng cộng và nhân trong dạy học toán vẫn hết sức quan trọng không thể bỏ qua. Cùng với việc giảm bớt một số yêu cầu, nội dung, do thời gian được tiết kiệm, ta lại cần xem xét việc đưa thêm các nội dung mới. Nội dung mới này được đưa vào tuỳ theo nhu cầu của bản thân môn học và của thực tiễn. Tóm lại, trong việc xây dựng chương trình môn toán sẽ có khá nhiều thay đổi về mục đích, yêu cầu, nội dung dạy học. - Xét về việc rèn luyện kỹ năng, củng cố, ôn tập kiến thức cũ: Ngày nay các phần mềm dạy học đã trở nên rất phong phú, đa dạng, trong đó có rất nhiều phần mềm có thể khai thác để rèn luyện kỹ năng thực hành cho HS. Chẳng hạn với phần mềm Graph, HS có thể rèn luyện các kỹ năng cơ bản về khảo sát hàm số, tính diện tích của một miền phẳng, xác định góc của tiếp tuyến tại một điểm nào đó trên đồ thị với trục hoành... với phần mềm hình học Euclides, Geomter’s Sketchpad, Cabri... HS có thể rèn luyện kỹ năng dựng hình, tìm hiểu các bài toán quỹ tích một cách rất hiệu quả. Phần mềm GeoSpacw, Cabri3D có thể giúp HS rèn luyện việc dựng hình, xác định thiết diện, xác định các khối tròn xoay và rất nhiều nội dung khác trong hình học không gian. Với các phần mềm trắc nghiệm, HS được cung cấp một khối lượng câu hỏi mà để trả lời được HS phải thực sự nắm được kiến thức cơ bản và đạt được kỹ năng thực hành đến một mức độ nhất định. Như vậy, việc luyện tập và tự kiểm tra đánh giá của HS không còn bị hạn chế về mặt thời Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 gian và nội dụng như các phương pháp kiểm tra thông thường. - Về phương pháp và hình thức dạy học: Khi ứng dụng CNTT&TT trong dạy học, HS được nhúng vào một môi trường hết sức mới mẻ, hấp dẫn, đa dạng và có tính trợ giúp cao, môi trường này chưa hề có trong nhà trường truyền thống. Đó là các vi thế giới, các môi trường hoạt động lần đầu tiên xuất hiện như Internet, thư viện điện tử, sách điện tử, lớp học ảo, trường học ảo...CNTT&TT mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học. Những PPDH theo lý thuyết kiến tạo, PPDH theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để áp dụng rộng rãi. Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng sẽ có những đổi mới trong môi trường CNTT&TT. Đó là: cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, các cá nhân làm việc theo các nhóm linh hoạt, các nhóm ảo. Xuất hiện việc dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mạng, dạy học qua cầu truyền hình,… - Hiệu quả sử dụng các PPDH tăng lên rõ rệt: Nhờ có máy tính điện tử, có thể tổ chức các thực nghiệm ảo. Thông qua một loạt các kết quả hoặc thông qua sự biến thiên của đối tượng, bằng suy luận có lí, HS có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới. Những PPDH hiện đại có điều kiện phát huy rất hiệu quả khi ứng dụng CNTT&TT. Nhiều lý thuyết dạy học như lý thuyết tình huống, lý thuyết dạy học kiến tạo, lý thuyết dạy học tương tác có khả năng ứng dụng cao. Với lý thuyết tình huống, trong môi trường truyền thống, khả năng tạo ra các tình huống lý tưởng (hay còn gọi là tình huống tiền sư phạm: a-didatic) là hiếm hoi, nhưng với sự hỗ trợ của CNTT&TT thì phạm vi tạo ra các tình huống lý tưởng sẽ được mở rộng nhiều lần. Môi trường tạo ra bởi máy tính sẽ có tính tương tác cao và là môi trường tương tác thông minh, GV sẽ không phải can Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 thiệp vào quá trình tương tác giữa HS và môi trường nhưng kết quả học tập vẫn được đảm bảo. Cũng với lý thuyết tình huống, các tác giả có đề cập đến các chướng ngại như những khó khăn mà khi HS vượt qua phải thay đổi quan niệm hoặc hệ thống quan niệm cũ. Khi có môi trường CNTT&TT có thể loại bỏ một vài chướng ngại truyền thống đó. Ví dụ: với môi trường dạy học truyền thống, sau khi định nghĩa góc giữa hai mặt phẳng trong không gian [27], có thể nhiều học sinh còn thắc mắc đưa ra câu hỏi liệu góc giữa hai mặt phẳng có đúng là bằng góc giữa hai đường thẳng lần lượt vuông góc với hai mặt phẳng thật không. Nhưng với phần mềm dạy học Cabri Geometry học sinh sẽ công nhận ngay kết quả này. Vì vậy nhà giáo dục tránh được một chướng ngại cho HS trong dạy học. Trong tâm lý học có quan niệm về “vùng phát triển gần nhất” của Vưgôtxki. Khi chiếm lĩnh những khái niệm, biểu tượng thuộc “vùng phát triển gần nhất”, HS sẽ phát triển tư duy. Đối với một số HS ở nhà trường truyền thống, các kiến thức rơi vào “vùng phát triển gần nhất” có thể không nhiều, môi trường CNTT&TT tạo điều kiện dễ dàng để số lượng kiến thức rơi vào “vùng phát triển gần nhất” tăng thêm. Do sự phát triển của CNTT&TT, chúng ta đã có trong tay nhiều công cụ tốt hỗ trợ quá trình dạy học đặc biệt là một số PMDH. Nhờ sử dụng các PMDH này mà một HS trung bình, thậm chí HS trung bình yếu cũng có thể hoạt động tốt trong môi trường học tập. HS hoàn toàn có khả năng tìm hiểu các đối tượng, sự kiện toán học… thông qua tác động lên đối tượng, xem xét và phân tích nó, có thể đưa ra các dự đoán về các mối quan hệ mang tính quy luật. Người GV sẽ có điều kiện giúp được tất cả HS rèn luyện tốt năng lực sáng tạo, rèn luyện phương pháp nghiên cứu trong học tập. Đây là một tác dụng lớn của CNTT&TT trong quá trình đổi mới PPDH. Nếu nhà giáo dục biết khai thác một cách thích hợp CNTT&TT (trong đó bao gồm các PMDH) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 thì có thể tạo ra những đổi mới trong dạy học, sẽ có những thành tựu mới mà giáo dục truyền thống chưa thể đạt được. - Khả năng kiểm soát và đánh giá quá trình học tập của HS: Với sự trợ giúp của các PMDH, quá trình học tập của từng HS được kiểm soát chặt chẽ. Đồng thời, việc đánh giá sẽ xảy ra liên tục, trong mọi thời điểm của quá trình học tập. Các đánh giá sẽ không chung chung và trừu tượng bằng điểm số và điểm trung bình trong tháng, trong học kì và năm học. Khi nhìn các điểm số đó ta không thể hình dung được HS có mặt nào mạnh, mặt nào yếu. Khi có PMDH, bằng cách phân tích có thống kê, sẽ có những nhận định chi tiết về các đặc điểm của HS trong khi học như: kỹ năng, khả năng chú ý, khả năng suy luận lôgíc, các lỗi hay mắc khi làm bài,... PMDH cho ta khả năng lưu lại kết quả đánh giá trong một thời gian dài, các kết quả đánh giá đó hoàn toàn trung thực, khách quan, phụ huynh HS có thể nắm được các đánh giá đó và bản thân HS có thể ý thức được về chất lượng làm việc của mình. Để hỗ trợ cho việc tổ chức đánh giá, chúng ta có thể xây dựng ngân hàng đề kiểm tra (các đề kiểm tra dạng trắc nghiệm khách quan, các đề kiểm tra dạng tự luận) đưa lên website, GV và HS sẽ sử dụng ngân hàng đề này để đánh giá và tự đánh giá việc dạy, việc học của mình. - Xét về việc hình thành phẩm chất, đạo đức, tác phong cho HS trong quá trình dạy học toán. Việc sử dụng CNTT&TT ngay khi ngồi trên ghế nhà trường đã trực tiếp góp phần hình thành và phát triển kỹ năng sử dụng thành thạo MVT và làm việc trong môi trường CNTT&TT cho HS. Đây là những kỹ năng không thể thiếu của người lao động trong thời đại phát triển của CNTT&TT. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -