Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật trong biên niên ký chim vặn dây cót của haruki murakami

  • Số trang: 102 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 84 |
  • Lượt tải: 0
minhtuan

Đã đăng 15929 tài liệu

Mô tả:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN BỘ MÔN NGỮ VĂN NGUYỄN THỊ LOAN THẢO THỜI GIAN NGHỆ THUẬT VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG BIÊN NIÊN KÝ CHIM VẶN DÂY CÓT CỦA HARUKI MURAKAMI Luận văn tốt nghiệp đại học Ngành Ngữ Văn Cán bộ hướng dẫn: NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH Cần Thơ, 4 – 2010 ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 2. Lịch sử vấn đề 3. Mục đích, yêu cầu 4. Phạm vi nghiên cứu 5. Phương pháp nghiên cứu PHẦN NỘI DUNG CHÍNH Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. Thời gian nghệ thuật 1.1. Khái niệm thời gian nghệ thuật 1.2. Cấu trúc và biểu hiện của thời gian nghệ thuật 1.2.1. Thời gian được trần thuật 1.2.2. Thời gian trần thuật 2. Không gian nghệ thuật 2.1. Khái niệm không gian nghệ thuật 2.2. Các loại không gian nghệ thuật 2.2.1 Không gian bối cảnh 2.2.2 Không gian sự kiện 2.2.3 Không gian tâm lý 3. Mối quan hệ giữa thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật 4. Tác giả và tác phẩm 4.1. Tác giả Haruki Murakami 4.2. Tác phẩm Biên niên ký chim vặn dây cót Chương 2: THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG BIÊN NIÊN KÝ CHIM VẶN DÂY CÓT 2.1. Thời gian được trần thuật 2.1.1. Thời gian thực tại 2.1.1.1. Thời gian thực tại hàng ngày 2.1.1.2. Thời gian hồi tưởng 2.1.2. Thời gian phi thực tại 2.2. Thời gian trần thuật Chương 3: KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG BIÊN NIÊN KÝ CHIM VẶN DÂY CÓT 3.1. Không gian thực tại 3.1.1 Không gian bối cảnh 3.1.2 Không gian sự kiện 3.1.3 Không gian tâm lý 3.2. Không gian phi thực tại PHẦN KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. Nói đến tiểu thuyết nước ngoài nói chung và tiểu thuyết hiện đại của Nhật Bản nói riêng thì người đọc không thể không nhắc đến cái tên Haruki Murakami, chủ nhân của những tiểu thuyết độc đáo về nội dung cũng như nghệ thuật, góp phần làm cho kho tàng văn chương thế giới ngày một phong phú hơn. Độc giả Việt Nam đã từng biết đến Haruki Murakami với một số tác phẩm như: Lắng nghe gió hát; Rừng Nauy; Kafka bên bờ biển; Phía Nam biên giới, Phía Tây mặt trời… và đặc biệt là tiểu thuyết Biên niên ký chim vặn dây cót. Nếu như tiểu thuyết Rừng Nauy vừa được trao giải Franz Kafka năm 2006 của viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng hòa Czech, thì Biên niên ký chim vặn dây cót là tác phẩm chính thức đưa tên tuổi Haruki Murakami đến với độc giả yêu văn chương trên toàn thế giới. Ngoài ra, Biên niên ký chim vặn dây cót còn góp phần quan trọng trong việc khiến Haruki Murakami được đề cử giải Nobel văn học năm 2008. Để làm nên được một cuốn tiểu thuyết như Biên niên ký chim văn dây cót thì Haruki Murakami đã dụng công một cách khéo léo trong việc sử dụng nghệ thuật để thể hiện nội dung. Đặc biệt, cái đặc sắc của Haruki Murakami là từng bước khẽ mở bức màn che về hiện thực cuộc sống của xã hội Nhật Bản. Nói đến Biên niên ký chim vặn dây cót là nói đến các thủ pháp nghệ thuật độc đáo của Haruki Murakami. Trong tác phẩm này, Haruki Murakami đã vận dụng khá nhiều hình thức nghệ thuật như: Thi pháp hậu hiện đại, yếu tố huyền ảo, hệ thống hình tượng nhân vật, sự vật… Song cái làm nên một tác phẩm hoàn chỉnh – một thế giới nghệ thuật thì hai hình tượng: không gian và thời gian nghệ thuật là một yếu tố quan trọng để xác định giá trị của một tác phẩm văn chương. Chính không gian và thời gian nghệ thuật này tạo điều kiện cho nhân vật của Haruki Murakami trong Biên niên ký chim vặn dây cót được thể hiện chính mình và thông qua đó cho thấy một bức tranh xã hội hiện thực của Nhật Bản đang trên con đường của sự phát triển thần tốc về kinh tế và sự xuống dốc về tinh thần – văn hóa. Với sự say mê về nội dung cũng như nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết đặc sắc này, người viết muốn đi sâu hơn vào bên trong Biên niên ký chim vặn dây cót để tự tìm hiểu và phát hiện ra cái hay của Haruki Murakami nhất là khi ông thể hiện không gian và thời gian nghệ thuật. Trong đó, Haruki Murakami đã khéo léo đan cài lẫn lộn giữa thế giới thực tại và phi thực tại tạo nền tảng cho nhân vật của mình hành động và tiến gần đến điểm đích cuối cùng. Đặc biệt, nó tạo cho người đọc một sự thôi miên như bị lôi cuốn vào cái thế giới ấy và có cảm giác như đang sống trong không gian và thời gian của tác phẩm này. Đó là lí do người viết quyết định chọn đề tài “Thời gian và không gian nghệ thuật trong Biên niên ký chim vặn dây cót của Haruki Murakami” cho luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Lịch sử vấn đề. Biên niên ký chim vặn dây cót là một tác phẩm khá mới đối với độc giả cũng như giới nghiên cứu và phê bình văn học ở Việt nam. Vì thế, có rất ít công trình nghiên cứu cụ thể về tác phẩm này đặc biệt là vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật. Chính vì vậy, khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, người viết chỉ tìm được một số ý kiến, nhận định khái quát về vấn đề thời gian và không gian nghệ thuật trong Biên niên ký chim vặn dây cót. Cụ thể là: Trong trang Thư viện – ebook.com, tác giả Nguyễn Anh Dân đưa ra nhận định: “Cuộc sống của những con người hiện đại trong Biên niên ký chim vặn dây cót là một cuộc sống lưng chừng như thế, họ bị bó hẹp trong khoảng không gian tù túng, chật hẹp của xã hội tựa như ngôi nhà hoang, cái ngõ cụt mà Toru Okada đi tìm kiếm con mèo. Đó là một không gian thiếu sức sống, bị bỏ quên giữa dòng đời ồn ào, náo nhiệt một sự lãng quên chua xót”. Tác giả đã đưa ra được một khía cạnh của không gian trong Biên niên ký chim vặn dây cót đó là một không gian chật hẹp và bị bỏ quên thông qua biểu tượng “ ngôi nhà hoang” hay “ cái ngõ cụt”. Chính những biểu tượng đó cho ta thấy những con người trong xã hội Nhật đang sống trong một thời đại xô bồ và bị xã hội lãng quên. Còn trang phongdiep.net, tác giả Khánh Phương có viết: “Từ đây cũng mở ra một thế giới siêu thực với những giấc mơ đầy ám ảnh tính dục, những căn phòng tối đen ngào ngạt phấn hoa cất giấu bí mật về sự lệ thuộc và nô dịch, bóng tối thảm sâu của bản ngã và xa rời bản ngã Thiền và những năng lực tâm linh siêu hình”. Tác giả Khánh Phương đã phát hiện ra được không gian phi thực tại đầy bóng tối và bí mật trong tác phẩm này. Và không gian phi thực tại này vừa là nơi cất giấu “lời nguyền” và “cái ác” đang phát triển vừa là nơi mà Okada Toru phá đi “lời nguyền” và tiêu diệt “cái ác”. Ở một chỗ khác, một tác giả khác có viết: “Mỗi truyện của Haruki Murakami đều có sức cuốn hút kì lạ, mọi người hay nhắc đến Rừng Nauy nhưng Biên niên ký chim vặn dây cót và tuyển tập truyện ngắn của ông cũng rất đáng đọc. Mỗi câu chuyện đều là một không gian riêng, những suy tư riêng đã được Haruki Murakami tái hiện một cách xuất sắc và làm người đọc như bị cuốn vào đó”. Ở đây, tác giả bài viết này cũng đã nhận ra được sự đa dạng của không gian trong Biên niên ký chim vặn dây cót. Trên trang Japanest.com, với tựa đề “Biên niên ký chim vặn dây cót – cuộc tìm kiếm bản thể của con người hiện đại” trong bài nghiên cứu này của báo Công an nhân dân, tác giả Hoài Nam có viết: “Như chúng ta rồi sẽ thấy trong quá trình đọc, Biên niên ký không nằm gọn trong dòng tự sự của Okada Toru mà nó còn bao gồm cả những dòng tự sự của các nhân vật khác: Kano Malta, Kano Creta, Trung úy Mamiya, Kasahara May và Nhục đậu khấu. Tương ứng với mỗi dòng tự sự ấy là một thời gian, mà đôi khi, trong tương quan với thời gian của dòng tự sự của Toru Okada, nó là quá khứ xa tới trên dưới nửa thế kỉ (ví như tự sự của Trung úy Mamiya và tự sự của Nhục đậu khấu). Nói cách khác, trong dòng thời gian biên niên của Biên niên ký đã xảy ra sự xáo trộn, sự chồng chéo các quãng thời gian khác nhau. Thật ra, điều này chẳng có gì mới mẻ trong tiểu thuyết thế giới cho tới thời điểm những năm 80 (thậm chí nó cũng chẳng mới đối với một nền tiểu thuyết ít phát kiến như Việt Nam). Nhưng điều đáng nói ở chỗ, Haruki Murakami đã tạo ra theo những cách không giống nhau sự liên thông giữa các quãng thời gian ấy. Tác giả bài viết này đã chỉ ra được dòng thời gian tự sự của các nhân vật và các dòng thời gian ấy đan chéo lên nhau, để làm nổi bật và bổ sung lẫn nhau về nội dung của câu chuyện. Tiếp theo đó, tác giả Hoài Nam lại có một nhận định khác: “Về mặt chức năng, có thể xem chiếc giếng cạn đối với Okada Toru cũng tương tự như một không gian thích hợp đối với người hành Thiền. Chỉ có điều, nếu sự giác ngộ của một Thiền giả chính tông là niềm sung sướng được sống trong một thế giới không phân tách giữa cái này với cái kia, thì sự giác ngộ của Toru Okada là nhận ra trách nhiệm mà mình phải gánh vác, đó là cứu người vợ mà anh yêu thương, là “chiến đấu cả vì những người khác” – như lời Kasahara May nói với anh. Không ngẫu nhiên mà thời gian của dòng tự sự của Trung úy Mamiya và của Nhục đậu khấu lại trùng khớp với nhau đến thế về mặt thời điểm lịch sử và bối cảnh không gian: đó là chiến trường Mông Cổ Mãn Châu của những năm Đệ nhị thế chiến”. Ở đây, chính không gian và thời gian đã dẫn đường cho nhân vật của mình đi tìm sự thật và giải phóng những gì còn đang giam cầm trong tâm hồn của con người. Ở trên trang SachHay.com, tác giả Thạch Thảo viết: “Khảo sát bản chất của sự sống còn và giải thoát con người ra khỏi mê cung của cái Ác mang tính phổ quát. Okada trở thành vị cứu tinh. Một cách gần như hoàn toàn duy tâm, anh đã chui xuống cái giếng bỏ không của căn nhà hoang hàng xóm vì chỉ có ở không gian hoàn toàn tách biệt đó, anh mới có đủ thời gian và sự tỉnh táo để nghiền ngẫm, lý giải cuộc đời: “Tôi ngồi thụp xuống lòng giếng và cứ mặc nhiên để cho ý thức chuồi dần ra ngoài nhục thể của mình”. Chính không gian ở đáy giếng mà Okada đã nhận ra được trách nhiệm và việc cần phải làm của mình. Để từ đó, Okada Toru bước vào cuộc “hành trình lớn” của mình để cứu thoát Kumiko ra khỏi “bóng tối” đồng thời cũng để giải thoát mọi người xung quanh. Người viết nhận thấy rằng những nhận định trên còn mang tính chủ quan và khá khái quát về các vấn đề. Thật sự, chưa có tác giả nào đi sâu vào “thời gian và không gian nghệ thuật” trong tác phẩm này của Huraki Murakami. Đây chính là vấn đề người viết cần tiếp nhận và giải quyết một cách cụ thể hơn trong công trình nghiên cứu này. 3. Mục đích, yêu cầu. Hai hình tượng nghệ thuật thời gian và không gian nghệ thuật trong thế giới truyện của Haruki Murakami cụ thể là trong Biên niên ký chim vặn dây cót đã được ông thể hiện một cách hài hòa. Giữa thời gian và không gian nghệ thuật có mối quan hệ mật thiết với nhau và có một vai trò nhất định, để từ đó ta thấy được ý đồ của tác giả muốn nhấn mạnh và thể hiện trong tác phẩm. Ở mỗi không gian khác nhau trong từng thời điểm khác nhau thì hành động và mục đích của các nhân vật đều có ý nghĩa riêng. Thế nhưng, những ý nghĩa đó là gì và được thể hiện như thế nào? Đi tìm lời giải đáp cho tất cả các vấn đề này chính là mục đích của người viết khi thực hiện đề tài này. Song để thực hiện mục đích này, người viết phải đưa ra được lí luận chung về thời gian và không gian nghệ thuật của văn chương dựa trên tư liệu của các nhà nghiên cứu lí luận văn học, từ đó kết hợp với những lí lẽ, lập luận để soi chiếu vào tác phẩm cụ thể là Biên niên ký chim vặn dây cót của Haruki Murakami. 4. Phạm vi nghiên cứu. Trong nghiên cứu văn chương, thi pháp học là một phương pháp nghiên cứu rất phổ biến và quan trọng. Thi pháp học là một lĩnh vực rất rộng để nghiên cứu về nghệ thuật trong văn chương: ngôn từ, thể loại, phong cách… Nhưng người viết chỉ tập trung nghiên cứu một khía cạnh nhỏ của thi pháp học, đó là thời gian và không gian nghệ thuật. Từ đó, người viết vận dụng vào một tác phẩm cụ thể đó là Biên niên ký chim vặn dây cót - tác phẩm tiêu biểu nhất của Haruki Murakami. Tiểu thuyết Biên niên ký chim vặn dây cót được dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng chuyển dịch chủ yếu từ bản tiếng Anh The Windup Bird Chronicle. Bản quyền tiếng Việt thuộc công ty cổ phần văn hóa truyền thông Nhã Nam, do Nhà Xuất Bản Hội nhà văn xuất bản năm 2004 . 5. Phương pháp nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng một số phương pháp khoa học chung để thuận lợi trong việc nghiên cứu. Để tìm ra những quy luật, xác định tần số xuất hiện của những hiện tượng thẩm mĩ nghệ thuật, người viết đã sử dụng phương pháp thống kê. Để thấy được cái đặc sắc, những đóng góp mới của Haruki Murakami, người viết sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu giữa các tác phẩm của ông cũng như một số tác phẩm của các nhà văn khác trong cũng như ngoài nước. Để làm sáng rõ luận điểm, ý kiến đưa ra thì thao tác chứng minh giúp người viết thực hiện tốt vấn đề này. Trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp phân tích – tổng hợp cũng thường xuyên được sử dụng không kém phần quan trọng. Ngoài ra, người viết còn sử dụng một số phương pháp liên ngành: lịch sử, văn hóa. Từ đó từng bước mổ xẻ, lí giải những vấn đề một cách logic và chặt chẽ hơn. PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. Thời gian nghệ thuật. 1.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật là một thế giới – thế giới nghệ thuật. Đã là thế giới thì có con người tồn tại và vận động trong không gian và thời gian. Vậy thời gian nghệ thuật là gì? Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì thời gian nghệ thuật là “Hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Cũng như không gian nghệ thuật, sự miêu tả trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thế giới. Và cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật. Sự phối hợp của hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật. Khác với thời gian khách quan được đo bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, lại có thể kéo dài cái chốc lát thành vô tận. Thời gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức: Sự sống, cái chết, gặp gỡ, chia tay, mùa này, mùa khác,... tạo nên nhịp điệu trong tác phẩm. Như vậy, thời gian nghệ thuật gắn liền với tổ chức bên trong của hiện tượng nghệ thuật. Khi nào ngòi bút nghệ sĩ chạy theo diễn biến sự kiện thì thời gian trôi nhanh, khi nào dừng lại miêu tả chi tiết thì thời gian chậm lại. Thời gian nghệ thuật thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới. Có thời gian nghệ thuật không tách rời với chuỗi biến cố cốt truyện như cổ tích, có thời gian nghệ thuật xây dựng trên dòng tâm trạng và ý thức như tiểu thuyết, có tác phẩm dừng lại chủ yếu trong quá khứ, khép kín trong tương lai, có thời gian nghệ thuật “trôi” trong các diễn biến sinh hoạt, có thời gian nghệ thuật gắn với các vận động của thời đại, lịch sử, lại có thời gian nghệ thuật có tính “ vĩnh viễn”, đứng ngoài thời gian như thần thoại. Thời gian nghệ thuật phản ánh sự cảm thụ thời gian của con người trong từng thời kì lịch sử, từng giai đoạn phát triển, nó cũng thực hiện sự cảm thụ độc đáo của tác giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới. Trong thế giới nghệ thuật, thời gian nghệ thuật xuất hiện như một hệ quy chiếu có tính tiêu đề được giấu kín để miêu tả đời sống trong tác phẩm, cho thấy đặc điểm tư duy của tác giả. Gắn với phương thức, phương tiện thực hiện mỗi thể loại văn học có kiểu thời gian nghệ thuật riêng. Phạm trù thời gian nghệ thuật cung cấp một cơ sở để phân tích cấu trúc bên trong của hiện tượng văn học, cũng như nghiên cứu loại hình các hiện tượng nghệ thuật trong lịch sử . 1.2 Cấu trúc và biểu hiện của thời gian nghệ thuật. 1.2.1 Thời gian được trần thuật. Thời gian được trần thuật là thời gian của các sự kiện được miêu tả. Những ai từng đắm say vùi đầu vào các tập truyện, các tiểu thuyết hẳn đã có kinh nghiệm thiết thân về thời gian nghệ thuật. Lúc ấy, ta chỉ biết có thời gian đang diễn ra trong truyện, mà hoàn toàn tạm quên đi thời gian thực tại (ví dụ như đang nấu cơm để cơm cháy, đang chăn trâu để trâu ăn lúa, quên hẳn thời gian đang diễn ra trong thực tại, sáng trưa lúc nào cũng không hay). Người ta cảm nhận được thời gian từ những đổi thay, biến cố trong tự nhiên (sáng, trưa, chiều, tối, xuân, hạ, thu, đông), trong đời người (lọt lòng, lớn lên, lấy vợ lấy chồng, già, chết), trong phong tục xã hội (các ngày lễ hội, các phiên chợ,…), trong đời sống chính trị (đời vua nào, trước cách mạng, sau giải phóng…). Mọi cảm nhận về biến đổi gợi cảm giác thời gian: Mặt trời càng lên tỏ Bông lúa chín thêm vàng Sương treo đầu ngọn cỏ Sương lại càng long lanh (Thăm Lúa – Trần Hữu Thung) Những biến đổi gợi ra những viễn cảnh, gây chờ đợi càng tạo thêm cảm xúc thời gian nhanh chậm. Câu chuyện cây khế thực sự bắt đầu khi chim ăn khế và lúc “Ăn một quả trả cục vàng, mang túi ba gang mà đựng”. Vậy là chờ đợi, ước mong. Chim thần trả vàng, người anh gạ đổi cây khế, người anh tham lam, lộn cổ xuống biển mà chết. Khi sự kiện xong xuôi, không có cơ hội phát triển, không gây chờ đợi, thời gian dừng lại. Có một loại thời gian mà ta không thể dùng dụng cụ vật lí để đong, đo, đếm được. Đó là thời gian được cảm nhận bằng tâm lí, qua chuỗi liên tục các biến đổi (biến cố) có ý nghĩa thẩm mĩ xảy ra trong thế giới nghệ thuật. Là thời gian được cảm nhận bằng tâm lí và mang ý nghĩa thẩm mĩ nên thời gian nghệ thuật khác với thời gian khách quan đo bằng lịch sử và đồng hồ. Vì nó được cảm nhận bằng tình cảm, cảm xúc của con tim, bằng lăng kính chủ quan của chủ thể, đối tượng tiếp nhận. Khi vui sướng, hạnh phúc thì con người cảm thấy thời gian ngắn ngủi: Ngày vui ngắn chẳng tày gang Trông ra ác đã nhậm gương non đoài. (Truyện Kiều) Hay khi nhớ nhung, chờ đợi, con người cảm thấy thời gian dài đằng đẵng: Nhưng rồi người khách tình xuân ấy Đi biệt không về với bến sông Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi Mấy lần cô gái mỏi mòn trông. ( Cô lái đò – Nguyễn Bính) Vì thế, không ít nhà thơ, nhà văn của chúng ta rất sợ thời gian qua nhanh mà chưa được tận hưởng trọn vẹn vị ngọt cuộc đời. Trong đó, ông hoàng thơ tình Xuân Diệu luôn khát khao được yêu, được đắm mình trong tình yêu nên ông đã từng lo sợ, thảng thốt trước cảm giác ngắn ngủi của thời gian: Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm Em vui đi, ráng nở ánh trăng rằm Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ! Em, em ơi, tình non sắp già rồi… (Giục giã) Đó là trong thơ trữ tình. Còn trong văn xuôi tự sự thì sao? Thời gian tâm lý thường được biểu hiện ở hiện tại với những đau khổ, dằn vặt hay sung sướng, hạnh phúc. Tất cả quá khứ hay tương lai dường như đều quy tụ trong hiện tại với cái bây giờ. Bởi quá khứ là kết quả hôm nay, cái hôm nay dự báo ngày mai. Trong Sống Mòn của Nam Cao, thời gian tâm lý được thể hiện rất rõ qua các nhân vật Thứ, San… Chúng ta thấy khoảng thời gian sống ở căn gác nhà trường là khoảng thời gian Thứ và San phải đối mặt với Oanh, với tiếng the thé, gắt gỏng và hách dịch của Oanh: “Y nói suốt ngày, y không bằng lòng về lũ học trò, về lão chủ nhà, về thằng Nô, về bọn trẻ con, về những người láng giềng và cả người tình nhân ở xa xôi. Y kêu ca một mình, trước mắt Thứ và San. Y kêu ca thẳng với Thứ và San” [2; tr.51]. Có thể nói, đó là chuỗi ngày nặng nề mà Thứ và San phải chịu đựng khi sống chung với Oanh. Có khi thời gian trần thuật là thời gian tương lai hay mở ra những viễn cảnh tương lai. Nó cho thấy niềm lạc quan yêu đời, niềm tin tưởng vào một tương lai tươi sáng, tốt đẹp của nhân vật, hay của chính tác giả: Anh và em sẽ sống Trong một mái nhà tranh. Lấy trúc thưa làm cổng, Lấy tơ liễu làm mành. (Hôn nhau lần cuối – Nguyễn Bính) Trong Chí Phèo của Nam Cao, chi tiết “Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng và tương lai dần hiện ra trong tâm trí của Thị Nở”. Là một chi tiết nghệ thuật biểu hiện cho thời gian tương lai, đó là một kết thúc mở gợi cho người đọc một viễn cảnh “Chí Phèo con” ra đời và cuộc đời của nó cũng chẳng khác gì người cha. Đây là một thời gian tương lai bế tắc, sầu muộn. Bên cạnh đó, thời gian được trần thuật còn có thể chứa đựng cả ba thời: quá khứ, hiện tại và tương lai. Truyện Một ngày dài hơn thế kỷ của T.AiMaTov là một thí dụ điển hình. Với thời gian hiện tại từ nửa đêm khi Edigel nhận được tin Kazangap chết đến lúc đi an táng thi hài của người quá cố ở nghĩa địa Ana-Bejit chỉ trong vòng một ngày nhưng tác giả còn tái hiện lại quá khứ đau thương đầy khổ cực của những công nhân sống nơi Ga Xép bão tuyết, trên thảo nguyên mênh mông, hiu quạnh và vô cùng khắc nghiệt cùng viễn cảnh tương lai của khoa học khám phá vũ trụ. Trong tác phẩm, cả quá khứ - hiện tại – tương lai như đan xen hoà quyện vào nhau. Quá khứ, hiện tại đan xen nhau còn là biểu hiện của thời gian hồi tưởng, hoài niệm quá khứ. Ở đây, con người như tiếc nuối muốn níu kéo lại quá khứ bởi quá khứ kia vẫn còn để lại một ấn tượng tốt đẹp hay một kỉ niệm sâu sắc trong hiện tại. Còn hiện tại, con người đang thất vọng, buồn, chờ đợi… và dự báo một tương lai ảm đạm, lu mờ. Trong Hai đứa trẻ của Thạch Lam, hai chị em Liên và An nhớ lại lúc gia đình còn sung túc ở Hà Nội, được Mẹ dẫn đi uống những cốc nước màu xanh, đỏ… còn hiện tại, chúng đang chờ đợi cái gì đó sáng sủa hơn trong bóng tối chập chờn nơi phố huyện nghèo. Những hồi ức ấy làm cho hai đứa trẻ thơ này trở nên buồn và thấy mình lạc lõng hơn. Tuy nhiên, không phải bao giờ thời gian hồi tưởng cũng hoài niệm về một quá khứ tốt đẹp, còn hiện tại thì bế tắc đau khổ. Có khi hiện tại tốt đẹp, quá khứ đau khổ cũng là biểu hiện của thời gian hồi tưởng. Kỉ niệm về một thời đau khổ sẽ làm cho con người sống đẹp, sống đúng hơn trong thực tại. Ngoài ra, thời gian đồng hiện cũng được điểm qua đó là những khoảng thời gian xa cách nhau được các tác giả tái hiện đồng thời với nhau, đan cài vào nhau. Đấy là tại một thời điểm cả ba sự kiện đều xảy ra. Loại thời gian nghệ thuật này góp phần tạo nên tính phức điệu của tác phẩm. Ở loại thời gian này có mối quan hệ chằng chịt, lộn xộn với nhau làm cho người đọc khó có thể cảm nhận được nó một cách toàn diện. Với chi tiết như trên đã đề cập trong Chí Phèo, kết thúc tác phẩm là chi tiết Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng “Đột nhiên Thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng người qua lại” [1; tr.235] là một chi tiết tiêu biểu cho loại thời gian đồng hiện. Thông qua cái thời điểm hiện tại lúc Thị Nở nhìn xuống bụng cũng là lúc ý nghĩ của Thị quay về quá khứ – một quá khứ xuất thân của Chí Phèo: không cha, không mẹ, được nhặt ở lò gạch cũ… đồng thời, cũng mở ra trước mắt Thị một tương lai của Chí Phèo con ra đời - một cuộc đời tiếp theo của một số phận con người không may mắn. Ba bình diện thời gian như đối chiếu với nhau cùng một lúc gợi lên cái vòng luẩn quẩn, bế tắc của bao kiếp người bé mọn không được sống đúng với bản chất của một con người lương thiện. Thời gian trong tác phẩm văn học được biểu hiện bởi nhiều phương tiện khác nhau. Trước hết là các trạng từ chỉ thời gian “ngày xửa ngày xưa”, “dạo ấy”, “cách đây không lâu” cùng các từ chỉ các đoạn thời gian, chỉ cách tính thời gian. Thời gian được trần thuật được biểu hiện bằng các dấu hiệu chỉ thời gian như tuổi trẻ, tuổi già, xuân, hạ, thu, đông, bằng tiếng đỗ quyên kêu, bằng tuyết xuống, bằng hoa mai nở, bằng tiếng chuông chùa, bằng phiên chợ, bằng lễ kỉ niệm hàng năm…. Điều quan trọng không chỉ là cách biểu thị thời gian, mà là quan niệm, cách hiểu thời gian của tác giả. Trong các thể loại văn học, các thời đại văn học và các tác giả văn học có cá tính thì thời gian nghệ thuật có những hình thức khác nhau. 1.2.2 Thời gian trần thuật. Bản thân thời gian là một đối tượng của sự cảm nhận, một chủ đề, đề tài của văn học. Người ta có thể miêu tả một đời, một thế hệ hoặc một ngày, một phút giây trong đời, hoặc tái hiện lại những năm tháng không thể nào quên. Tương quan giữa chuỗi biến cố của thời gian và sự cảm nhận thời gian tạo thành cấu trúc thời gian miêu tả. Thời gian được miêu tả là một hiện tượng vô hạn, liên tục, nhưng thời gian miêu tả thì có mở đầu, có kết thúc. Người ta có thể miêu tả thời gian như tiến trình tự nhiên khách quan của nó, như thời gian trong một lớp kịch: các nhân vật đối thoại hành động hoàn toàn phù hợp với thời gian khách quan. Nhưng người ta lại có thể miêu tả các đoạn thời gian cách quãng, bỏ qua những khoảng cách lớn về thời gian giữa các lớp, các màn kịch hoặc giữa các chương tiểu thuyết. Chẳng hạn, tiểu thuyết Nghệ nhân và Macgarita kết hợp các chương viết về đời sống Maxcơva 1930 với những chương viết về thời gian Giêsu Crixtô đầu công lịch. Nhà tiểu thuyết Anh PhinĐinh trong tiểu thuyết Lịch sử Tôm Giôn, người con rơi nhắc nhở bạn đọc: “Nếu trong sách này bạn đọc tìm thấy những chương chỉ viết có một ngày, lại có những chương viết về hàng năm, lại có lúc câu chuyện chúng tôi dừng lại, có lúc lại vượt lên phía trước, thì xin các bạn chớ có lấy làm lạ”. Sự không phù hợp giữa thời gian nghệ thuật trong văn học với thời gian thực tại (vật lí) chứng tỏ thời gian nghệ thuật được xây dựng theo cách cảm nhận thời gian của con người. Thời gian nghệ thuật không chỉ được tạo thành bởi các quan hệ các sự kiện, các đoạn thời gian của sự kiện mà còn được tạo thành bởi sự tương quan của thời gian miêu tả. Thời gian trần thuật không có nhịp độ riêng: nhanh, chậm hay ngừng trôi đó là những khái niệm mang tính chất quy ước, tương đối, nó chỉ là cảm giác chủ quan của con người. Theo Lê Thị Tuyết Hạnh: “Truyện xét về mặt sự kiện bao giờ cũng được xem là kết thúc, là đã thuộc về quá khứ so với hành vi kể (hành vi trần thuật). Do vậy, truyện bao giờ cũng là những truyện được kể lại. Rõ ràng phải có một người kể, một thời gian kể tồn tại để làm nên truyện. Thời gian người kể thực hiện hành vi kể chuyện, kể lại câu chuyện cho tất cả các thính giả hoặc độc giả của mình (tức là thời gian nói hoặc viết)” [4; tr.36]. Vì vậy, thời gian trần thuật không đảo ngược chỉ có một thời gian ở hiện tại, là thời gian nhà văn bỏ ra kể một câu chuyện mà bản thân sự kể chuyện đã là một nghệ thuật. Tuy việc trần thuật không có nhịp độ riêng nhưng trong từng tác phẩm cụ thể, ta cũng dễ dàng nhận ra nhịp độ thời gian có lúc nhanh lúc chậm, đều đặn, êm đềm hay biến động căng thẳng. Có hai loại nhịp độ thời gian đó là nhịp độ thời gian sự kiện và nhịp độ thời gian nhân vật. Nhịp độ thời gian sự kiện bao gồm sự kiện xã hội và sự kiện trong cuộc đời nhân vật. Giữa hai sự kiện này có sự tương quan với nhau đó là sự tương quan giữa độ dài thực tế và thời gian trần thuật của các sự kiện trong tác phẩm, là khoảng cách, mật độ biến cố được miêu tả ít hay nhiều, mở rộng, trải dài hay nén chặt, gấp khúc. Đây là đặc thù của văn chương, và thời gian trong văn chương được thể hiện theo chủ quan nghệ thuật của tác giả. Thời gian trong văn chương khác với thời gian khách quan vì nó được chi phối bởi chủ quan của tác giả cho nên nó có thể được ép mỏng hay kéo căng thời gian ra tuỳ theo dụng ý nghệ thuật của mình. Có khi, chỉ có một sự kiện nhỏ xảy ra trong một ngày nhưng nhà văn có thể miêu tả và kéo dài thời gian của sự kiện đó ra hàng chục trang giấy trong vài ba chương. Và ngược lại, có khi biến cố cả cuộc đời của nhân vật mà tác giả chỉ dồn nén trong một khoảng thời gian ngắn ngủi. Việc dồn nén hoặc kéo căng thời gian sự kiện trong văn chương vốn diễn ra trong thời gian trần thuật theo chủ quan của tác giả. Và những điều đó mang lại một ý nghĩa thẩm mĩ, tạo cho độc giả một cảm giác như đang sống trong thời gian nghệ thuật đó. Nhịp độ thời gian nhân vật – bao gồm nhịp điệu thể hiện qua hành động, hoạt động bên ngoài và nhịp điệu trong tâm tưởng, tư duy thường phù hợp với nhịp điệu thời gian sự kiện. Nhịp điệu thời gian sự kiện gấp khúc, dồn dập thì nhịp điệu thời gian hành động của nhân vật luôn hối hả khẩn trương. Chẳng hạn, trong Vợ Nhặt của Kim Lân: sự kiện nạn đói năm 1945 ào ạt tràn đến với những người nông dân nghèo khổ đã làm nên tính cách của các nhân vật, những tính cách đó có sự thay đổi so với trước đó. Chỉ với bốn bánh đúc và những lời đùa cợt mà Tràng và người phụ nữ không tên đã trở thành vợ chồng. Qua những chi tiết đó, cho chúng ta thấy được một xã hội nghèo nàn, đói rách…Ngược lại, khi nhịp điệu thời gian sự kiện trì chậm thì nhịp điệu thời gian của nhân vật cũng vậy – thong thả và thư thái. Thời gian nhân vật là rất quan trọng nó làm cho người đọc ý thức được sự tồn tại của nhân vật. Trong Vỡ Bờ, nhân vật Khắc chết ngay ở phần hai của tập một. Nhiều người băn khoăn vì nhân vật chết quá sớm. Nhưng việc để Khắc chết sớm là hợp lí. Khắc tiêu tiểu cho lớp chiến sĩ cách mạng hi sinh trước lúc cách mạng thành công. Khắc là hình tượng có tính chất tổng hợp. Trong anh bao hàm toàn bộ những phẩm chất, đặc điểm của những người cách mạng thời đó. Anh xuất hiện không phải với tư cách một cá nhân mà với tư cách là một đại biểu. Những nhà cách mạng thời đó biết làm việc gì thì Khắc cũng biết làm việc đó (vận động quần chúng đi vào công nhân, diễn thuyết, viết báo, in tài liệu và cả ở tù), những sở thích của họ cũng là sở thích của anh (trong tù anh thích đọc và ngâm Kiều…). Do đó, nếu để Khắc sống lâu hơn thì anh sẽ là một con người của thời khác, sẽ lu mờ cái nội dung lịch sử mà nhà văn muốn thể hiện. Thời gian nghệ thuật đích thực là thời gian phối trí giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật. Cho nên, thời gian trần thuật không đảo ngược được, không đứt đoạn, chỉ đứng ở thời gian hiện tại với sự phối trí của người kể. Giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật thì thời gian trần thuật thường ngắn hơn thời gian được trần thuật. Tuy nhiên có trường hợp, có lúc thời gian được trần thuật ít hơn thời gian trần thuật. Đấy là lúc tác giả dừng lại miêu tả thiên nhiên, tâm trạng nhân vật, thời gian dường như ngừng trôi nhưng thời gian kể chuyện thì cứ trôi đi. Thời gian trần thuật còn thể hiện điểm nhìn thời gian, cách hiểu thời gian của tác giả và tự nó là một tín hiệu thẩm mĩ, có hiệu lực thẩm mĩ riêng. Điểm nhìn ở đây không phải là lập trường chính trị xã hội mà là toạ độ thời gian được lựa chọn cho hành động kể chuyện, phát triển nội dung, sắp xếp bố cục, hư cấu thành truyện. Nếu truyện Chí Phèo của Nam Cao được sáng tác sau thời kì cách mạng đã thành công, hoặc sau này nữa thì có lẽ không phải như vậy. Toạ độ xuất phát có thể là sự phản ứng dữ dội của Chí Phèo, sự đối nghịch giữa Chí và Bá kiến, chứ không phải lời thời gian kết thúc. Quãng thời gian nhân vật sẽ kéo dài về sau và do vậy số phận nhân vật cũng khác đi, biên độ thời gian cũng có thể khác. Điểm nhìn của người kể tuy thuộc chủ quan nhưng một phần lại mang tính khách quan. Vì vậy, người kể phải điều chỉnh và lựa chọn sự kiện, sắp xếp bố cục cho phù hợp, hay là để bắt mạch của cuộc đối thoại này, nói cách khác, tuy điểm nhìn nghệ thuật là độc lập nhưng ít nhiều có liên quan đến quan điểm lập trường xã hội, chính trị của nhà văn, ngay từ điểm nhìn xuất phát của hiện thực được lựa chọn. Người kể chỉ có thể kể được những điều họ cảm thấy, nghe thấy, nhìn thấy trong không gian, thời gian. Vì thế, điểm nhìn thể hiện vị trí người kể dựa vào để quan sát trần thuật các nhân vật và sự kiện. Điểm nhìn thời gian là nhìn từ thời điểm hiện tại như sự việc đang diễn ra, hay nhìn lại quá khứ, qua màn sương của kí ức. Điểm nhìn trần thuật gắn bó mật thiết với ngôi kể, nhưng rộng hơn ngôi kể. Bởi vì có khi truyện kể theo ngôi thứ ba, nhưng nhiều khi ngôi thứ ba kết hợp điểm nhìn của nhân vật. Ví dụ, đoạn Thuý Kiều chia tay Thúc Sinh, điểm nhìn thể hiện trong từ ngữ: Người lên ngựa, kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san Dặm hồng bụi cuốn chinh an Trông vời đã khuất mấy ngàn dâu xanh. Trong truyện cổ tích, thời gian trần thuật gần như trùng với thời gian của sự kiện được trần thuật. Ở đây, thời gian gắn liền với chuỗi sự kiện, được tính bằng bản thân sự kiện và tính liên tục của sự kiện. Mỗi lần bắt đầu bằng: Một hôm…ít lâu sau, hôm sau, đến bữa cơm, được ít lâu, mãi sau, đến ngày giỗ bố, đến lúc, từ đó, cứ mỗi lần, từ bấy giờ… truyện không có thời quá khứ, thời tương lai. Tất cả chỉ là một thời hiện tại kéo dài, khi sự kiện kết thúc thì thời gian cũng hết. Nói chung, thời gian này không ra ngoài phạm vi một hôm. Nói cách khác, thời gian trong chuyện cổ tích không có tính cụ thể. Bên cạnh đó, kiểu thời gian trần thuật theo trình tự phát triển trước sau của thời gian nghĩa là diễn tiến của câu chuyện chủ yếu được trình bày theo thứ tự phát triển trước sau của thời gian. Có thể gọi đây là thời gian sự kiện: Các sự kiện được gắn kết và xuất hiện một cách tuần tự không đứt quãng. Tác phẩm có thời gian ngưng và sức hấp dẫn của nó là ở nhịp điệu dẫn dắt câu chuyện. Kiểu thời gian trần thuật này khiến tác phẩm dễ theo dõi nhưng không tránh khỏi ít nhiều đơn điệu. Ngoài ra, thời gian tuần tự xảy ra các sự kiện trong tác phẩm như một tất yếu của xã hội. Các sự kiện ấy được tác giả miêu tả theo một trình tự. Trong văn học hiện thực phê phán cho ta thấy rõ điều này. Trong Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo ban đầu là một anh nông dân hiền lành, chất phác nhưng do thế lực phong kiến và chế độ nhà tù đã làm thay đổi cả về nhân hình lẫn nhân tính của Chí Phèo. Sau đó nhờ vào sự gặp gỡ với Thị Nở và “bát cháo hành tình người” đã làm thức tỉnh một con người đã bị lưu manh hoá nhưng một lần nữa cái xã hội ấy không cho Chí con đường trở thành người lương thiện, kết cục cốt truyện dẫn đến cái chết bi thảm của Chí và cũng là khép kín một cuộc đời của Chí Phèo cha và một Chí Phèo con đang thấp thoáng hình thành trong tương lai. Đó là trong văn học hiện thực phê phán. Còn trong văn học lãng mạn thì sao? Có nhiều tác phẩm được xây dựng chủ yếu không phải theo trình tự của thời gian mà theo quy luật phát triển của tâm lí. Tác giả đã dựa vào diễn biến tâm lí của nhân vật mà dẫn dắt câu chuyện theo mạch thời gian và những sự kiện đó xảy ra cũng được tác giả sắp xếp sao cho phù hợp với tâm lí của nhân vật. Nhìn chung, để biến đổi nghệ thuật các quá trình thời gian, nhà văn có thể miêu tả thời gian trong một dòng chảy liên tục hoặc ngắt quãng. Thời gian trần thuật được diễn tiến theo chủ quan của tác giả. Nhà văn có thể miêu tả quá khứ, hiện tại, tương lai theo nhiều kiểu kết hợp với nhau tuỳ theo dụng ý nghệ thuật của tác giả. Tóm lại, khi nghiên cứu thời gian nghệ thuật, cần quan tâm tới sự tương quan giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật. Chính sự so le của thời gian cho ta thấy tác giả tập trung phản ánh thời điểm nào của nhân vật hay sự kiện. Cùng với không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật làm nên hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật là một xác định, cái làm nên tính xác định của nó chính là không gian và thời gian. Bởi thế, nghiên cứu thời gian nghệ thuật là rất quan trọng giúp ta khám phá tác phẩm như là một thế giới, một chỉnh thể nghệ thuật được xác định trong không – thời gian. 2. Không gian nghệ thuật. 2.1 Khái niệm. Cũng như thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật là một thế giới nghệ thuật trong đó có con người và bối cảnh, có sự kiện được tác giả chủ ý xây dựng theo cá tính của mình. Vậy không gian nghệ thuật là gì? Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì không gian nghệ thuật là “Hình thức bên trong của hiện tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảm tính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cách quãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật. Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính chủ quan. Ngoài không gian vật thể, có không gian tâm tưởng. Do vậy, không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy được vào không gian địa lí. Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hoá các mối liên hệ của bức tranh thế giới như thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự. Không gian nghệ thuật có thể mang tính địa điểm, tính phân giới – dùng để mô hình hoá các phạm trù thời gian như bước đường đời, con đường cách mạng. Không gian nghệ thuật có thể mang tính cản trở, để mô hình hoá các kiểu tính cách con người. Không gian nghệ thuật có thể là không có tính cản trở như trong cổ tích làm cho ước mơ, công lí được thực hiện dễ dàng. Ngôn ngữ của không gian nghệ thuật rất đa dạng và phong phú. Các cặp phạm trù cao – thấp, xa – gần, rộng – hẹp, cong – thẳng, bên này – bên kia, vững chắc – bập bênh, ngay - lệch … đều được dùng để biểu hiện các phạm vi giá trị phẩm chất của đời sống xã hội. Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy quan niệm về thế giới chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hiện tượng nghệ thuật”. 2.2 Các loại không gian nghệ thuật. 2.2.1 Không gian bối cảnh. Đó là môi trường hoạt động của nhân vật, một địa điểm có tên riêng hay không có tên trong đó có đủ cả thiên nhiên, xã hội, con người. Nó là điều kiện cần thiết cho mọi sự kiện, mọi hoạt động, mọi phạm vi thế giới không thể thiếu. Một “cái gì đó” xảy ra không thể không có quan hệ với cái khác ở một “nơi nào đó”. Làng quê của Nam Cao, Ngô Tất Tố… được phác hoạ chân thực chi tiết là môi trường của các nhân vật sống như Chí Phèo, lão Hạc, chị Dậu… thảo nguyên vùng sông Đông là môi trường của các nhân vật Grigori, Panchelay, Natasa… (Sông Đông êm đềm); Paris nghèo khổ là môi trường của Tê-nac-đi-ê, Cô-đét, Fang-tin…( Những người khốn khổ - V.Hugo). Hơn bất cứ một thể loại nào. Truyện đã mở rộng không gian đến mức có thể đưa lại cho nhân loại những hiểu biết về thế giới ở cái thời tầm nhìn của con người bị hạn chế trong tầm mắt con người. Ở thời buổi con người đói khát thông tin thì truyện là phương tiện lí tưởng bậc nhất. Trong truyện ngắn Lão Êkhip và bé Lionka của nhà văn nổi tiếng của Nga đó là M.Gorki đã cho người đọc thấy được bối cảnh hiện thực của xã hội Nga lúc bấy giờ, đó là một xã hội nghèo khổ đầy bất công. Có thể phân chia không gian bối cảnh làm ba loại: bối cảnh thiên nhiên, bối cảnh xã hội và bối cảnh tâm trạng. Bối cảnh thiên nhiên bao gồm những hiện tượng thiên nhiên như trời, đất, gió, mây, sông, núi, cây cỏ,… làm thành khung cảnh rộng lớn, đa dạng thay đổi theo bốn mùa khác nhau ở những địa phương khác nhau, trong từng giây phút. Trong Việt Bắc, Tố Hữu đã thành công trong việc miêu tả khung cảnh thiên nhiên ở Việt Bắc: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi, Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng, Ngày xuân mơ nở trắng rừng, Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng, Nhớ cô em gái hái măng một mình, Rừng thu trăng rọi hoà bình, Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung. Thiên nhiên một mặt gắn với nhân vật và những hoạt động của nhân vật, mặt khác gắn với tâm trạng người kể tạo cảm hứng cho người kể và người đọc. Bối cảnh thiên nhiên thích hợp với những nhân vật lãng mạn và tâm hồn lãng mạn của người kể và làm thành chi tiết của tác phẩm. Nó có “ ngôn ngữ riêng” gửi gắm tâm trạng (cảnh ngụ tình), dự báo một nhân vật xuất hiện hay một số sự kiện nào đó sẽ xuất hiện. Thiên nhiên được dành vị trí ưu tiên cho các truyện kể với ngòi bút lãng mạn những thiên tình sử hào hùng hoặc bi thảm…làm nên cái đặc trưng của bút pháp lãng mạn trong văn học. Bối cảnh xã hội bao gồm cuộc sống của những tầng lớp người và cá nhân này với cá nhân khác, thế hệ này với thế hệ khác. Trong Đôi Mắt của Nam Cao, nhân vật Độ có một cách nhìn về người nông dân khác xa so với Hoàng, đó là cách nhìn của một người trí thức có tấm lòng nhân hậu đối với tầng lớp nông dân nghèo khổ. Tuy khoảng cách giữa hai tầng lớp này có một độ chênh lệch nhất định về trình độ nhận thức nhưng với ngòi bút nhân đạo, Nam Cao đã xoá mờ đi ranh giới khập khiễng này tạo nên một tập thể những con người có cùng chí hướng. Có khi đó là những tập quán, phong tục, luật lệ ở một địa phương. Có khi là những quan hệ “có vấn đề” giữa cá nhân này với cá nhân khác hoặc được biểu hiện cụ thể, hoặc được che giấu kín đáo. Con người không chỉ sống trong bầu không khí thiên nhiên mà còn sống trong màng rây vô hình những quan hệ xã hội. Nó làm thành một thứ không khí nuôi dưỡng và thúc đẩy cá nhân phát triển, do vậy, hành động và tính
- Xem thêm -