Thiết kế và dùng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận Pisa trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9

  • Số trang: 125 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 36 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC Trang DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN DANH MỤC CÁC BẢNG DANH MỤC CÁC HÌNH MỞ ĐẦU 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƢỚNG TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 9 7 1.1. Đổi mới phương pháp dạy học 7 7 1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới 1.1.2. Đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam 8 1.2. Một số xu hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học ở trƣờng phổ thông hiện nay 8 1.3. Cơ sở lý luận của việc sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THCS 10 1.3.1.Ý nghĩa của việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học Hóa học ở trường THCS 10 1.3.2. Phân loại các dạng bài tập dùng trong dạy học môn Hóa học ở trường THCS: 12 1.4. Cơ sở lý luận về việc xây dựng bài tập hóa học mới trong dạy học Hóa học ở trường THCS 1.4.1. Ý nghĩa của việc xây dựng các bài tập hóa học mới 1.4.2. Một số định hướng trong việc xây dựng bài tập hóa học mới 1.5. Tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế PISA 15 15 15 16 1.5.1. Đặc điểm của PISA 16 1.5.2. Mục tiêu đánh giá 18 1.5.3. Nội dung đánh giá 20 1.5.4. Cách đánh giá trong bài tập PISA 21 1.5.5. Đối tượng đánh giá 22 1.5.6. Những quốc gia đã tham gia PISA và kết quả đạt được 22 1.6. Thực trạng việc sử dụng bài tập trong dạy học môn Hóa học lớp 9 ở một số trường THCS tại Hải Phòng 24 CHƢƠNG 2: THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƢỚNG TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 9 28 2.1. Phân tích chương trình hóa học 9 28 2.1.1. Mục tiêu cơ bản của chương trình hóa học lớp 9 2.1.2.Cấu trúc nội dung chương trình (trích dẫn từ [20]) 28 29 2.2. Thiết kế hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9 33 2.2.1. Cơ sở và nguyên tắc 33 2.3. Hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hướng tiếp cận PISA 36 CHƢƠNG I: CÁC LOẠI HỢP CHẤT VÔ CƠ 36 CHƢƠNG II: : KIM LOẠI 58 CHƢƠNG III: PHI KIM 68 2.4. Sử dụng hệ thống bài tập theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học vô cơ lớp 9 80 2.4.1. Sử dụng khi dạy bài mới 80 2.4.2. Sử dụng khi luyện tập, ôn tập 81 2.4.3. Sử dụng khi tự học ở nhà 82 2.4.4. Sử dụng khi kiểm tra, đánh giá 83 CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 85 3.1. Mục đích, nhiệm vụ thực nghiệm 85 3.2. Thời gian, đối tƣợng thực nghiệm 85 3.3. Quá trình tiến hành thực nghiệm 86 3.4. Kết quả thực nghiệm và xử lý kết quả thực nghiệm 87 3.4.1. Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 87 3.4.2. Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm 88 3.4.3. Xử lí kết quả 92 3.4.4. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 94 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC 102 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN ĐC Đối chứng ĐG Đánh giá GV Giáo viên HS Học sinh PPDH Phƣơng pháp dạy học KT Kiểm tra LĐC Lớp đối chứng LTN Lớp thực nghiệm PISA Programme for International Student Assessment SGK Sách giáo khoa THCS Trung học cơ sở TN Thực nghiệm TNKQ Trắc nghiệm khách quan , DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Nội dung đánh giá của PISA qua các kì Bảng 1.2. Các nƣớc đứng đầu về Khoa học từ 2000 - 2006 Bảng 1.3. Các nƣớc đứng đầu về Đọc hiểu từ 2000 - 2006 Bảng 1.4. Các nƣớc đứng đầu về Toán từ 2000-2006 Bảng 1.5. Kết quả PISA năm 2009 của một số nƣớc đứng đầu Bảng 1.6. Tình trạng GV sử dụng bài tập trong các giờ dạy học Bảng 1.7. Mức độ sử dụng các dạng bài tập hóa học sử dụng trong dạy học Bảng 2.1. Nội dung chƣơng trình Hóa học 9 Bảng 2.2. Phân phối chƣơng trình Hóa học 9 Bảng 3.1. Thống kê số HS tham gia thực nghiệm đề tài Bảng 3.2. Phân phối tần suất số HS theo điểm bài kiểm tra trƣớc thực nghiệm Bảng 3.3. Số lƣợng HS đạt từng loại điểm của trƣờng THCS An Lƣ Bảng 3.4. Tần suất (%) HS đạt điểm từng loại của trƣờng THCS An Lƣ Bảng 3.5. Tỉ lệ % HS đạt điểm xi trở xuống của trƣờng THCS An Lƣ Bảng 3.6. Số lƣợng HS đạt từng loại điểm của trƣờng THCS Hoa Động Bảng 3.7. Tần suất (%) HS đạt điểm từng loại của trƣờng THCS Hoa Động Bảng 3.8. Tỉ lệ % HS đạt điểm xi trở xuống của trƣờng THCS Hoa Động Bảng 3.9. Bảng tổng hợp phân loại kết quả 2 bài kiểm tra của HS trƣờng THCS An Lƣ và THCS Hoa Động Bảng 3.10. Tổng hợp các tham số đặc trƣng Bảng 3.11. Tổng hợp kết quả thăm dò ý kiến GV sau thực nghiệm Bảng 3.12. Tổng hợp kết quả thăm dò ý kiến HS sau thực nghiệm , DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1. Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra - Lần 1 - trƣờng THCS An Lƣ Hình 3.2. Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra - Lần 2 - trƣờng THCS An Lƣ Hình 3.3. Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra - Lần 1 - trƣờng THCS Hoa Động Hình 3.4. Đƣờng luỹ tích điểm kiểm tra - Lần 2 - trƣờng THCS Hoa Động Hình 3.5. Đồ thị cột biểu diễn kết quả 2 bài kiểm tra của HS trƣờng THCS An Lƣ và THCS Hoa Động , MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Đổi mới giáo dục là một trong những vấn đề mang tính thời sự, đƣợc mọi tầng lớp xã hội hiện nay rất quan tâm. Chính vì vậy, trong những năm gần đây, giáo dục Việt Nam đang tập trung đổi mới, hƣớng tới một nền giáo dục tiến bộ, hiện đại, hòa nhập với xu hƣớng của các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới. Ở trƣờng THCS, môn Hóa học dù đƣợc đƣa vào giảng dạy muộn nhất trong hệ thống các môn khoa học nhƣng có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Các kiến thức hoá học không chỉ cung cấp những tri thức hóa học phổ thông, cơ bản mà còn cho ngƣời học thấy đƣợc mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hoá học, môi trƣờng và con ngƣời.... Chính vì vậy, để góp phần thực hiện mục tiêu “Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” và để tạo dựng niềm đam mê học tập, giúp hóa học gần hơn với thực tiễn thì việc sử dụng bài tập môn Hóa học trong dạy học ở trƣờng THCS có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, các bài tập môn Hóa học đã và đang sử dụng hiện nay ở trƣờng THCS phần nào còn mang tính hàn lâm, nghèo nàn về nội dung hóa học, chƣa thực sự đáp ứng đƣợc nhiệm vụ, sứ mệnh to lớn của môn hoá học trong nhà trƣờng THCS. Hầu hết HS học xong cấp học THCS chƣa thực sự biết vận dụng kiến thức hóa học vào thực tế, chƣa thấy đƣợc vai trò của hóa học trong đời sống. Và cũng một phần vì đó, các em chƣa có nhiều niềm đam mê, say sƣa trong học tập, đặc biệt là với môn Hóa học. Giáo dục Việt Nam trong năm 2012 có một dấu ấn quan trọng khi lần đầu tiên nƣớc ta có khoảng 5.100 HS ở độ tuổi 15 của 162 trƣờng thuộc 59 tỉnh, thành phố, cùng với hơn 70 quốc gia khác trên thế giới tham gia vào cuộc khảo sát chính thức của PISA 2012 - (viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Programme for International Student Assessment”, đƣợc dịch là “Chương trình đánh giá HS quốc tế” do tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (“Organization for Economic Co-operation and Development”, thƣờng đƣợc viết tắt là OECD) khởi xƣớng và triển khai) từ ngày 12 đến ngày 14 tháng 4 năm 2012. Cho tới nay, PISA là cuộc khảo sát giáo dục duy nhất trên thế giới có tính chu kì (3 năm 1 lần) để đánh giá kiến thức và kỹ năng của 1 , HS ở độ tuổi 15 - độ tuổi kết thúc giáo dục bắt buộc ở hầu hết các quốc gia. PISA nổi bật nhờ quy mô toàn cầu và tính chu kỳ. Mục tiêu của chƣơng trình PISA nhằm kiểm tra xem, khi đến độ tuổi kết thúc phần giáo dục bắt buộc, HS đã đƣợc chuẩn bị để đáp ứng các thách thức của cuộc sống sau này ở mức độ nào. Nội dung đánh giá của PISA hoàn toàn đƣợc xác định dựa trên các kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống tƣơng lai, không dựa vào nội dung các chƣơng trình giáo dục quốc gia. Thay vì kiểm tra sự thuộc bài theo các chƣơng trình giáo dục cụ thể, PISA xem xét khả năng của HS ứng dụng các kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực chuyên môn cơ bản, khả năng phân tích, lý giải và truyền đạt một cách có hiệu quả khi họ xem xét, diễn giải và giải quyết các vấn đề. Theo nhận định của nhiều chuyên gia, PISA đƣợc đánh giá là cuộc khảo sát tin cậy về năng lực của HS. Là ngƣời trực tiếp giảng dạy bộ môn Hóa học ở trƣờng THCS, tôi nhận thấy, việc sử dụng hệ thống bài tập theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học môn Hóa học ở trƣờng THCS là rất quan trọng, mang tính thiết thực cao. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, các bài tập hóa học ở trƣờng THCS đƣợc xây dựng theo hƣớng này gần nhƣ rất ít. Với những lý do trên, tôi nghiên cứu đề tài: “Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9”. 2. Lịch sử nghiên cứu Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, sách, giáo trình, tài liệu, bài viết… liên quan đến việc việc sử dụng bài tập trong dạy học nói chung và môn Hóa học nói riêng và các tài liệu nghiên cứu liên quan đến PISA nhƣ: - TS. Cao Cự Giác (209), Thiết kế và sử dụng bài tập thực nghiệm trong dạy và học hóa học. Nxb Giáo dục Việt Nam. - PGS.TS Nguyễn Xuân Trƣờng (2009), Sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông. Nxb ĐH Sƣ Phạm Hà nội. - Luận văn thạc sĩ: “Tiếp cận đánh giá PISA bằng phương pháp giải quyết vấn đề qua dạy học các bài toán thực tiễn phần khối đa diện và khối tròn xoay (hình học không gian lớp 12 – Ban cơ bản” của Tăng Hồng Dƣơng – lớp Cao học lý luận và phƣơng pháp dạy học môn Toán K5 – Trƣờng đại học Giáo dục, đại học Quốc gia Hà Nội. - Luận văn thạc sĩ: “Dạy học phát triển năng lực cho HS trung học phổ thông với 2 , các bài toán tiếp cận chương trình HS quốc tế (PISA)” của Nguyễn Quốc Trịnh – lớp Cao học lý luận và phƣơng pháp dạy học môn Toán K5 – Trƣờng đại học Giáo dục, đại học Quốc gia Hà Nội. - “Chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) (Mục đích, tiến trình thực hiện, các kết quả chính” của Nguyễn Thị Phƣơng Hoa trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 25/2000. - “Góp phần tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA)” của Nguyễn Ngọc Sơn trên Tập san Giáo dục - Đào tạo số 3/2010 - “Chương trình đánh giá HS quốc tế PISA” của Đỗ Tiến Đạt trên Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về giáo dục Toán học phổ thông năm 2011. - Khai thác tiêu chuẩn của PISA nhằm rèn luyện khả năng toán học hóa (“Rèn luyện HS trung học phổ thông khả năng toán học hóa theo tiêu chuẩn của PISA” của Nguyễn Sơn Hà trên Tạp chí Khoa học Đại học Sƣ phạm Hà Nội số 4/2010… Tuy nhiên, chƣa có đề tài nào nghiên cứu về việc thiết kế và sử dụng các bài tập hóa học theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9 nhằm làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập môn Hóa học, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học Hóa học ở trƣờng THCS. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 3.2.1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận của đề tài - Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đổi mới phƣơng pháp dạy học - Nghiên cứu lý luận về bài tập hóa học trong dạy học hóa học 3.2.2. Tìm hiểu về chương trình đánh giá HS quốc tế (PISA) 3.2.3. Tiến hành điều tra - quan sát, khảo sát, lấy ý kiến … của GV, HS về hệ thống các bài tập hóa học đã và đang sử dụng Tại trƣờng: THCS Hoa Động – huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng Trƣờng THCS An Lƣ – huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng 3 , 3.2.5. Thiết kế hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hướng tiếp cận PISA. 3.2.6. Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hướng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học ở trường THCS. 3.2.7. Tiến hành thực nghiệm sư phạm Để bƣớc đầu kiểm nghiệm tính khoa học của hệ thống bài tập và tính khả thi, hiệu quả của những cách sử dụng đề xuất trong luận văn. - Nghiên cứu và đánh giá việc sử dụng hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học ở trƣờng THCS. - Hoàn thiện hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học ở trƣờng THCS. 3.2.8. Đề xuất một số hướng sử dụng hệ thống bài tập tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9 Nhằm làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập môn Hóa học.., từ đó nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trƣờng THCS. 4. Phạm vi nghiên cứu 4.1. Nội dung: Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hƣớng tiếp cận PISA 4.2. Thời gian: Từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 10 năm 2012 5. Mẫu khảo sát - Khối lớp 9 trƣờng THCS An Lƣ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. - Khối lớp 9 trƣờng THCS Hoa Động, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. 6. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 6. 1. Khách thể nghiên cứu Quá trình dạy học hóa học ở trƣờng phổ thông Việt Nam. 6. 2. Đối tượng nghiên cứu - Quá trình sử dụng bài tập hóa học trong dạy và học môn Hóa học vô cơ lớp 9 đã và đang tiến hành ở trƣờng THCS. - Thiết kế đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9 4 , 7. Giả thuyết khoa học Nếu thiết kế và sử dụng một hệ thống bài tập theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9 thì sẽ làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập môn Hóa học, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trƣờng THCS. 8. Phƣơng pháp nghiên cứu 8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận 8.1.1. Nghiên cứu về cơ sở lí luận về đổi mới PPDH Hóa học. 8.1.2. Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường THCS 8.1.3. Nghiên cứu tài liệu lý luận dạy học có liên quan đến việc thiết kế bài tập mới trong dạy học Hóa học ở trường THCS 8.1.4. Nghiên cứu các tài liệu về chương trình đánh giá HS quốc tế PISA 8.1.5. Nghiên cứu nội dung, cấu trúc, chương trình hóa học lớp 9 8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: 8.2.1. Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát các hoạt động dạy và học có sử dụng bài bập hóa học tại trường THCS nhằm phát hiện vấn đề nghiên cứu 8.2.2. Phương pháp đàm thoại: trao đổi với GV và HS để tìm hiểu ý kiến, quan niệm, thái độ ... của họ về việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy và học ở trường THCS, cũng như những thuận lợi và khó khăn mà GV và HS đã gặp phải. 8.2.3. Phương pháp điều tra: điều tra thực trạng việc sử dụng bài tập của GV và HS trong quá trình dạy và học môn Hoá học lớp 9 8.2.4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các giảng viên và GV có nhiều kinh nghiệm về việc sử dụng bài tập trong giảng dạy hóa học trước kia và hiện nay. 8.2.5. Phương pháp thực nghiệm: Dựa vào giả thuyết khoa học đã đặt ra, tiến hành thực nghiệm ở một số trường THCS để xem xét hiệu quả và tính khả thi của hệ thống bài tập theo cách tiếp cận của PISA trong dạy học hóa học lớp 9 đã được xây dựng. 8.3. Phương pháp xử lý thống kê toán học: Dùng để phân tích và xử lí các số liệu thu được qua điều tra và thực nghiệm. 5 , 9. Đóng góp mới của đề tài - Thiết kế hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hƣớng tiếp cận PISA. - Đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập hóa học vô cơ lớp 9 theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học hóa học lớp 9 để làm cho việc dạy học hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hơn, HS có hứng thú, say mê học tập, từ đó nâng cao hiệu quả dạy học môn Hóa học ở trƣờng THCS. 10. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9 Chƣơng 2: Thiết kế và đề xuất cách sử dụng hệ thống bài tập theo hƣớng tiếp cận PISA trong dạy học phần hóa học vô cơ lớp 9. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 6 , CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO HƢỚNG TIẾP CẬN PISA TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỌC VÔ CƠ LỚP 9 1.1. Đổi mới phƣơng pháp dạy học 1.1.1. Đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới Vấn đề PPDH và đổi mới PPDH đƣợc các nhà giáo dục trên thế giới quan tâm và đề cập rất nhiều trong các bài báo, hội thảo khoa học… Đáng chú ý nhất khuyến nghị của UNESCO về phát triển giáo dục vào các năm 1971; 1980; 1990 đều nhất trí rằng phải thƣờng xuyên “phát triển các phƣơng pháp giáo dục mới, thích hợp hơn có thể đánh giá đúng mức khả năng học tập tích cực của HS và cũng để thay thế các hệ thống đánh giá cũ, đặt căn bản trên trí nhớ về các kiến thức, kỹ năng… ”. Từ đó cho thấy, đổi mới PPDH là một nhu cầu cấp bách của thời đại ngày nay. Cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ, nhân loại đang bƣớc vào thế kỉ của văn minh tri thức với những thành tựu rực rỡ của khoa học kĩ thuật trong đó có khoa học Hóa học. Nền văn minh đó đòi hỏi con ngƣời cần phải có tri thức, sự nhạy bén và năng lực sáng tạo để nắm bắt và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh. Trƣớc yêu cầu của xã hội, giáo dục đƣợc xem là chiếc đòn bẩy, là “công cụ chủ yếu tạo ra sự phát triển”, thúc đẩy khoa học kĩ thuật và sản xuất tiến lên, góp phần cải thiện đời sống. Giáo dục chính là chiếc chìa khóa mở vào cánh cửa tƣơng lai”, một xã hội đƣợc xây dựng trên nền tảng tri thức, giáo dục đƣợc coi là quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới. Khẩu hiệu “hãy cứu lấy nền kinh tế bằng giáo dục” đã đƣợc nhiều quốc gia nêu cao, bối cảnh đó đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới cả về nội dung và phƣơng pháp giảng dạy. Trên thế giới hiện nay, việc đổi mới PPDH đang đƣợc tiến hành theo một số phƣơng hƣớng nhƣ tích cực hoá quá trình dạy học; cá thể hoá việc dạy học; dạy học lấy HS làm trung tâm; dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực ngƣời học; … Việc tích hợp kiến thức chuyên ngành vào phƣơng pháp tƣ duy có thể đƣợc thấy rõ trong năm mục tiêu học tập then chốt đƣợc nêu ra bởi UNESCO, giúp làm rõ các mục tiêu dạy học của phát triển bền vững (ESD). Năm mục tiêu đó là: (1) 7 , học để biết, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của những kiến thức hàm chứa nội dung ý nghĩa và chính xác; (2) học để làm, tập trung vào tầm quan trọng của việc ứng dụng, sự xác đáng, và những kỹ năng; (3) học để sống cùng nhau, trong đó thừa nhận tầm quan trọng của động lực xã hội tích cực; (4) học cách tồn tại, tập trung vào tầm quan trọng của trách nhiệm, phát triển cá nhân, siêu nhận thức; (5) học cách thay đổi bản thân và xã hội, tập trung vào sự thay đổi nhận thức nhƣ là phƣơng tiện cam kết quan trọng. Học không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia hay một trƣờng học nào. 1.1.2. Đổi mới phương pháp dạy học ở Việt Nam Hơn 20 năm qua, Đảng ta đã nêu ra một loạt quan điểm về GD, phù hợp với yêu cầu và đƣờng lối đổi mới kinh tế - xã hội của đất nƣớc, Đại hội VII khẳng định “GD-ĐT, cùng với khoa học và công nghệ, là quốc sách hàng đầu”. Sau đó đã xác định sứ mạng của GD là “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài”. Về đầu tƣ, Đảng ta coi đầu tƣ cho GD là một trong những hƣớng chính của đầu tƣ phát triển, tạo điều kiện để GD đi trƣớc và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế, xã hội. Nhƣng nhìn lại, những quan điểm đúng đắn đó mới dừng ở nhận thức ban đầu, chƣa đƣợc cụ thể hóa và quán triệt đầy đủ trong hành động. Vì vậy, Giaó dục chƣa thực sự chuyển biến. Tình trạng yếu kém, lạc hậu về Giaó dục đang là nỗi bức xúc của cả xã hội và là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự yếu kém, lạc hậu trong phát triển kinh tế, xã hội nói chung.Đến nay, Đại hội XI đã đặt vấn đề: đổi mới căn bản, toàn diện nền GD. Qua đó có thể nói, Đảng đã thấy rõ và chỉ ra sự cấp bách và bức xúc của vấn đề này. 1.2. Một số xu hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học ở trƣờng phổ thông hiện nay Đổi mới PPDH đƣợc xem là một khâu rất quan trọng trong việc đổi mới giáo dục. Bởi lẽ, PPDH có hợp lý thì hiệu quả của việc dạy học mới cao, phƣơng pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy đƣợc khả năng tƣ duy, sáng tạo của ngƣời học. Chính vì vậy, vấn đề đổi mới PPDH đã đƣợc đặt ra đối với tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục phổ thông. Đặc biệt, khi chúng ta đang chuẩn bị tích cực cho lộ trình đổi mới căn bản, toàn diện GD Việt Nam trong những năm tới theo tinh thần 8 , Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thì vấn đề đổi mới PPDH đã trở thành một yêu cầu cấp thiết. Định hƣớng chung về đổi mới PPDH đã đƣợc thể chế hóa trong Luật giáo dục 2005, điều 28.2: “Phƣơng pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dƣỡng phƣơng pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.” Có thể nói, cốt lõi của đổi mới PPDH ở trƣờng THCS là hướng tới giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, từ bỏ thói quen học tập thụ động, ghi nhớ máy móc. Cụ thể là: 1.2.1. Đổi mới mục tiêu Từ yêu cầu của xã hội hiện đại, mục tiêu giáo dục cũng cần đƣợc thay đổi để đào tạo những con ngƣời thích ứng với xã hội phát triển, với bản thân ngƣời học. Trong mục tiêu giáo dục của các cấp bậc học đã có điểm mới là tập trung hơn nữa vào việc hình thành năng lực cho HS đó là: năng lực nhận thức, năng lực hành động (năng lực giải quyết vấn đề), năng lực thích ứng với điều kiện xã hội. 1.2.2. Đổi mới hoạt động của GV Với yêu cầu đổi mới PPDH theo hƣớng tích cực hoá hoạt động học tập của HS thì hoạt động giảng dạy của GV cũng có sự đổi mới. Không chỉ cải tiến các PPDH truyền thống, GV cần có sự kết hợp đa dạng các phƣơng pháp dạy học và kĩ thuật dạy học để phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS, nhƣ: vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo tình huống, dạy học định hướng hành động, phương pháp dạy học đặc thù bộ môn, kĩ thuật bể cá, kĩ thuật XYZ, kĩ thuật khăn trải bàn.... Đồng thời, GV cũng cần tăng cƣờng sử dụng phƣơng tiện dạy học và công nghệ thông tin trong dạy học 1.2.3. Đổi mới hoạt động học tập của HS Hoạt động học tập của HS đƣợc chú trọng, tăng cƣờng trong giờ học và mang tính chủ động. Dƣới sự hƣớng dẫn của GV, HS cần tích cực tham gia vào quá trình khám phá tìm tòi để thu nhận kiến thức một cách chủ động tích cực nhƣ: phát hiện vấn đề cần nghiên cứu hoặc nắm bắt vấn đề học tập do GV nêu ra, thực hiện các hoạt động cá nhân hoặc hợp tác theo nhóm nhỏ để tìm tòi, giải quyết các vấn đề đặt 9 , ra, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã biết để giải thích, tìm hiểu một số hiện tƣợng hoá học xảy ra trong thực tế đời sống.... 1.2.4. Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học và sử dụng phương tiện dạy học. Hình thức tổ chức dạy học, địa điểm học của HS không chỉ diễn ra trên lớp mà còn đƣợc thực hiện ở phòng bộ môn, phòng học đa phƣơng tiện, ở ngoài trƣờng học… HS không chỉ thu nhận thông tin qua sách giáo khoa mà còn qua sách tham khảo, các phƣơng tiện thông tin, phƣơng tiện kĩ thuật (băng, đĩa, mạng internet) và tham gia các hoạt động chia xẻ thông tin thu đƣợc. Các phƣơng tiện dạy học đƣợc đa dạng hoá, không chỉ là phấn, bảng, sách vở...Các thí nghiệm hoá học, phƣơng tiện dạy học đƣợc sử dụng chủ yếu nhƣ là nguồn kiến thức để HS tìm tòi, phát hiện, thu nhận kiến thức và cả phƣơng pháp nhận thức. 1.2.5. Đổi mới việc kiểm tra - đánh giá Đổi mới phƣơng pháp dạy học đòi hỏi phải tiến hành một cách đồng bộ đổi mới từ nội dung chƣơng trình sách giáo khoa, phƣơng pháp dạy học cho đến kiểm tra - đánh giá kết quả học tập. Kiểm tra - đánh giá có vai trò rất to lớn đối với việc nâng cao chất lƣợng đào tạo. Kết quả của kiểm tra - đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và quản lý giáo dục. Cùng với xu hƣớng chung của sự đổi mới phƣơng pháp dạy học, kiểm tra đánh giá trong dạy học cũng đã có những đổi mới quan trọng, đáng kể cả về nội dung và hình thức. Trong kiểm tra - đánh giá, không chỉ đánh giá đến kết quả học tập mà còn chú trọng đến việc đánh giá theo cả quá trình học tập của HS. Đánh giá thành tích học tập đang dần hƣớng đến quan điểm đánh giá sự phát triển năng lực, không chỉ giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà cần chú trọng vào năng lực vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của thực tiễn...Đánh giá năng lực đƣợc thể hiện rõ qua các kỳ thi PISA. 1.3. Cơ sở lý luận của việc sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trƣờng THCS 1.3.1.Ý nghĩa của việc sử dụng bài tập hóa học trong dạy học Hóa học ở trường THCS 10 , Việc sử dụng bài tập trong dạy học là một trong những biện pháp kiểm tra đánh giá quan trọng, thiết thực, rất có giá trị, đã và đang đƣợc sử dụng không chỉ đối với môn Hóa học mà còn đối với cả các môn học khác ở trƣờng phổ thông. Bài tập hóa học có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo chung và mục tiêu riêng của môn Hóa học. Bài tập hóa học vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phƣơng pháp dạy học hiệu nghiệm. Bài tập hóa học có những ý nghĩa, tác dụng to lớn về nhiều mặt. 1.3.1.1. Ý nghĩa trí dục + Làm chính xác hóa các khái niệm hóa học. Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ khi vận dụng đƣợc kiến thức vào việc giải bài tập HS mới nắm đƣợc kiến thức một cách sâu sắc. + Rèn luyện cho HS khả năng vận dụng đƣợc các kiến thức đã học, hiến những kiến thực tiếp thu đƣợc qua các bài giảng của thầy thành kiến thức của chính mình. Khi vận dụng đƣợc kiến thức nào đó, kiến thức đó sẽ đƣợc nhớ lâu. + Ôn tập, củng cố và hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất + Rèn luyện các kĩ năng hóa học nhƣ cân bằng phƣơng trình phản ứng, tính toán theo CTHH và PTHH… nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho HS. + Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất, bảo vệ môi trƣờng. + Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và các thao tác tƣ duy. 1.3.1.2.Ý nghĩa phát triển: Phát triển ở HS các năng lực tƣ duy logic, biện chứng, khái quát, độc lập, thông minh, sáng tạo, rèn trí thông minh cho HS. Một bài tập có nhiều cách giải có cách giải thông thƣờng theo các bƣớc quen thuộc nhƣng cũng có cách giải độc đáo, thông minh, ngắn gọn mà lại chính xác. Đƣa ra một bài tập rồi yêu cầu HS giải bằng nhiều cách, tìm những cách giải ngắn nhất hay nhất là một cách rèn luyện trí thông minh cho các em. 1.3.1.3. Ý nghĩa giáo dục: Rèn luyện đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học hóa học. 11 , Bài tập thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện văn hóa lao động: lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc. Thông qua việc vận dụng bài tập hóa học vào việc giải quyết một số vấn đề của thực tế nhƣ: môi trƣờng, nƣớc sạch ... các em sẽ có ý thức trách nhiệm hơn với xã hội, cộng đồng 1.3.2. Phân loại các dạng bài tập dùng trong dạy học môn Hóa học ở trường THCS: Bài tập hóa học dùng trong dạy học môn Hóa học ở trƣờng THCS có thể phân chia thành nhiều loại phụ thuộc vào nội dung, hình thức, kiến thức, mục đích, yêu cầu kiểm tra - đánh giá .... 1.3.2.1. Bài tập trắc nghiệm khách quan (câu hỏi trắc nghiệm) TNKQ là phƣơng pháp KT-ĐG kết quả học tập của HS bằng hệ thống câu hỏi TNKQ gọi là "khách quan" vì hệ thống cho điểm hoàn toàn khách quan không phụ thuộc vào ngƣời chấm. Khi làm bài HS chỉ lựa chọn đáp án đúng trong số các phƣơng án đã cho. Thời gian dành cho mỗi câu chỉ từ 1- 2 phút. * Các dạng câu hỏi TNKQ: Câu hỏi TNKQ có 4 dạng chính đƣợc trình bày trong sơ đồ sau: Câu TNKQ Câu điền khuyết Câu ghép đôi Câu đúng sai Câu nhiều lựa chọn Dạng 1 : Câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn. Phần câu dẫn : Là những câu hay phƣơng trình hoá học còn bỏ trống. Phần trả lời : Là những từ, những cụm từ, công thức hoá học… phải lựa chọn điền vào chỗ trống cho thích hợp * Ƣu điểm: HS không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra, tự tìm ra câu trả lời. Loại này dễ soạn hơn câu hỏi nhiều lựa chọn. * Nhƣợc điểm: Khi soạn loại câu này thƣờng dễ mắc sai lầm là ngƣời soạn thƣờng trích nguyên văn các câu từ SGK. Ngoài ra loại câu hỏi này thƣờng chỉ giới hạn vào chi tiết vụn vặt chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn những dạng câu hỏi TNKQ khác. 12 , Dạng 2 : Câu trắc nghiệm “ghép đôi.” Phần câu dẫn : ở cột I gồm một phần của câu (Câu chƣa hoàn chỉnh) hay một yêu cầu. Phần trả lời : ở cột II gồm phần còn lại của câu hoặc một đáp số mà ta phải chọn để ghép với cột I cho phù hợp. * Ƣu điểm: Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng loại này thích hợp với HS cấp THCS. Có thể dùng loại câu hỏi này để đo các mức trí năng khác nhau. Nó đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập các mối tƣơng quan. * Nhƣợc điểm: Loại câu hỏi trắc nghiệm ghép đôi không thích hợp cho việc thẩm định các khả năng nhƣ sắp đặt và vận dụng các kiến thức, để soạn loại câu hỏi này để đo mức trí nâng cao đòi hỏi nhiều công phu. Hơn nữa tốn nhiều thời gian đọc nội dung mỗi cột trƣớc khi ghép đôi của HS. Dạng 3: Câu trắc nghiệm "đúng, sai" Phần câu dẫn : Là một câu có nội dung cần phải xác định đúng hay sai Phần trả lời : Gồm chữ Đ và S, phải khoanh tròn khi xác định * Ƣu điểm: trắc nghiệm đúng sai là loại câu đơn giản dùng để trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện, vì vậy soạn loại câu hỏi này tƣơng đối dễ dàng, ít phạm lỗi, mang tính khách quan khi chấm. * Nhƣợc điểm: HS có thể đoán mò vì vậy độ tin cậy thấp, dễ tạo điều kiện cho HS học thuộc lòng hơn là hiểu, ít phù hợp với đối tƣợng HS giỏi. Dạng 4 : Câu trắc nghiệm có nhiều câu để lựa chọn Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn (hay câu hỏi nhiều lựa chọn) là loại câu đƣợc dùng nhiều nhất và có hiệu quả nhất. Một câu hỏi nhiều câu trả lời (câu dẫn) đòi hỏi HS tìm ra câu trả lời đúng nhất trong nhiều khả năng trả lời có sẵn, các khả năng, các phƣơng án trả lời khác nhau nhƣng đều có vẻ hợp lý (hay còn gọi là các câu nhiễu). Gồm hai phần Phần câu dẫn : Là một câu hỏi hoặc một câu chƣa hoàn thành. Câu dẫn phải đặt đƣợc câu hỏi, đƣa ra yêu cầu với HS hoặc đặt ra vấn đề cho HS giải quyết. Phần các khả năng, lựa chọn : Gồm 4 đến 5 phƣơng án trả lời , phải chọn phƣơng án đúng (hay đúng nhất, đầy đủ nhất). Khi soạn nên sắp xếp các lựa chọn theo một cách có nghĩa (theo kích thƣớc, thời gian, số thứ tự ,chữ cái...vv..) * Ƣu điểm: 13 , -GV có thể dùng loại câu hỏi này để KT-ĐG những mục tiêu dạy học khác nhau. Chẳng hạn nhƣ: Xác định mối tƣơng quan nhân quả, nhận biết các điều sai lầm, ghép các kết quả hay các điều quan sát đƣợc với nhau... -Dạng nhiều lựa chọn có độ tin cậy cao hơn, khả năng đoán mò hay may rủi ít hơn so với các loại câu hỏi TNKQ khác khi số phƣơng án lựa chọn tăng lên, HS buộc phải xét đoán, phân biệt kỹ trƣớc khi trả lời câu hỏi. - Tính giá trị tốt hơn với bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để chọn có thể đo đƣợc các khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật… rất có hiệu quả. - Thật sự khách quan khi chấm bài. Điểm số bài TNKQ không phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt của HS hoặc chủ quan của ngƣời chấm. * Nhƣợc điểm: - Loại câu này khó soạn và phải tìm cho đƣợc câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn lại gọi là câu nhiễu thì cũng có vẻ hợp lý. Ngoài ra phải soạn câu hỏi sao cho có thể đo đƣợc các mức trí nâng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu. - Không thoả mãn với những HS có óc sáng tạo, tƣ duy tốt có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn đáp án. - Các câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo đƣợc khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo kéo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu TNTL soạn kỹ. - Tốn kém giấy mực để in và mất nhiều thời gian để HS đọc nội dung câu hỏi. 1.3.2.2. Bài tập trắc nghiệm tự luận (câu hỏi tự luận) Trắc nghiệm tự luận là phƣơng pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công cụ đo lƣờng là các câu hỏi, khi làm bài HS phải viết câu trả lời, phải lý giải, lập luận chứng minh bằng ngôn ngữ của mình. Bài TNTL trong một chừng mực nào đó đƣợc chấm điểm một cách chủ quan, điểm bởi những ngƣời chấm khác nhau có thể không thống nhất. Một bài tự luận thƣờng có ít câu hỏi vì phải mất nhiều thời gian để viết câu trả lời. b. Các dạng câu hỏi TNTL. - Câu hỏi tự luận có sự trả lời mở rộng: loại câu này có phạm vi tƣơng đối rộng và khái quát HS đƣợc tự do diễn đạt tƣ tƣởng và kiến thức trong câu trả lời nên có thể phát huy óc sáng tạo và suy luận. 14
- Xem thêm -