Thiết kế cẩu xuồng trọng lực có bản lề di chuyển trên một ray dẫn hướng cho xuồng cứu sinh sức chứa 20 người

  • Số trang: 114 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 29 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

1 LỜI NÓI ĐẦU Từ xưa đến nay, khi con Người từng bước chinh phục biển cả, bên cạnh những thành công lớn trong việc tạo ra những con tàu có thể vượt đại dương hay những con tàu khai thác chuyên dùng có thể hoạt động dài ngày trên biển thì lịch sử Hàng Hải thế giới cũng phải chứng kiến những vụ tai nạn khủng khiếp mà hậu quả để lại là những vụ đắm tàu gây thiệt hại lớn về người và của. Ngày nay, tuy rằng chúng ta đã có được những con tàu có tính năng tốt và an toàn hơn nhưng không thể đảm bảo rằng những chiếc tàu đó sẽ không gặp các vấn đề bất ngờ nảy sinh như sự cố, tai nạn …vì tàu thủy hoạt là một công trình nổi và làm việc trong điều kiện hết sức khắc nghiệt trên biển. Do vậy, việc trang bị trên tàu những thiết bị cứu sinh nói chung và cẩu xuồng cứu sinh nói riêng là điều hết sức cần thiết. Cũng nhằm mục đích tìm hiểu nhiều hơn về vấn đề trên, do vậy cuối khóa học em đã nhận đề tài “thiết kế cẩu xuồng trọng lực có bản lề di chuyển trên một ray dẫn hướng cho xuồng cứu sinh sức chứa 20 Người”. Đây là loại cẩu xuồng trọng lực có bản lề và có con lăn di chuyển trên ray dẫn hướng. Đề tài được thực hiện với các nội dung: 1. Nhiệm vụ - Yêu cầu thiết kế. 2. Tính toán động lực học cẩu xuồng. 3. Tính toán các cơ cấu chính 4. Tính chọn các thiết bị phụ. 5. Sơ bộ tính giá thành sản phẩm. Trong thời gian tìm hiểu và thực hiện đề tài, em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Thái Vũ. Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Nguyễn Thái Vũ cùng các thầy trong khoa Kỹ thuật tàu thủy và khoa Cơ khí đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này. 2 Vì sự hiểu biết còn nhiều hạn chế và phải thực hiện trong thời gian ngắn, nên trong đề tài không thể tránh được những thiếu sót, rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn! Nha Trang, ngày 10 tháng 11 năm 2007 Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thanh Nghị 3 CHƯƠNG I NHIỆM VỤ - YÊU CẦU THIẾT KẾ I. TỔNG QUAN VỀ THIẾT BỊ CỨU SINH. I.1.Khái niệm về thiết bị cứu sinh. Thiết bị cứu sinh là tổ hợp các trang thiết bị cùng các cơ cấu dùng để cứu sống hành khách và thủy thủ khi tàu gặp nạn. Thiết bị cứu sinh bao gồm các phương tiện cứu sinh và các trang thiết bị phục vụ các phương tiện cứu sinh. Phương tiện cứu sinh là phương tiện nổi độc lập. Yêu cầu cơ bản của các phương tiện cứu sinh là đủ bền và dự trữ tính nổi để có thể cứu sống người gặp nạn ngoài biển. I.2.Phân loại thiết bị cứu sinh. Thiết bị cứu sinh được phân loại theo sơ đồ hình I.1: Hình I.1. Sơ đồ phân loại các thiết bị cứu sinh 4 I.3.Cẩu xuồng cứu sinh. 1. Khái niệm cẩu xuồng cứu sinh. Cẩu xuồng cứu sinh là thiết bị phục vụ cho xuồng cứu sinh. Cẩu xuồng cứu sinh có nhiệm vụ nâng - hạ xuồng cứu sinh với đầy đủ các trang thiết bị và người gặp nạn xuống nước cũng như nâng xếp xuồng lên boong. 2. Phân loại cẩu xuồng cứu sinh. Cẩu xuồng cứu sinh thường có ba loại cơ bản là: Cẩu xuồng quay, cẩu xuồng lắc và cẩu xuồng trọng lực. Ngoài ra còn có các loại cẩu xuồng đặc biệt khác như: Devon, Ros, Minhevit… Cẩu xuồng cứu sinh được phân loại theo sơ đồ hình I.2: Hình I.2: Phân loại cẩu xuồng 5 2.1. Cẩu xuồng quay. Cẩu xuồng quay có kết cấu giống như một cần trục côngxôn quay, được dùng nhiều trên các tàu nội thủy và các tàu nhỏ có xuồng cứu sinh đặt ở phần đuôi tàu. Mỗi xuồng có hai cẩu xuồng phục vụ. Cẩu xuồng quay có kết cấu đơn giản, dễ chế tạo, giá thành rẻ nhưng có nhược điểm là tầm với hạn chế, quay cần trục thường tiến hành bằng tay nên rất chậm và khó khăn khi góc nghiêng của tàu lớn. Vì vậy cẩu xuồng quay đến nay chỉ dùng với xuồng nhỏ có khối lượng không quá 500Kg. Cẩu xuồng quay có hai loại sau:  Loại có đế: Các ổ đỡ đặt trong đế, đế được liên kết chặt với boong tàu.  Loại không có đế: Các ổ đỡ được liên kết ngay vào thân tàu. 1 2 3 4 Hình I.3. Kết cấu cẩu xuồng quay 1.Cần; 3. Hệ palăng; 2. Xuồng; 4. Đế. 2.2.Cẩu xuồng lắc: Xuồng được đưa từ nơi đặt trên boong ra mạn hoặc ngược lại nhờ chuyển động lắc của cần cẩu xuồng. Cẩu xuồng lắc có nhiều loại, nhiều kiểu kết cấu và được sử dụng nhiều trên tàu. Ưu điểm cơ bản của cẩu xuồng lắc là: kết cấu đơn 6 giản, đảm bảo đủ tầm với, dễ hạ xuồng khi tàu nghiêng ngang lớn. Cẩu xuồng lắc thường dùng cho những xuồng có khối lượng không quá 2300Kg trên các tàu khách, tàu hàng khô và tàu dầu trọng tải nhỏ hơn 1600 (tấn), tàu nội thủy cũng sử dụng loại cẩu xuồng này. Cẩu xuồng lắc bao gồm các loại cơ bản sau: 2.2.1.Cẩu xuồng lắc cần thẳng. Cẩu xuồng lắc cần thẳng có kết cấu như hình I.4: 2 1 3 4 9 5 6 10 8 Hình I.4. Cẩu xuồng lắc cần thẳng Các bộ phận chính: 1. Cần; 6. Giá; 2. Thanh giằng; 7. Cột chống chéo; 3. Đai ốc; 8. Ổ chân cần; 4. Trục vít truyền động; 9. Móc cẩu; 5. Cơ cấu truyền động; 10. Tay quay. 7 7 2.2.2.Cẩu xuồng lắc kiểu Iolko. Cẩu xuồng lắc kiểu Iolko có kết cấu giống loại cần thẳng nhưng cơ cấu lắc cần hoàn thiện hơn. Cơ cấu này gồm hai trục vít truyền động liên hệ với nhau bằng thanh giằng có đai ốc ở hai đầu giống như tăng-đơ. Trục vít dưới liên kết bản lề với đỉnh giá có kết cấu một đầu mối ren với góc nâng không lớn. Trục trên lắp bằng bản lề với cần có kết cấu nhiều đầu ren và góc nâng lớn. Cần cẩu Iolko có nhiều ưu điểm và trước đây được dùng khá phổ biến. Trên các tàu hiện đại, cẩu xuồng Iolko có thể dùng để cẩu những xuồng cứu sinh sức chứa 20 Người. 1 2 7 3 6 5 4 Hình I.5. Cẩu xuồng lắc kiểu Iolko Các bộ phận chính: 1. Cần; 5. Cột chống chéo; 2. Cơ cấu lái; 6. Ổ chân cần; 3. Ròng rọc dẫn hướng; 7. Móc cẩu. 4. Giá; 2.2.3.Cẩu xuồng lắc cần cong. Cẩu xuồng lắc cần cong có kết cấu giống như cần thẳng nhưng cần được làm cong để lấy vị trí đặt xuồng. Hình dáng của cần được thiết kế tùy thuộc vào tuyến hình của xuồng. 8 6 1. Cần; 2. Cơ cấu lái cần; 3. Giá; 4. Cột chống chéo; 5. Ổ chân cần; 6. Hệ pa lăng. 1 4 2 3 Hình I.6. Cẩu xuồng lắc cần cong 2.2.4.Cẩu xuồng lắc có vòi: Có kết cấu như cẩu xuồng cần cong nhưng hệ palăng cẩu xuồng không lắp trực tiếp ở đầu cần mà lắp ở đầu vòi. Nhờ kết cấu hệ cần, vòi, dây giằng mà cẩu xuồng loại này có tầm với lớn và lúc đưa xuồng từ boong ra mạn, xuồng luôn di chuyển trên mặt phẳng nằm ngang. 6 1. Giá; 2. Cần; 3. Tời cẩu xuồng; 4. Cơ cấu lắc; 5. Thanh giằng giới hạn vòi; 6. Vòi; 7. Cáp nâng; 8. Móc khuyên. 5 7 8 4 2 3 Hình I.7. Cẩu xuồng lắc có vòi 1 9 2.3.Cẩu xuồng trọng lực. Hiện nay trên các đội tàu biển dùng nhiều cẩu xuồng trọng lực. Ưu điểm cơ bản của loại cẩu xuồng loại này là quá trình hạ xuồng, đưa xuồng từ boong ra mạn được tiến hành nhờ tự trọng của xuồng mà không cần tác động lực. Quá trình hạ xuồng có thể được tiến hành khi xuồng đầy người trong một thời gian rất ngắn. Cẩu xuồng trọng lực có sức chứa lớn, nó khắc phục được các nhược điểm của cẩu xuồng quay và cẩu xuồng lắc. Cẩu xuồng trọng lực bao gồm các loại cơ bản sau: 2.3.1.Cẩu xuồng có con lăn. Cẩu xuồng có con lăn di chuyển trên những đường ray dẫn hướng trên boong tàu. Ray dẫn hướng này có thể là một hoặc hai đường khác nhau. 1. Xuồng; 2. Cần ở vị trí hạ xuồng; 3. Dây giằng; 4. Cần ở vị trí đặt xuồng; 5. Dây cáp; 6. Ray dẫn hướng. Hình I.8. Cẩu xuồng có con lăn di chuyển trên một đường ray dẫn hướng 2.3.2.Cẩu xuồng có bản lề: Gồm hai loại, loại một và hai bản lề.  Loại một bản lề, quá trình đưa xuồng từ boong ra mạn được tiến hành bởi cần quay quanh bản lề ở ổ chân cần (Hình I.9)  Loại hai bản lề, quá trình đưa xuồng từ boong ra mạn phức tạp hơn. Đầu tiên tay đòn quay quanh bản lề sau đến vị trí tới hạn (tay đòn nằm trên mặt boong), sau đó cần quay quanh bản lề trước với tay đòn. (Hình I.10). 10 2 3 1 1. Cần; 2. Hệ palăng; 3. Xuồng; 4. Chốt; 5. Dây cáp; 6. Đế; 7. Giá. 6 7 5 4 Hình I.9 Cẩu xuồng trọng lực một bản lề 2 1 3 1. Cần; 2. Dây cáp; 3. Hệ palăng; 4 10 4. Xuồng; 5. Bản lề trước; 5 9 6. Tay đòn; 6 7. Đế; 8. Bản lề sau; 9. Tời; 8 7 10. Giá. Hình I.10. Cẩu xuồng trọng lực hai bản lề 2.3.3.Cẩu xuồng có con lăn và bản lề. Cẩu xuồng có con lăn và bản lề đưa xuồng ra mạn hoặc vào boong nhờ chuyển động phức tạp của cần - vừa chuyển động phức tạp trên những con lăn, vừa quay quanh các bản lề. (Hình I.11) 11 Hình I.11. Cẩu xuồng trọng lực có bản lề và con lăn Trong các loại cẩu xuồng trọng lực trên, cẩu xuồng có bản lề làm việc tin cậy, kết cấu đơn giản hơn cẩu xuồng có con lăn. Cẩu xuồng có hai bản lề có ưu điểm hơn một bản lề là các kích thước về chiều cao của chúng nhỏ hơn nhưng kết cấu của loại một bản lề lại đơn giản hơn. Ta thấy rằng, cẩu xuồng trọng lực chiếm ít diện tích mặt boong, tầm với lớn và có thể thả xuồng trong mọi điều kiện nghiêng, chúi hoặc mất ổn định của tàu. Kết cấu phức tạp, giá thành đắt. Nhưng vì yêu cầu an toàn cho tính mạng của con người trên biển là cao nhất nên cẩu xuồng trọng lực vẫn được sử dụng phổ biến, rộng rãi cho các đội tàu biển hiện nay. 2.4.Các loại cẩu xuồng khác. 2.4.1.Cẩu xuồng Devon. Cẩu xuồng Devon cho phép đưa người lên xuống xuồng ở bất kỳ vị trí nào. Các thao tác nâng hạ xuồng do một thủy thủ ở trong xuồng điều khiển. Cẩu xuồng 12 không cao nhưng chiếm diện tích lớn. Ưu điểm cơ bản của loại cẩu xuồng này là hệ thống liên kết xuồng, nhờ có hệ thống này mà xuồng không bị lắc khi tàu chòng chành . 1. Cáp nâng; 5. Xe con; 2. Áo phủ; 6. Tay đòn nhả dây; 3. Cần; 7. Ray dẫn hướng; 4. Thanh điều chỉnh tốc độ; 8. Dây điều chỉnh tốc độ hạ. Hình I.12. Cẩu xuồng Devon 2.4.2.Cẩu xuồng Vrenqdenhil. Cẩu xuồng Vrenqdenhil cho phép hạ xuồng khi tàu nghiêng ở bất cứ góc độ nào. Xe con mang xuồng có các bánh xe lăn theo mạn tàu xuống nước. Xuồng được giải phóng khỏi xe khi nó hoàn xuống nước. Hình I.13. Cẩu xuồng Vrenpdenhil 13 2.4.3.Cẩu xuồng Sectơ “Velin”. Cẩu xuồng loại này có cấu tạo sectơ ở phần dưới cần ăn khớp với thanh răng liên kết với boong. Chuyển động của cần được giới hạn bởi con lăn lăn theo ray dẫn hướng. Cẩu xuồng này có chiều cao nhỏ và tầm với lớn. 1. Sectơ; 2. Ray dẫn hướng; 3. Bánh xe. Hình I.14. Cẩu xuồng sectơ “Velin” 2.4.4.Cẩu xuồng Ros. Cẩu xuồng Ros làm việc có độ tin cậy cao hơn cẩu xuồng có con lăn thông thường, vì một trong hai con lăn được thay thế bằng bản lề. Do còn có con lăn nên loại cẩu xuồng này không dùng trên những loại tàu đi biển xa. 1. Con lăn; 2. Ray dẫn hướng; 3. Tay đòn. Hình I.15. Cẩu xuồng kiểu ROS 14 2.4.5.Cẩu xuồng Boizenburg. Để tăng tầm với đối với cẩu xuồng hai bản lề, cẩu xuồng của hãng Boizenburg có bản lề chân cần đưa ra ngoài đường sống xuồng. 1. Bản lề; 2. Thanh giới hạn tầm với. . Hình I.16. Cẩu xuồng của hãng Boizenburg 2.4.6.Cẩu xuồng Minhevit. Trên một vài tàu không thể bố trí cẩu xuồng trọng lực do hạn chế về chiều cao. Cẩu xuồng Minhevit có chiều cao không lớn hơn nhiều so với chiều cao xuồng. Tỉ số giữa tầm với và chiều cao cẩu xuồng thường đạt tới 1,5 lần. 1. Tay đòn; 2. Xuồng; 3. Giá kê xuồng; 4. Xilanh thủy lực. 4 Hình I.17. Cẩu xuồng Minhevit 15 II.NHIỆM VỤ-YÊU CẦU THIẾT KẾ. II.1.Nhiệm vụ và yêu cầu chung. Thiết kế là một quá trình làm việc mang tính sáng tạo của người kỹ sư dựa trên cơ sở lý thuyết đã có và yêu cầu của nhiệm vụ thư. Việc thiết kế phải đảm bảo có sự phù hợp giữa các đặc tính kỹ thuật như kích thước và khối lượng nhỏ, gọn, máy thiết kế phải có năng suất và hiệu quả cao, ít tốn năng lượng, độ chính xác và tính kinh tế cao…trong đề tài này, việc thiết kế được giới hạn trong “thiết kế cẩu xuồng trọng lực có bản lề di chuyển trên một ray dẫn hướng cho xuồng cứu sinh sức chứa 20 Người”, đây là loại cẩu xuồng trọng lực vừa có con lăn vừa có bản lề. Quá trình thiết kế gồm các bước cơ bản sau:  Chọn xuồng cứu sinh theo tiêu chuẩn sức chứa 20 người.  Tính toán tải trọng tác dụng lên cẩu xuồng trong hai trường hợp hạ xuồng và nâng xuồng.  Tính chọn các kích thước cơ bản ban đầu của cẩu xuồng.  Tính toán động lực học cẩu xuồng dựa trên tải trọng tác dụng lên cẩu xuồng và kích thước cẩu xuồng đã tính ở trên.  Kiểm tra kết cấu của cẩu xuồng trong những trường hợp nguy hiểm để đảm bào rằng trong quá trình hoạt động thì cẩu đủ bền và bố trí lắp đặt trên tàu sao cho phù hợp với chuyển động của cẩu xuồng và các thiết bị khác trên tàu.  Tính chọn thiết bị phụ cho cẩu xuồng.  Tính toán giá thành - kết luận. II.2.Yêu cầu khác khi tính toán thiết kế cẩu xuồng cứu sinh. 1. Những yêu cầu chung. 1.1. Đánh giá, thử nghiệm và duyệt các thiết bị cứu sinh. a. Thiết bị cứu sinh phải được cơ quan có thẩm quyền kiểm duyệt. b. Trước khi chấp nhận thiết bị cứu sinh mới, cơ quan có thẩm quyền phải xác nhận các phương tiện cứu sinh: 16 - Đã thử nghiệm để xác định rằng chúng thỏa mãn các yêu cầu đã được quy định, phù hợp với các khuyến nghị của các tổ chức. - Đã qua thử nghiệm thành công thỏa mãn các yêu cầu của chính quyền hành chính và các thử nghiệm đó về cơ bản là tương đương với những thử nghiệm quy định trong các khuyến nghị. - Có tiêu chuẩn an toàn ít nhất là tương đương với các yêu cầu đã được quy định và đánh giá thử nghiệm phù hợp với các khuyến nghị của các tổ chức. - Đã được đánh giá thử nghiệm thành công thỏa mãn các tiêu chuẩn của chính quyền hành chính và việc đánh giá thử nghiệm đó về cơ bản là tương đương với các khuyến nghị nói trên. c. Trước khi chấp nhận các trang thiết bị cứu sinh chưa qua chính quyền hành chính xét duyệt, chính quyền hành chính phải đảm bảo rằng các trang thiết bị cứu sinh đó thỏa mãn các yêu cầu đã được quy định. d. Các trang thiết bị cứu sinh không có các yêu cầu kỹ thuật cụ thể cho chúng thì phải thỏa mãn các yêu cầu của chính quyền hành chính. 1.2. Thử nghiệm khi chế tạo. Chính quyền hành chính phải yêu cầu các trang thiết bị cứu sinh được thử nghiệm và chế tạo theo đúng tiêu chuẩn mẫu đã xét duyệt. 1.3. Vật liệu chế tạo. - Được chế tạo với công nghệ và vật liệu thích hợp. - Không bị hư hỏng khi cất giữ trong khoảng thay đổi nhiệt độ không khí từ 30ºC đến 65ºC. - Làm việc tốt trong khoảng thay đổi nhiệt độ nước biển từ -1ºC đến 30ºC nếu chúng thường xuyên bị nhúng trong nước biển trong quá trình sử dụng. - Nếu để ngoài trời thì phải chịu được ảnh hưởng của điều kiện đó. - Phải được gắn vật liệu phản quang ở những vị trí mà việc dó sẽ trợ giúp cho việc tìm kiếm và những vị trí theo đề nghị của các tổ chức. 17 - Chính quyền hành chính phải xác định thời gian sử dụng của các trang thiết bị cứu sinh có xu hướng bị hư hỏng theo thời gian. 1.4. Vị trí lắp đặt. Vị trí lắp đặt cẩu xuồng phải được bố trí sao cho đảm bảo hạ phương tiện cứu sinh xuống nước được an toàn, sau khi đã lưu ý đến khoảng cách chân vịt của tàu và các phần nhô ra của thân tàu, đồng thời phải lưu ý đến các cẩu xuồng cứu sinh được thiết kế đặc biệt để hạ xuồng theo phương pháp rơi tự do. Phương tiện cứu sinh có thể hạ xuống nước ở vùng mạn phẳng của tàu. Nếu được bố trí ở trước tàu thì phải được bố trí sau vách chống va hoặc trong khu vực được bảo vệ. Các cơ quan có thẩm quyền đặc biệt quan tâm đến độ bền của thiết bị hạ. 1.5. Các chỉ dẫn khi sử dụng.  Phải có các bản hướng dẫn hoặc các ký hiệu ở trên hay gần các thiết bị cứu sinh và vị trí các thiết bị điều khiển hạ phương tiện cứu sinh.  Minh họa công dụng của các thiết bị điều khiển và trình tự sử dụng các thiết bị đó, nêu được các hướng dẫn hoặc lưu ý có liên quan.  Dễ nhìn thấy trong các điều kiện chiếu sáng, sự cố.  Dùng các ký hiệu phù hợp với các khuyến nghị của các tổ chức. 1.6. Hạ và kéo xuồng cứu sinh lên tàu. 1. Phải trang bị các thiết bị hạ thỏa mãn các yêu cầu của quy định cho tất cả các phương tiện cứu sinh. 2. Mỗi phương tiện cứu sinh phải được trang bị một thiết bị nâng hạ và ở trong trạng thái sẵn sàng làm việc có hiệu quả. 3. Các thiết bị để hạ và chuyển xuồng cứu sinh đó về chỗ cũ phải sao cho người sử dụng thiết bị đó ở trên tàu có khả năng quan sát được phương tiện cứu sinh trong suốt thời gian hạ và chuyển xuồng cứu sinh đó về trên tàu. 18 4. Đối với mọi phương tiện cứu sinh giống nhau được trang bị trên tàu chỉ được dùng một kiểu cơ cấu để giải phóng phương tiện. 5. Việc chuẩn bị và thao tác phương tiện cứu sinh tại trạm hạ bất kỳ không làm cản trở việc chuẩn bị và thao tác nhanh chóng phương tiện và xuồng cứu sinh. 6. Các cáp hạ nếu dùng phải có độ dài để phương tiện cứu sinh đạt tới mặt nước khi tàu ở trạng thái không tải nhỏ nhất, trong điều kiện chúi bất lợi và nghiêng ngang 20º về phía mạn bất kỳ. 7. Trong quá trình chuẩn bị và hạ phương tiện cứu sinh, thiết bị hạ đó và khu vực mặt nước hạ phải được chiếu sáng đầy đủ bằng các đèn lấy từ nguồn điện sự cố. 8. Phải có biện pháp ngăn ngừa nước trong tàu xả vào các phương tiện cứu sinh trong thời gian rời tàu. 9. Nếu có nguy cơ vây giảm lắc của tàu làm hư hỏng phương tiện cứu sinh đã được hạ, thì phải có thiết bị dừng từ nguồn năng lượng sự cố. Để thu các vây giảm lắc vào trong tàu, trên lầu lái phải có các dụng cụ chỉ báo việc dùng năng lượng sự cố để biết tư thế của các vây giảm lắc. 10. Nếu tàu được trang bị các xuồng cứu sinh thỏa mãn các yêu cầu của quy định thì phải có đây chằng giữa hai cần hạ xuồng, có kèm theo ít nhất là hai dây cứu sinh có đủ độ dài để đạt tới mặt nước khi tàu ở trạng thái không tải thấp nhất trong điều kiện chúi bất lợi và nghiêng ngang 15º về phía bất kỳ. 1.7. Sẵn sàng hoạt động, bảo dưỡng, kiểm tra. a. Sẵn sàng hoạt động: Trước khi rời cảng và tại mọi thời điểm trong quá trình hành trình, cẩu xuồng phải ở trạng thái sẵn sàng làm việc. b. Bảo dưỡng: Phải trang bị cho tàu các hướng dẫn về bảo dưỡng tại tàu các trang thiết bị cứu sinh theo yêu cầu của quy định chỉ dẫn và bảo dưỡng trên tàu. Các chỉ dẫn về bảo dưỡng trên tàu, các thiết bị cứu sinh phải dễ hiểu, minh họa ở những chỗ có thể được và ở mức độ thích hợp, bao gồm các vấn đề sau đây:  Bảng kê để sử dụng khi thực hiện kiểm tra  Chỉ dẫn về bảo dưỡng, sửa chữa. 19  Lịch bảo dưỡng định kỳ.  Sơ đồ những điểm cần bôi trơn và chất bôi trơn nên dùng.  Danh mục các chi tiết có thể thay thế được.  Danh mục các nguồn chi tiết dự trữ.  Sổ nhật ký để ghi nhận các đợt kiểm tra và bảo dưỡng. Thay cho các hướng dẫn trên, chính quyền hành chính có thể chấp nhận một chương trình bảo dưỡng theo kế hoạch do tàu đề ra theo các yêu cầu của quy định chỉ dẫn về bảo dưỡng trên tàu. c. Kiểm tra: - Kiểm tra hàng tuần: Hàng tuần phải tiến hành các đợt kiểm tra và thử nghiệm. Tất cả các phương tiện cứu sinh, thiết bị hạ phải được kiểm tra bằng mắt thường để tin tưởng rằng chúng đã sẵn sàng để sử dụng. - Kiểm tra hàng tháng: Việc kiểm tra các trang thiết bị cứu sinh phải tiến hành hàng tháng bằng cách sử dụng danh mục kiểm tra, để tin tưởng rằng chúng đều đầy đủ và ở trạng thái tốt nhất, kết quả kiểm tra phải ghi vào sổ nhật ký. 2. Yêu cầu của cẩu xuồng. a. Cẩu xuồng cùng với tất cả các máy móc để hạ và đưa thiết bị về chỗ cũ phải thiết kế sao cho phương tiện cứu sinh với đầy đủ các trang thiết bị có thể hạ xuồng xuống nước an toàn khi tàu nghiêng ngang 15º và nghiêng dọc 10º. b. Thiết bị hạ xuồng cứu sinh đối với từng loại tàu phải thỏa mãn các yêu cầu riêng của từng loại tàu đó. c. Thiết bị nâng hạ xuồng cứu sinh phải làm việc hiệu quả trong mọi trường hợp như tàu toàn tải, tàu không tải và tàu trong trường hợp sự cố. Nguồn năng lượng của xuồng phải độc lập với nguồn năng lượng của tàu để không bị ảnh hưởng về năng lượng khi tàu gặp sự cố. d. Cơ cấu hạ phải được thiết kế sao cho có thể khởi động bởi một người ở bên trong phương tiện cứu sinh. Người đứng bên trong boong đang điều khiển cơ cấu hạ phải nhìn thấy phương tiện cứu sinh đang hạ. 20 e. Mỗi cẩu xuồng phải có kết cấu sao cho việc bảo dưỡng cần thiết thường xuyên được giảm nhẹ đến khối lượng có thể. Tất cả các chi tiết cần được thuyền viên bảo dưỡng, phải dễ đến gần và dễ bảo dưỡng. f. Các phanh tời của thiết bị hạ có đủ độ bền để chịu được: - Thử tĩnh với tải trọng không ít hơn 1,5 lần tải trọng làm việc tối đa. - Thử động với tải trọng không ít hơn 1,1 lần tải trọng làm việc tối đa ở tốc độ tối đa. g. Thiết bị hạ và các phụ kiện của nó trừ các phanh tời phải có đủ độ bền để chịu được thử tĩnh với tải trọng bằng 2,2 lần tải trọng làm việc tối đa. Ngoài các phụ tùng và các thiết bị sửa chữa của cẩu xuồng phải được trang bị đầy đủ, các thành phần có khả năng chịu hao mòn quá mức hoặc bị thanh lý và cần phải thay thế thường xuyên. h. Các thành phần kết cấu và tất cả các ròng rọc, dây cáp hạ, dây chằng, các tay vấu, các móc nối và tất cả các phụ tùng khác được thiết kế với hệ số an toàn không nhỏ hơn hệ số an toàn tối thiểu, trên cơ sở tải trọng làm việc tối đa và độ bền tới hạn của vật liệu được sử dụng để chế tạo. Phải lấy hệ số an toàn tối thiểu bằng 3 cho cáp hạ, xích mắc nối và ròng rọc. i. Mỗi cẩu xuồng phải duy trì được khả năng làm việc hiệu quả trong điều kiện băng giá đến mức độ có thể thực hiện được. j. Việc bố trí cẩu xuồng phải sao cho người có thể vào phương tiện cứu sinh một cách an toàn. k. Các dây hạ xuồng phải là dây cáp thép kiểu không xoắn và không gỉ và được đổi đầu vào khoảng thời gian không quá 30 tháng và phải được thay đổi mới khi cần thiết như bị hư hỏng, không quá 5 năm sử dụng. l. Trong trường hợp tời có nhiều trống tang trừ khi có lắp đặt cơ cấu bù trừ có hiệu quả, các dây cáp được bố trí sao cho chúng tách ra khỏi các trống tang với cùng một tốc độ hạ và quấn vào các trống tang một cách đều đặn với cùng một tốc độ khi nâng.
- Xem thêm -