Thiên nhiên trong thơ chữ hán nguyễn du

  • Số trang: 152 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 108 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thu Trang THIÊN NHIÊN TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Trần Thu Trang THIÊN NHIÊN TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHAN CÔNG KHANH Thành phố Hồ Chí Minh – 2012 1 LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ Ngữ văn, chuyên ngành Văn học Việt Nam. Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình - nguồn sức mạnh to lớn, giúp tôi đi hết chặng đường vừa qua. Tôi cũng xin được cảm ơn các Thầy, Cô khoa Ngữ Văn, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã dạy dỗ, dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập. Xin được bày tỏ lời tri ân đến Cô Lê Thu Yến - người đã mang lại cho tôi nguồn cảm hứng và tình yêu thơ chữ Hán Nguyễn Du, đồng thời cũng là người gợi ý tôi đến với đề tài này. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Thầy Phan Công Khanh, người đã luôn tận tình chỉ bảo, dạy dỗ định hướng nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Cuối cùng, xin cảm ơn BGH Trường THCS – THPT Ngôi Sao, tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã ủng hộ, tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn. Xin trân trọng cảm ơn! 2 Trang phụ bìa MỤC LỤC Lời cảm ơn Mục lục MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 4 1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................... 4 2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................................ 7 3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................... 11 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 11 5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 12 6. Cấu trúc của luận văn............................................................................................... 12 Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ............................................................................ 14 1.1. Nguyễn Du và thơ chữ Hán của Nguyễn Du ............................................................ 14 1.1.1. Nguyễn Du ......................................................................................................... 14 1.1.1.1. Thời đại ....................................................................................................... 14 1.1.1.2. Thân thế và cuộc đời Nguyễn Du ............................................................... 16 1.1.2. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du ............................................................................ 20 1.2.Thiên nhiên trong thơ trung đại ................................................................................. 29 1.2.1. Thiên nhiên trong thơ thiền thời Lý – Trần ( thế kỷ X- XIV) ........................... 31 1.2.2. Thiên nhiên trong thơ thời Lê (thế kỷ XV) ........................................................ 34 1.2.3. Thiên nhiên trong thơ từ thế kỷ XVI - nửa đầu thế kỷ XVIII............................ 37 1.2.4. Thiên nhiên trong thơ từ nửa sau thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX .............. 40 CHƯƠNG 2 : TỪ CẢM THỨC THIÊN NHIÊN ĐẾN TÂM SỰ VÀ TRIẾT LÝ VỀ CUỘC ĐỜI CỦA NGUYỄN DU ........................................................................................ 43 2.1. Cảm thức thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du .............................................. 43 2.1.1. Thiên nhiên mang màu sắc đạm bạc, tĩnh lặng .................................................. 46 2.1.2. Thiên nhiên gần gũi, hiền hòa ............................................................................ 53 2.1.3. Thiên nhiên dữ dội, nguy hiểm .......................................................................... 60 2.2. Thiên nhiên và tâm trạng của Nguyễn Du ................................................................ 66 2.2.1. Thiên nhiên và tâm trạng u buồn ....................................................................... 67 2.2.3. Thiên nhiên và tâm trạng cô đơn ....................................................................... 73 2.2.4. Thiên nhiên và tâm trạng băn khoăn, trăn trở, day dứt ...................................... 82 2.3. Thiên nhiên và triết lí về cuộc đời của Nguyễn Du .................................................. 90 3 CHƯƠNG 3 : NGHỆ THUẬT MIÊU TẢ THIÊN NHIÊN TRONG THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU ...................................................................................................................... 97 3.1. Hình ảnh .................................................................................................................... 97 3.1.1. Hình ảnh ước lệ, tượng trưng ............................................................................. 97 3.1.2. Hình ảnh gần gũi, giản dị, mộc mạc ................................................................ 103 3.2.Giọng điệu................................................................................................................ 108 3.3 . Bút pháp ................................................................................................................. 119 3.3.1 Miêu tả chân thực.............................................................................................. 119 3.3.2. Tả cảnh ngụ tình .............................................................................................. 125 KẾT LUẬN........................................................................................................................ 132 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 134 PHỤ LỤC ........................................................................................................................ 139 4 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Nhắc đến Nguyễn Du – đại thi hào của dân tộc, nhiều người chỉ nhớ đến Truyện Kiều mà quên rằng thơ chữ Hán cũng là một công trình có giá trị to lớn. Chúng ta sẽ thật sự thiếu sót nếu chỉ nói đến Truyện Kiều như một đỉnh cao chói lọi mà quên dành cho thơ chữ Hán một sự quan tâm và vị trí xứng đáng. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du, theo giáo sư Mai Quốc Liên “là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa”. (Lời nói đầu, Nguyễn Du toàn tập, Tập 1, Nxb Văn học, 1996). Chữ Hán là loại chữ tượng hình, bản thân nó mang những kí hiệu tượng trưng, gợi nghĩa. Mỗi bài thơ chữ Hán là một không gian mang tính hội họa và gợi mở về thế giới hiện thực – thế giới cảm xúc. Chính vì vậy mà thơ chữ Hán khó đến với người đọc, mặc dù với Nguyễn Du, đây thật sự là quyển nhật kí về cuộc đời cũng như bản thân ông. Những tư tưởng, tình cảm, trăn trở và day dứt trong tâm hồn được thi nhân bộc lộ rõ trong 3 tập thơ chữ Hán. 1.2. Để tìm hiểu giá trị thơ chữ Hán, mỗi người có thể chọn cho mình một phương diện, một khía cạnh nào đó. Có người nghiên cứu giọng điệu nghệ thuật, có người tìm hiểu vấn đề tâm linh trong thơ chữ Hán, một số khác muốn khám phá về những nổi niềm trắc ẩn của Nguyễn Du thể hiện trong thơ hay con đường hoạn lộ mà ông đã trải qua. Chúng tôi chọn thiên nhiên làm đối tượng nghiên cứu của mình. Từ xưa, trong cái nhìn của con người, thiên nhiên là cả nguồn sống vô cùng phong phú. Đến với thiên nhiên, vô vàn cảnh đẹp hiện ra. Đó là nguồn chất liệu quý trong sáng tạo nghệ thuật, mà văn học không phải là một ngoại lệ. Con người sáng tác văn học, cảm thụ vẻ đẹp của thiên nhiên trước tiên bằng các giác quan của mình. Sau đó, qua hệ thống ngôn ngữ và bằng cách sử dụng ngôn ngữ, họ sẽ trau chuốt, tô vẽ lại bức tranh thiên nhiên và đưa vào tác phẩm của mình. Thiên nhiên hiện ra trong văn học bằng chính cái vốn có của nó như màu sắc, âm 5 thanh, hương vị, dáng vẻ… nhưng ẩn sau chất hiện thực ấy, thiên nhiên còn là “trung tâm phát sóng” của tâm hồn. Việc phát hiện ra những vẻ đẹp, những mực thước, khuôn mẫu và quy cách trong các hiện tượng thiên nhiên là cả một quá trình tìm tòi, nghiên cứu, hoạt động tích cực, đòi hỏi người ta phải làm bằng cả con tim và khối óc, cả tình cảm và trí tuệ. Như vậy, thiên nhiên gắn chặt với văn học, không thể hình dung văn học sẽ thế nào nếu thiếu vắng thiên nhiên. Xin lấy văn học Việt Nam như một minh chứng. Thiên nhiên có mặt khắp mọi nơi trong văn học nước ta, từ văn học truyền miệng cho đến văn học viết. Thần thoại cắt nghĩa thiên nhiên vô cùng ngộ ngĩnh: thần trụ trời móc đất đá xây trụ đội trời lên, rồi bỗng dưng vứt chúng tung tóe trên mặt đất để thành núi, thành gò và chỗ bị móc lại thành hồ thành sông… Cổ tích Trầu cau tìm thấy tình cảm anh em, vợ chồng tượng trưng trong đá vôi, dây trầu và cây cau. Tục ngữ lại càng ẩn chứa những bài học muôn đời bằng hình ảnh thiên nhiên:“Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”; “Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng giật bão”. Còn trong văn học viết thì bức tranh thiên nhiên hiện ra vô cùng phong phú, và đa dạng. Lần giở lại các tập thơ của những nhà thơ thiền thời Lý – Trần, thiên nhiên hiện diện trên khắp trang thơ. Đến với Nguyễn Trãi, ta không thể quên hình ảnh mưa thu rơi nhẹ trên khóm trúc, đầu nhà ai làn gió xuân mát nhẹ thổi ngang bình dị, thanh tao mang theo hương lan thoang thoảng: Mưa thu tưới ba đường cúc Gió xuân đưa một lãnh lan (Ngôn chí, 16) Văn học cổ điển đã vậy, văn học lãng mạn cũng đắm mình trong thiên nhiên. Trách móc vu vơ thật ra là mời mọc về chơi thôn Vĩ, nơi có cảnh đẹp mà người cũng nên thơ: Sao anh không về chơi thôn Vĩ Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc 6 Lá trúc che ngang mặt chữ điền (Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử) Văn học cách mạng, hướng tới lí tưởng chiến đấu giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống độc lập, tự do cho đất nước, tưởng ít gặp gỡ thiên nhiên, thực ra không phải vậy. Có lúc người ta nghĩ rằng làm cách mạng thì không còn biết yêu trăng hay yêu sự yên tĩnh của một dòng sông. Nhưng trong kháng chiến gian lao, người ta vẫn không quên dành tình cảm cho những vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên. Hồ Chí Minh đã từng vẽ nên một khung cảnh thật đẹp, nơi đó có con thuyền về giữa đêm trăng sáng của mùa xuân: Rằm xuân lồng lộng trăng soi Sông xuân nước lẫn màu trời đêm xuân Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền (Rằm tháng Giêng – Hồ Chí Minh) Đi qua mọi thời đại, thiên nhiên vẫn luôn là một thứ nam châm có sức hút vô cùng mạnh mẽ đối với tâm hồn nhạy cảm của các thi nhân. Nguyễn Du – đại thi hào dân tộc – cũng không nằm ngoài quy luật thẫm mỹ ấy. Đến với đề tài “Thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du”, người viết biết rằng đây không phải là một công việc dễ dàng. Chúng tôi đến với đề tài này từ sự trân trọng, cảm mến tài năng của Nguyễn Du, từ lòng yêu thích của bản thân đối với thơ ca Nguyễn Du và đặc biệt là ba tập thơ chữ Hán của thi nhân. Tuy nhiên, công việc này chỉ có lòng yêu thích và sự say mê thôi thì chưa đủ. Bởi thiên nhiên trong 3 tập thơ không chỉ đơn thuần là bức tranh phong cảnh của thế giới khách quan mà đằng sau nó chứa đựng biết bao tâm sự, day dứt, trăn trở và băn khoăn của thi nhân, để hiểu được tất cả những điều đó không phải đơn giản, đây chính là thách thức đối với người nghiên cứu. Với trình độ và đặc biệt là vốn kiến thức về chữ Hán có hạn, chúng tôi đến với đề tài này bằng tinh thần học hỏi, mong muốn thử sức mình để góp một phần nhỏ bé trong quá trình tìm hiểu về giá trị thơ chữ Hán Nguyễn Du. 7 Trên đây là những lý do chúng tôi chọn đề tài Thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. 2. Lịch sử vấn đề Trong nền văn học dân tộc, Nguyễn Du là nhà thơ hàng đầu có nhiều đóng góp to lớn. Cho nên, đã có rất nhiều người nghiên cứu về sáng tác của ông. Tuy nhiên, theo sự tìm hiểu của chúng tôi thì do mục đích của các công trình chi phối nên vẫn chưa có một nghiên cứu nào chuyên biệt nào đi sâu vào tìm hiểu về thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Một số nhà nghiên cứu có đề cập đến những khía cạnh nhất định như Lê Trí Viễn, Lê Thu Yến, Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, Nguyễn Thị Huyền Thương… Trong công trình Đặc điểm nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du (Lê Thu Yến, Nxb Thanh niên, 1997) khi viết về không gian nghệ thuật tác giả có đề cập đến một số khía cạnh thiên nhiên. Trên bình diện không gian nhỏ hẹp, tác giả nhắc đến vẻ lạnh lùng, vô tình của thiên nhiên với thi nhân. Con người luôn khát khao được nhìn thấy vẻ tươi sáng rạng ngời của trăng, của ngày xuân nhưng phần nhận được chỉ là bóng cây xanh trùng điệp và đầy âm u. Nguyễn Du yêu mùa xuân nhưng nó không thuộc về ông, thiên nhiên và thi nhân dường như có một khoảng cách rất xa, xung quanh căn nhà của thi nhân bao phủ một màu xanh của sắc núi, sắc xanh âm u không chút ánh sáng; ngoài cửa có hoa cúc vàng tươi những tưởng sẽ ăn được nhưng thực tế không phải vậy… Trong bình diện không gian rộng lớn, tác giả có chỉ ra tất cả những địa điểm mà Nguyễn Du đi qua, đường ra phía Nam, đường lên phía Bắc và trên hành trình của con người không nơi nào mà không có hình ảnh của thiên nhiên. Tuy nhiên, thiên nhiên không phải là người bạn thân tình, sẻ chia mà ngược lại đó là sự mù mịt, tối tăm của gió, bụi, cát, đất, sắc đêm, khí trời, bóng mây, sương khói và đặc biệt nhất là cái lạnh. Lê Thu Yến đã thống kê có đến 47 lần Nguyễn Du nhắc đến cái lạnh để thấy được thiên nhiên khắc nghiệt như thế nào và chính nó đã làm cho con người vốn đã cô đơn càng thêm chạnh lòng… Thiên nhiên như nhấn chìm tất cả những gì tươi đẹp nhất. 8 Qua bài viết tác giả còn khẳng định, Nguyễn Du không hòa mình với thiên nhiên mà xem đó như là đối tượng để khám phá, để ngắm nhìn; ông từ chối hòa nhập với thiên nhiên. Điều này cho thấy thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du có nhiều điểm khác biệt với thiên nhiên trong thơ ca trung đại. Trong bài viết “Thơ thu Nguyễn Du” (Kỷ yếu khoa học 1998, Khoa ngữ văn, Đại học sư phạm TPHCM), Lê Thu Yến đã tìm hiểu về hình ảnh thu trong 3 tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Người viết nhìn nhận mùa thu từ nhiều góc độ khác nhau và cho rằng mùa thu và thi nhân có sự đồng điệu. Tác giả phân tích vẻ đẹp của mùa thu thông qua hai hình ảnh hoa cúc và rừng phong. Không chỉ nhìn vẻ đẹp của mùa thu mà người viết còn nhìn thấy cái xơ xác tàn tạ, thê lương của mùa thu qua hình ảnh gió thu và cỏ thu. Với Nguyễn Du, thu biểu trưng cho sự mất mát, buồn đau. Cuối cùng, mùa thu và thi nhân vẫn song hành, đôi khi có chỗ gặp nhau nhưng vẫn không thể hòa hợp. Lê Trí Viễn với bài viết “Thơ xuân Nguyễn Du” (Một đời dạy văn, viết văn, Tập 2,, Nxb Giáo dục, 2010) cũng đã thống kê được 12 bài thơ viết về mùa xuân trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và cũng khẳng định, xuân trong thơ chữ Hán Nguyễn Du thưa thớt và đượm buồn. Qua việc khái quát nội dung chính của một số bài thơ như Quỳnh Hải nguyên tiêu, Xuân nhật ngẫu hứng, Thanh Minh ngẫu hứng , Xuân dạ, Mộ xuân mạn hứng vv…, tác giả nhận xét xuân trong thơ Nguyễn Du chỉ toàn là xuân đêm, xuân muộn, xuân xa nhà, xuân nhớ thương. Tất cả những bài thơ về xuân có nội dung hầu như không thay đổi: nỗi buồn xa nhà, anh em chia lìa, bản thân cô đơn, nghèo túng, mỗi ngày một già đi, hùng tâm tráng chí nguội lạnh theo năm tháng. Nói tóm lại, xuân là ngày vui mà thơ xuân Nguyễn Du luôn mang đến cho người đọc nỗi buồn man mác không nguôi. Nguyễn Phúc Vĩnh Ba trong “Xuân tha hương trong thơ chữ Hán của đại thi hào Nguyễn Du” (Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, http://vietsciences.free.frr, 10/2008) cũng đề cập đến một khía cạnh nhỏ về thiên nhiên, đó là hình ảnh mùa xuân. Người viết thống kê trong 249 bài thơ chữ Hán qua ba tập thơ Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục, Nguyễn Du đã dùng tới 40 từ “xuân” đi cùng 9 với các từ hàn, bệnh, vũ ,... gợi nên một trường cảm xúc khá bi đát. Trong 4 bài thơ được đặt nhan đề có từ xuân (Xuân nhật ngẫu hứng, Xuân dạ, Xuân tiêu lữ thứ, Mộ xuân mạn hứng), Nguyễn Du đều bày tỏ một nỗi buồn sâu lắng, âm ỉ khi phiêu bạc ở đất khách quê người. Nguyễn Thị Huyền Thương với luận văn thạc sĩ “Con người nhân văn trong tiến trình văn học trung đại qua thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du” (2010, Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh) cũng đề cập đến thiên nhiên trong thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Trong công trình này, người viết nhận định thiên nhiên trong thơ Nguyễn Du bao giờ cũng giữ vai trò làm nền để thi nhân bộc lộ nỗi lòng. Tâm trạng thường thấy của Nguyễn Du chính là nỗi buồn. Dưới con mắt của thi nhân cảnh vật nào cũng đượm buồn: ánh trăng, mùa thu. Ngay cả mùa xuân cũng không có được chút gì đó tươi sáng. Từ đó tác giả kết luận: Nguyễn Du đến với thiên nhiên không giống như một số nhà thơ trung đại khác. Nếu như Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về thiên nhiên như một môi trường để di dưỡng tinh thần, giữa người và cảnh có mối giao hòa đến khăng khít, thì với Nguyễn Du, thiên nhiên là môi trường để con người suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời và bản thân, cho nên thiên nhiên thường hiện lên trong buồn bã, chật hẹp, u tịch như chính cõi lòng của thi nhân. Cuối cùng là bài viết “Thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du” (Tạp chí nghiên cứu văn học số 5, 2010) cũng của tác giả Lê Thu Yến – tuy đây là bài viết ngắn gọn, cô đọng nhưng có sức khái quát về thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Trong bài viết, tác giả nhận định:“Thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du đầy thi vị, sinh động và gợi tình”. Khi được Nguyễn Du đưa vào thơ, thiên nhiên vẫn giữ được đặc điểm vốn có, đó là nét ban sơ, hoang dã và tồn tại một cách độc lập. Tuy nhiên ngoài việc phản ánh thế giới khách quan, thiên nhiên vẫn mang nét nhân tính phản ánh tâm trạng con người. Lê Thu Yến cũng khẳng định thiên nhiên có hai mặt hiền hòa, tươi đẹp – lạnh lùng, tàn nhẫn và dữ dội. Điều này được thể hiện cụ thể bằng nhiều hình ảnh khác nhau: mùa xuân, mùa thu, vầng trăng, núi 10 non, dòng sông… Trong bài viết, tác giả cũng chỉ ra sự khác biệt khi miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du so với các nhà thơ trung đại khác như Cao Bá Quát hay Không Lộ thiền sư, và nhà thơ Lý Bạch của Trung Quốc. Nét khác nhau căn bản nhất là nếu như các nhà thơ khác luôn hòa mình vào thiên nhiên, được thiên nhiên lắng nghe, thông cảm và sẻ chia thì ở Nguyễn Du, thiên nhiên luôn vô tình và lạnh lùng, cả hai song hành nhưng chưa bao giờ hòa hợp làm một. Chính điều này đã làm nên sự khác biệt giữa thơ Nguyễn Du với thơ trung đại nói chung. Ông đã biết kế thừa và phát triển cách miêu tả thiên nhiên của thế hệ trước tạo nên nét đặc trưng riêng của mình. Từ ý kiến của các nhà nghiên cứu trên, chúng tôi có thể rút ra một vài nhận xét như sau: Thứ nhất, thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du rất sinh động. Ông đã thâu tóm vào thơ của mình mọi biểu hiện của thiên nhiên: cảnh vật khi xuân về, khi thu sang, một áng mây, một buổi chiều, một ngọn gió… đều được Nguyễn Du quan sát và cảm nhận thật tinh tế. Thứ hai, bức tranh thiên nhiên được Nguyễn Du cảm nhận ở hai mặt đối lập. Ông phát hiện ra vẻ đẹp vô cùng xinh tươi, lung linh và duyên dáng của thiên nhiên. Ngoài vẻ đẹp vốn có, thiên nhiên tồn tại một cách khách quan và độc lập. Trong cái nhìn của Nguyễn Du, thiên nhiên cũng dữ dội, nguy hiểm và đáng sợ. Thứ ba, thiên nhiên trong thơ cụ Nguyễn đẹp nhưng buồn. Điều này có lẽ bắt nguồn từ cái nhìn chủ quan của tác giả. Bản thân thi nhân là một con người mang nhiều ưu tư, day dứt và trăn trở với cuộc đời. Với ông, cuộc đời là chuỗi dài đằng đẵng những tháng ngày cô đơn, bệnh tật, đói rét, tha hương … Tất cả như thấm vào trong thơ. Bởi thế đọc thơ Nguyễn Du lúc nào cũng thấy nỗi buồn man mác hiện hữu. Chúng tôi cho rằng những nhận xét, đánh giá trên đây là khá thú vị và thuyết phục. Tuy nhiên, do đặc điểm, mục đích và tính chất riêng của các công trình nên ý kiến của các nhà nghiên cứu chỉ dừng lại ở một vài nhận xét chung chung mang tính khái quát hoặc một vài khía cạnh nhỏ hẹp của vấn đề. 11 Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào tìm hiểu vấn đề mà chúng tôi đặt ra trong luận văn. Đối với chúng tôi, tất cả ý kiến trên đều có ý nghĩa trong việc tham khảo để lựa chọn đề tài. Tuy vậy, người viết luận văn cũng có mục đích riêng. Chúng tôi xem xét thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du trên nhiều phương diện như: cảm thức của Nguyễn Du về thiên nhiên, thiên nhiên và tâm sự của Nguyễn Du, thiên nhiên và triết lí về cuộc đời của Nguyễn Du, Ngoài ra, chúng tôi cũng quan tâm đến phương diện nghệ thuật khi miêu tả thiên nhiên của Nguyễn Du. 3. Mục đích nghiên cứu Ở đề tài này, mục đích của người viết là đi vào tìm hiểu bức tranh phong cảnh và nỗi niềm tâm sự của tác giả được gửi gắm qua những hình ảnh thiên nhiên trong thơ chữ Hán. Bên cạnh đó chúng tôi có so sánh với thiên nhiên trong thơ của một số tác giả trung đại để thấy được những điểm giống và khác của Nguyễn Du khi viết về đề tài này. Cuối cùng, chúng tôi nghiên cứu nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong thơ Nguyễn Du trên ba bình diện: hình ảnh, bút pháp và nghệ thuật sử dụng từ ngữ; qua đó, chỉ ra được những điểm kế thừa và phát triển của Nguyễn Du trong cách miêu tả thiên nhiên so với các tác giả trung đại, từ đó góp phần tôn vinh giá trị thơ chữ Hán và hiểu thêm về thế giới tâm hồn và tài năng của đại thi hào Nguyễn Du. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng khảo sát: Đối tượng mà đề tài khảo sát là các bài thơ có trong ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du gồm: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc hành tạp lục (Nxb Quốc học). Bên cạnh đó, chúng tôi cũng so sánh thơ thiên nhiên của một số tác giả có nội dung liên quan để thấy được điểm tương đồng và dị biệt trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Phạm vi khảo sát, nghiên cứu: đề tài chú trọng khảo sát 175 bài thơ chữ Hán có hình ảnh thiên nhiên. Từ đó phân tích, bình luận và đưa ra một số đánh giá, nhận xét về cách miêu tả thiên nhiên của đại thi hào Nguyễn Du. 12 5. Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành đề tài một cách khoa học và hợp logic, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp: Phương pháp phân tích – tổng hợp: được sử dụng với tư cách là phương pháp chủ yếu để nghiên cứu đặc điểm thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du và rút ra các kết luận. Phương pháp này được vận dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận văn với ý nghĩa chủ đạo trong quá trình lựa chọn cũng như phân tích, bình giá vấn đề. Phương pháp lịch sử - cụ thể: bất cứ loại hình nghệ thuật nào cũng xuất phát từ thực tế cuộc sống. Điều này đã được nói rõ trong phản ánh luận của chủ nghĩa Mác–Lênin. Các sáng tác của Nguyễn Du cũng có cội rễ từ hiện thực lịch sử và đặc trưng thời đại của Nguyễn Du. Đây là phương pháp được sử dụng để tìm hiểu sự chi phối của thời đại, hoàn cảnh đối với Nguyễn Du và thơ ca của ông. Phương pháp so sánh – chiếu đối : dùng để làm rõ đặc điểm của đối tượng nghiên cứu trong mối tương quan với một số hiện tượng văn học khác. Cụ thể trong luận văn này, chúng tôi có so sánh thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du với thiên nhiên của các nhà thơ trung đại như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến… để thấy được những điểm kế thừa và phát triển khi viết về thiên nhiên của Nguyễn Du. Phương pháp thống kê: được sử dụng như một phương pháp bổ trợ để làm tăng sức thuyết phục cho những kết luận rút ra sau khi nghiên cứu. 6. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm có 3 chương: Chương 1: Những vấn đề chung 1.1. Nguyễn Du và thơ chữ Hán 1.2. Thiên nhiên trong thơ trung đại Chương 2: Từ cảm thức thiên nhiên đến tâm trạng và triết lý về cuộc đời của Nguyễn Du 13 2.1. Cảm thức thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du 2.2. Thiên nhiên và tâm trạng của Nguyễn Du 2.3. Thiên nhiên và triết lí về cuộc đời của Nguyễn Du Chương 3: Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong thơ chữ Hán Nguyễn Du 3.1. Hình ảnh 3.2. Giọng điệu 3.3. Bút pháp 14 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. Nguyễn Du và thơ chữ Hán của Nguyễn Du 1.1.1. Nguyễn Du 1.1.1.1. Thời đại Nguyễn Du sinh ra và lớn lên trong một thời đại vô cùng rối ren của xã hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, một thời kì bão táp trong lịch sử dân tộc với những thay đổi khôn lường. Bức tranh toàn cảnh phong kiến thời Lê mạt–Nguyễn sơ đầy rẫy những biến động, chế độ phong kiến tập quyền ngày càng lộ rõ nhiều ung nhọt. Đặc điểm nổi bật của lịch sử nước ta thời kì này là chế độ phong kiến bước vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng, không có lối thoát. Chiến tranh giữa các phe phái không khác nào một nạn dịch lớn. Tiêu biểu là cuộc đối đầu giữa họ Trịnh ở Đàng Ngoài và họ Nguyễn ở Đàng Trong kéo dài hơn hai thế kỷ. Khủng hoảng bắt đầu từ Đàng Ngoài rồi lan rộng ra cả nước. Chiến tranh kéo dài khiến cuộc sống của người dân lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn: mất mùa, tô thuế nặng nề, đói kém xảy ra liên tiếp. Làng xóm trở nên tiêu điều, người nông dân phải tha phương cầu thực khắp nơi. Đàng Ngoài hình thành cơ chế “Vua Lê chúa Trịnh”. Vua chúa thường lo việc ăn chơi hơn là việc trị nước. Có thể nói chính quyền phong kiến giai đoạn này, từ trung ương đến địa phương đều thối nát, tệ tham nhũng và hối lộ ngày càng trầm trọng. Ở Đàng Trong, những mâu thuẫn vốn có của chế độ phong kiến dần trở nên gay gắt. Từ giữa thế kỷ XVIII, Đàng Trong bắt đầu rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng. Năm 1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng vương, tổ chức lại bộ máy nhà nước. Các gia đình quan lại, quý tộc cũng đua nhau xây dựng dinh thự, đua nhau chơi bời xa xỉ. Chính trị thối nát, nhân dân lầm than. Xã hội phong kiến Việt Nam đã đi vào con đường tự sụp đổ không thể cứu vãn. Giai cấp thống trị ngày càng tự đào hố chôn mình, giai cấp bị trị rơi vào cảnh 15 bần cùng, khốn khổ. Trước tình hình đó, mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt. Người dân không chịu đựng cuộc sống như cũ. Mọi tầng lớp nhân dân đều mong muốn thay đổi hoàn cảnh hiện tại. Họ chỉ có một con đường duy nhất là nổi dậy chống chính quyền phong kiến đòi hỏi những quyền lợi chính đáng cho bản thân. Các phong trào khởi nghĩa nông dân chống triều đình phong kiến bùng nổ mạnh mẽ và dữ dội. Ở Đàng Ngoài, từ cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII, nông dân nhiều nơi đã nổi dậy cướp phá nhà giàu. Có thể kể đến các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của Nguyễn Danh Phương, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Công Chất…Cuộc chiến đấu quyết liệt của những người nông dân tuy chưa được thắng lợi nhưng đã là hồi chuông báo động cho chế độ phong kiến nước ta lúc bấy giờ. Ở Đàng Trong, chế độ phong kiến bước vào giai đoạn suy tàn, chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại làm rung chuyển cả nước. Cuộc khởi nghĩa bùng lên từ đất Tây Sơn, do ba anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ lãnh đạo. Sau nhiều năm, quân Tây Sơn đã hoàn thành sự nghiệp: đánh đổ ba tập đoàn phong kiến thống trị Lê – Trịnh – Nguyễn , làm chủ đất nước. Thời đại Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh xây dựng triều Nguyễn. Dưới sự thống trị nhà Nguyễn, khởi nghĩa nông dân cũng nổ ra liên tục. Phong trào nông dân khởi nghĩa giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX không những đã làm cho giai cấp thống trị khiếp sợ mà còn làm cho hệ tư tưởng chính thống của giai cấp phong kiến bị khủng hoảng và sụp đổ. Tóm lại, thời đại của Nguyễn Du diễn ra giằng co quyết liệt giữa nhiều xu thế chính trị khác nhau. Trong đời sống tư tưởng xã hội, từng mảng nhỏ của hệ thống tư tưởng phong kiến có nguy cơ bị lật đổ đến tận gốc rễ. Chiến thắng hiển hách của phong trào nông dân, rồi sự trả thù của nhiều thế lực phản động, sức vang dội của những đòi hỏi về công lí…tất cả khiến cho không khí thời đại càng trở nên phức tạp. Như vậy, những biến động của xã hội phong kiến thời đại Nguyễn Du là bằng chứng cho một cuộc khủng hoảng trầm trọng không chỉ ở bề mặt mà ở cả chiều sâu. 16 1.1.1.2. Thân thế và cuộc đời Nguyễn Du Nguyễn Du sinh năm 1765 tại phường Bích Câu (Thăng Long); quê quán Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Quê hương Tiên Điền của Nguyễn Du nổi tiếng khắp cả nước vì có nhiều người đỗ đạt cao. Đặc biệt dòng họ Nguyễn của ông được coi là dòng họ vinh hiển nhất. Có rất nhiều người làm quan to, tiêu biểu là Nguyễn Nghiễm cha Nguyễn Du làm đến chức Đại tư đồ, tước Xuân Quận Công. Chính vì lẽ đó mà dân gian vùng Tiên Điền có câu hát: Chừng nào ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước họ này hết quan. Mười năm đầu của cuộc đời Nguyễn Du trôi qua êm đềm và có phần tẻ nhạt trong dinh cơ của cha tọa lạc ở phía nam hoàng thành Thăng Long, ven dòng Bích Câu trong vắt chảy ra hồ Kim Âu, mùa hè ngát hương sen. Cảnh ở đây có lẽ đẹp nhất đế đô thời kì ấy. Hồn thơ Nguyễn Du đã được nảy nở và nuôi dưỡng chính tại nơi đây, trong không khí và nếp sống của một gia đình Nho học, có truyền thống văn chương và mấy đời làm quan to. Nguyễn Nghiễm, thân phụ Nguyễn Du, là người có tài, ông đỗ tiến sĩ năm 24 tuổi và sau đó lập được nhiều công trạng, năm 1761 được thăng Đô ngự sử, sau đó thăng thượng thư bộ công, tương đương với chức tể tướng. Năm 1764 ông được thăng hàm thiếu phó. Năm 1767, Trịnh Sâm lên cầm quyền, ông được thăng làm Thái tử thiếu bảo, tước Xuân Quận Công. Nguyễn Du ra đời khi gia đình đang hết sức thịnh vượng, giàu sang tột bậc. Năm ấy, Nguyễn Nghiễm đang làm tể tướng trong phủ, hai năm sau được thăng Thái tử thiếu bảo. Trong kí ức của Nguyễn Du vẫn còn lưu lại sự kiện cụ thân sinh vinh quy về làng. Năm Tân Mão 1771, Nguyễn Nghiễm 64 tuổi, xin về hưu. Chúa đặc cách thăng chức Đại tư đồ và chuẩn cho vinh quy về làng. Cả nhà cùng về theo, được dự một cuộc tiếp rước long trọng từ bến Giang Đình về dinh thự ở Tiên Điền. Không chỉ công thành danh toại, gia đình Nguyễn Du còn có truyền thống văn chương. Theo cuốn “Nguyễn Du, tác phẩm và lịch sử văn bản” của Nguyễn 17 Thạch Giang và Trương Chính thì dòng họ Nguyễn Tiên Điền người nào cũng thơ hay. Nguyễn Nghiễm có hai tập thơ “Quân trung liên vận” và “Xuân đình tạp ngâm”. Nguyễn Khản anh trai Nguyễn Du không có tập thơ riêng nào. Tuy nhiên, thơ ông được chép trong “Nguyễn Gia Phong vận tập”. Ông là một trong những người dịch Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Năm 1780 xảy ra vụ “Mật án Canh Tý”. Trịnh Sâm lập Cán thay Tông làm thái tử. Nguyễn Khản giúp Trịnh Tông nhưng việc bị lộ, Khản bị bắt giam. Khi bị bắt giam, ông có làm một bài thơ tự tình bằng quốc âm. Trịnh Sâm xem xong cảm động tha tội cho ông. Hai người cháu gọi Nguyễn Du bằng chú, nhưng tuổi xấp xỉ là Nguyễn Thiện và Nguyễn Hành thường cùng nhà thơ ngâm vịnh. Hai người con gái của Nguyễn Khản là Nguyễn Thị Bành và Nguyễn Thị Đài đều giỏi thơ quốc âm. Ngoài ra, Nguyễn Du có điều kiện học và đọc rất nhiều sách thánh hiền từ bé, được tiếp xúc với những làn điệu dân ca quan họ, những truyền thuyết thần kì của dân tộc thông qua người mẹ rất mực dịu hiền xứ Kinh Bắc, một xứ sở nổi tiếng về nếp sống giàu có và lịch lãm. Nhưng tuổi thơ tươi đẹp ấy không kéo dài được bao lâu. Năm Nguyễn Du tròn 10 tuổi đã có biến cố lớn xảy ra: Nguyễn Trụ, anh cùng mẹ với Nguyễn Du mắc bệnh mất ở Kinh giữa tuổi 18, tiếp đến Nguyễn Nghiễm cũng qua đời. Hai cái tang như cảnh cửa khép lại thời vàng son của gia đình họ Nguyễn và cũng kết thúc luôn thời thơ ấu ấm êm của ông. Sau này, trải qua hơn 20 năm lưu lạc, trở về dưới chân núi Hồng, nhà thơ không khỏi nhớ lại cảnh huy hoàng ngày ấy và ghi lại trong bài Giang Đình hữu cảm : Ức tích ngô ông tạ lão thì Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi Tiên chu kích thủy thần long đấu, Bảo cái phù không thụy hạc phi, Nhất tự y thường vô mịch xứ, Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi. Bách niên đa thiểu thương tâm sự, 18 Cận nhật Trường An đại dĩ phi. (Nhớ xưa khi cha ta từ tạ vì già mà về hưu, Ở bến sông này phơi phới xe bồ ngựa tứ. Thuyền tiên cuộn nước như rồng thần đấu nhau Chiếc lọng quí trên không như chim hạc lành bay. Từ khi áo xiêm không còn tìm đâu thấy Khói trên ngọn cỏ hai bờ sông khiến lòng khôn xiết bi thương, Trăm năm cuộc đời biết bao việc thương tâm, Ngày gần đây Trường An đã khác xưa nhiều.) (Cảm xúc khi thấy Giang Đình) Đó là bài thơ ghi lại dấu ấn quá khứ vàng son của gia đình Nguyễn Du, để lại trong ông một ấn tượng sâu đậm để rồi khi nhớ lại ông không sao giấu được nỗi chua xót, ngậm ngùi. Mồ côi cả cha lẫn mẹ, bốn anh em Nguyễn Du chưa người nào đến tuổi trưởng thành nên phải về ở với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản. Khản học giỏi, thông minh, đỗ đạt sớm, làm quan to, được chúa Trịnh yêu mến và là con người tài hoa, phong lưu rất mực. Chính hoàn cảnh đó ấy, cuộc sống ấy đã sớm in vào hồn thơ của Nguyễn Du nhiều ấn tượng sâu đậm. Cũng trong thời gian này, địa vị Khản thăng giáng bất thường, cho đến khi kiêu binh nổi loạn, ông trốn lên với Nguyễn Điều ở Tây Sơn rồi sau đó hai anh em bỏ về Hà Tĩnh (1784). Năm Bính Ngọ 1786, Nguyễn Huệ chỉ huy đội quân thủy chiến tiến đến sông Vị Hoàng (Nam Định). Không đầy một tháng, quân của Nguyễn Huệ chiếm Thuận Hóa cho đến Vị Hoàng rồi tiến thẳng ra Thăng Long giương cờ phù Lê diệt Trịnh. Đến khi nghe quân Tây Sơn bắc tiến, Nguyễn Khản bàn tính mọi công việc với em là Nguyễn Điều rồi đi. Đến cửa Thần Phù (Ninh Bình), được tin báo quân Tây Sơn đã đến bến Vị Doanh, Nguyễn Khản đến Thăng Long gặp Trịnh Khải dâng kế. Kế sách chưa được thực hiện thì đã bị bọn kiêu binh phá, ông phải chạy lên Tây Sơn.
- Xem thêm -