Thị trường vận tải khách hàng của vietnam airlines trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

  • Số trang: 113 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 34 |
  • Lượt tải: 1
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI -------oo0oo------- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP TÊN ĐỀ TÀI: THỊ TRƢỜNG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CỦA VIETNAM AIRLINES TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Họ và tên sinh viên : Vũ Thị Thu Hƣơng Lớp : Anh 10 – K44C – KT&KDQT Khóa : 44 Giáo viên hƣớng dẫn: GV. Hoàng Thị Đoan Trang Hà Nội, tháng 05/2009 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1 CHƢƠNG I: Lý luận chung về thị trƣờng vận tải hành khách bằng đƣờng hàng không trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ....................................... 4 I. Cơ sở lý luận về thị trƣờng vận tải hành khách bằng đƣờng hàng không trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế: ........................................................................ 4 1. Các khái niệm có liên quan: ...................................................................... 4 1.1. Vận tải hàng không và vận tải hành khách bằng đường hàng không: ...................................................................................................... 4 1.2. Thị trường vận tải hành khách bằng đường hàng không: ............... 5 1.3. Hội nhập kinh tế quốc tế: .................................................................. 6 2. Đặc điểm, vai trò của vận tải bằng đƣờng hàng không:.............................. 7 2.1. Đặc điểm: .......................................................................................... 7 2.2. Vai trò:............................................................................................... 9 2.2.1. Vận tải hàng không trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước. .9 2.2.2. Vận tải hàng không với hoạt động chính trị, ngoại giao và quốc phòng của đất nước: ............................................................................ 11 2.2.3. Vận tải hàng không góp phần mở rộng giao lưu văn hóa, xã hội trong nước và quốc tế: ......................................................................... 12 3. Những nhân tố ảnh hƣởng tới thị trƣờng vận tải hành khách bằng đƣờng hàng không: ............................................................................................... 13 3.1. Nhóm các nhân tố khách quan: ...................................................... 13 3.1.1. Môi trường kinh tế, chính trị: ..................................................... 13 3.1.2. Môi trường pháp luật, chính sách của nhà nước: ....................... 14 3.1.3. Môi trường tự nhiên:.................................................................. 16 3.1.4. Môi trường khoa học công nghệ: ............................................... 17 3.1.5. Môi trường cạnh tranh ............................................................... 18 3.1.6. Xu hướng phát triển của vận tải hàng không trong khu vực và trên thế giới: ............................................................................................... 19 3.1.7. Quan hệ cung-cầu, chi phí, giá cả:............................................. 20 3.2. Nhóm các nhân tố chủ quan ........................................................... 22 3.2.1. Nguồn lực của doanh nghiệp: .................................................... 22 3.2.2. Những hoạt động kinh doanh và xúc tiến hợp tác kinh tế quốc tế.............................................................................................................28 4. Hoạt động vận tải hành khách bằng đƣờng HK của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế: ............................................................................. 30 4.1. Thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam: ............................. 30 4.2. Sự hội nhập của ngành vận tải hàng không Việt Nam: .................. 32 Chƣơng II: Thực trạng thị trƣờng vận tải hành khách của Vietnam Airlines trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ............................................................ 35 I. Tổng quan về hãng hàng không quốc gia Việt Nam – Vietnam Airlines (VNA) ............................................................................................................ 35 1. Quá trình hình thành và phát triển: .................................................... 35 2. Cơ cấu bộ máy tổ chức: ........................................................................ 38 3. Cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực: ............................................ 42 3.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật: ................................................................... 42 3.2. Nguồn nhân lực: ............................................................................. 45 II. Những kết quả đạt đƣợc về thị trƣờng vận tải hành khách của VNA trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế: .................................................................... 46 1. Tình hình kinh doanh nói chung của hãng hàng không quốc gia Việt Nam: .......................................................................................................... 46 2. Thị trƣờng vận tải hành khách quốc tế: .............................................. 61 2.1. Dung lượng thị trường: ................................................................... 61 2.2. Tầm quan trọng và đặc điểm của thị trường vận tải hành khách quốc tế của VNA: ................................................................................... 63 2.2.1. Tầm quan trọng: ........................................................................ 63 2.2.2. Đặc điểm: .................................................................................. 64 2.3. Các thị trường quốc tế tiềm năng:................................................... 68 3. Thị trƣờng vận tải hành khách nội địa: ............................................... 69 3.1. Dung lượng thị trường: ................................................................... 69 3.2. Tầm quan trọng và đặc điểm của thị trường: .................................. 72 3.2.1. Tầm quan trọng: ........................................................................ 72 3.2.2. Đặc điểm: .................................................................................. 72 3.3. Các thị trường trong nước tiềm năng: ............................................ 73 III. Những nhân tố ảnh hƣởng đến thị trƣờng vận tải hành khách của VNA trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế: ....................................................... 74 1. Những nhân tố khách quan: ................................................................. 74 2. Những nhân tố chủ quan: ..................................................................... 79 Chƣơng III: Những giải pháp phát triển thị trƣờng vận tải hành khách của Vietnam Airlines trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ..................... 81 I. Đánh giá thị trƣờng vận tải hành khách của VNA trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế:............................................................................................... 81 1. Điểm mạnh: ........................................................................................... 81 2. Điểm yếu: ............................................................................................... 83 3. Cơ hội: ................................................................................................... 84 4. Thách thức:............................................................................................ 85 II. Định hƣớng phát triển của VNA đến năm 2020: ................................... 86 1. Kế hoạch của VNA cho năm 2009: ........................................................ 86 2. Phương hướng phát triển chung: .......................................................... 87 3. Phương hướng phát triển thị trường vận tải hành khách:.................... 89 III. Những giải pháp phát triển thị trƣờng vận tải hành khách của VNA trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ...................................................................... 90 1. Giải pháp nâng cao năng lực của hãng: ............................................... 90 1.1. Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật hàng không: ..... 93 1.2. Phát triển đội máy bay:.................................................................... 93 1.3. Giải pháp về vốn:............................................................................. 94 1.4. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực bền vững và lâu dài: ................... 95 2. Chiến lược cạnh tranh, phát triển thị trường: ....................................... 94 2.1. Chiến lược sản phẩm: ..................................................................... 97 2.2. Chiến lược giá cả: ........................................................................... 98 2.3. Chiến lược phân phối: ..................................................................... 99 2.4. Chiến lược xúc tiến, hỗ trợ thương mại:........................................... 99 3. Giải pháp tiết kiệm, tăng thu: ................................................................ 98 4. Giải pháp tăng cường quan hệ hợp tác: ................................................ 99 5. Giải pháp liên minh liên kết: ............................................................... 100 KẾT LUẬN ........................................................................................................ 102 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 105 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VNA: Vietnam Airlines ICAO: Tổ chức Hàng không Dân dụng Thế giới (International Civil Aviation Organization) IATA: Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (International Air Transport Association) IOSA: Chứng chỉ về an toàn khai thác bay của Hiệp hội Vận tải Hàng không quốc tế (IATA) (IATA Operational Safety Audit) IATP: Tổ chức các hãng hàng không dùng chung nguồn lực kỹ thuật (International Airlines Technical Pool) WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization) ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of SouthEast Asian Nations) APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (Asia-Pacific Economic Cooperation) EU: Châu Âu HK: hàng không Tp. HCM: thành phố Hồ Chí Minh DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU Tên bảng Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của VNA Trang 39 Bảng 1: Đội máy bay của hãng Vietnam Airlines tính tới thời điểm 01/03/2009 45 Bảng 2: Doanh thu và tổng sản lượng vận chuyển hành khách quốc tế và nội địa của VNA giai đoạn 2004 – 2008 (dự kiến năm 2009) 48 Bảng 3: Dung lượng và thị phần thị trường vận tải hành khách quốc tế của hàng không Việt Nam giai đoạn 1995 – 2005 64 Bảng 4: Lượng khách quốc tế vận chuyển và thị phần của VNA giai đoạn từ 2006 – 2008 64 Bảng 5: Dung lượng và thị phần thị trường vận tải hành khách nội địa của hàng không Việt Nam giai đoạn 1995 – 2008 73 LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Những năm gần đây, chúng ta đã được chứng kiến những biến chuyển rõ rệt của nền kinh tế Việt Nam trên bước đường hội nhập kinh tế quốc tế, từ các lĩnh vực như bảo hiểm, tài chính – ngân hàng, giáo dục, kinh tế, giao thông vận tải, xây dựng… cho đến các ngành nghề truyền thống như thủ công mỹ nghệ, mây tre đan..., và thậm chí cả ngành nông nghiệp. Hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới đem lại cho chúng ta những cơ hội mới, những con đường mới và cả những thách thức mới trên hành trình xây dựng một đất nước giàu mạnh hơn. Được xem là ngành không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế, ngành giao thông vận tải nói chung và vận tải hàng không nói riêng càng thể hiện rõ vai trò trọng yếu của mình. Vận tải hàng không cũng như các ngành vận tải khác cũng không nằm ngoài xu thế chuyển đổi chung của đất nước. Tính năng động và cạnh tranh của “thị trường không mặt đất” này phần nào được thể hiện qua sự xuất hiện ngày càng nhiều những gương mặt mới, những tên tuổi. Là hãng hàng không đầu tiên được thành lập ở Việt Nam, hãng hàng không quốc gia Việt Nam – Vietnam Airlines – bước vào thời kỳ hội nhập có theo những thế mạnh riêng, những khó khăn riêng so với các đối thủ cạnh tranh khác. Khóa luận với đề tài “Thị trường vận tải hành khách của Vietnam Airlines trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế” được thực hiện với mục đích tìm hiểu rõ hơn về thị trường vận tải hàng không nói chung trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, và thị trường vận tải hành khách nói riêng của Vietnam Airlines, qua đó người viết mong muốn đem đến những thông tin cơ bản và đưa ra những nhận định cá nhân về sự phát triển của thị trường này ở Vietnam Airlines trong thời gian tới. 2. Tình hình nghiên cứu: Đối tượng Thị trường vận tải hành khách không phải là một đối tượng nghiên cứu hoàn toàn mới. Đã có một số công trình nghiên cứu được thực hiện, với nội dung đưa ra các giải pháp phát triển hoạt động vận tải hành khách nội địa, giải pháp nâng cao năng lực vận tải của hãng hàng không quốc gia Việt Nam, hay nghiên cứu tập trung vào biện pháp phát triển hoạt động vận tải hành khách nội địa của 1 Vietnam Airlines, và có thể còn nhiều công trình nghiên cứu khác mà người viết chưa có điều kiện tiếp cận. Bài khóa luận này được thực hiện dựa trên những thông tin, nguồn tài liệu được cập nhật gần đây nhất, cùng với những đánh giá, những công trình nghiên cứu làm tài liệu tham khảo, từ đó đưa ra một vài nhận định của người viết về đối tượng nghiên cứu. Hy vọng những con số và thông tin mới trong khóa luận có thể được bổ sung thêm vào nguồn dữ liệu khi người đọc tìm kiếm về thị trường vận tải hành khách của Vietnam Airlines. 3. Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là thị trường vận tải hành khách của hãng hàng không quốc gia Việt Nam – Vietnam Airlines trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, qua đó làm rõ những biến động, thay đổi của thị trường này nhằm thích ứng với hoàn cảnh hội nhập kinh tế của Việt Nam; phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cũng như những cơ hội và thách thức mà thị trường gặp phải. 4. Mục đích và phạm vi nghiên cứu Khóa luận này được thực hiện với mục đích cung cấp thêm thông tin, đưa ra nhận định về thị trường vận tải hành khách của Vietnam Airlines trước và sau khi Việt Nam gia nhập WTO, từ đó có những đánh giá khái quát nhất, kết luận đúng đắn nhất về thị trường, và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển thị trường. Phạm vi nghiên cứu của khóa luận chú trọng vào đối tượng là thị trường vận tải hành khách của Vietnam Airlines với các số liệu, các thống kê, bảng biểu, dẫn chiếu, minh họa từ năm 1986 khi Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế cho đến hết năm 2008, trong đó nhấn mạnh giai đoạn 5 năm từ 2004 2008. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu: Khóa luận được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp suy diễn và quy nạp, theo cách thức phân tích – tổng hợp các số liệu, sự kiện, tài liệu có được; cùng với phương pháp so sánh để đưa ra những đánh giá và nhìn nhận của cá nhân người viết về đối tượng nghiên cứu. 2 6. Kết cấu khóa luận: Khóa luận tốt nghiệp được chia làm ba phần, tương ứng với ba chương, mỗi chương đảm nhận một chức năng nhất định trong tổng thể kết cấu của khóa luận. Chương I. Lý luận chung về thị trường vận tải hành khách bằng đường hàng không trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế - nêu ra cơ sở lý thuyết chung nhất liên quan đến đối tượng nghiên cứu của khóa luận. Chương II. Thực trạng thị trường vận tải hành khách của Vietnam Airlines trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế - là phần chứa đựng nội dung chính của khóa luận. Trong chương này, người viết trình bày giới thiệu sơ lược về hãng hàng không quốc gia Việt Nam – Vietnam Airlines và thực trạng thị trường vận tải hành khách của Vietnam Airlines trong khoảng thời gian từ sau năm 1986, trong đó nhấn mạnh giai đoạn 5 năm từ 2004-2008, qua đó làm rõ những thay đổi của thị trường do tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đem lại. Chương III. Những giải pháp phát triển thị trường vận tải hành khách của Vietnam Airlines trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế – dựa trên những quan điểm cá nhân qua những phần phân tích ở chương II và định hướng phát triển của Vietnam Airlines trong giai đoạn 2009-2020, người viết đưa ra một số ý kiến, giải pháp nhằm hoàn thiện và đẩy mạnh thị trường vận tải hành khách của hãng hàng không này. Ý kiến đưa ra dựa trên những lợi thế sẵn có của Vietnam Airlines và khắc phục những khó khăn của hãng. Người viết xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, những người đã cung cấp những kiến thức quí báu về lĩnh vực vận tải và giao nhận trong ngoại thương; lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Hoàng Thị Đoan Trang, người đã tận tình dẫn dắt, chỉ bảo người viết trong suốt thời gian thực hiện khóa luận này. Người viết kính mong nhận được sự quan tâm, sửa chữa và góp ý của các thầy cô giáo và bạn đọc. Hà Nội, tháng 05 năm 2009 Sinh viên thực hiện Vũ Thị Thu Hương 3 CHƢƠNG I: Lý luận chung về thị trƣờng vận tải hành khách bằng đƣờng hàng không trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế I. Cơ sở lý luận về thị trƣờng vận tải hành khách bằng đƣờng hàng không trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế: Cùng với sự phát triển của cuộc sống, con người đã sáng tạo những cách thức lao động mới, những phương tiện mới nhằm đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của mình. Vận tải nói chung ra đời phục vụ cho nhu cầu đi lại và giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa con người với nhau từ khắp các vùng đất khác nhau trên thế giới. Trong đó, vận tải hàng không là ngành vận tải tiên tiến nhất gần gũi với cuộc sống thực tế, thể hiện sự phát triển vượt bậc của con người về trình độ khoa học, công nghệ và khả năng ứng dụng để đạt được mục đích của mình. 1. Các khái niệm có liên quan: 1.1. Vận tải hàng không và vận tải hành khách bằng đường hàng không: Theo nghĩa hẹp, vận tải HK được hiểu là sự di chuyển bằng máy bay trên không trung, nhằm chuyên chở một hay nhiều đối tượng nào đó từ một địa điểm này đến một địa điểm khác. Các đối tượng đó có thể là hành khách, hàng hóa, hành lý hay bưu kiện. Theo nghĩa rộng, vận tải HK là sự tập hợp các yếu tố kinh tế, kỹ thuật nhằm khai thác việc chuyên chở bằng máy bay một cách có hiệu quả. Như vậy, dựa trên những yếu tố khoa học kỹ thuật, con người sáng tạo ra hình thức vận tải HK và tiến hành nó như một hoạt động kinh tế có mục đích; và sự ra đời của vận tải HK chính là để phục vụ cho mục đích ấy. Qua đó, khái niệm vận tải hành khách bằng đường HK có thể được định nghĩa là sự chuyên chở con người từ nơi này đến nơi khác bằng máy bay, nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại và đạt được mục đích kinh tế nhất định. Xuất hiện sau cùng trong lịch sử phát triển của ngành vận tải, vận tải HK là một ngành còn non trẻ. Nếu như vận tải đường biển ra đời và phát triển từ thế kỷ thứ V trước công nguyên, thì vận tải HK được thai nghén từ thế kỷ XVI, và phải đến những năm đầu của thế kỷ XX, ngành vận tải này mới bắt đầu hoàn thiện và phát triển – khi mà trình độ khoa học kỹ thuật của con người đạt đến mức cho phép 4 chinh phục được bầu trời và chế tạo ra cỗ máy có khả năng di chuyển trên không trung, chịu được trọng tải của một lượng hành khách và hàng hóa nhất định trong đó. Theo C. Mác, ngành vận tải là một ngành sản xuất vật chất thứ tư của con người, và do vậy, nó cũng sáng tạo ra sản phẩm. Sản phẩm của ngành vận tải nói chung và vận tải HK nói riêng, là sự di chuyển hành khách, hàng hóa, hành lý và bưu kiện trong không gian. Tuy nhiên, không giống với các ngành sản xuất vật chất khác, ngành vận tải HK có những đặc điểm khác biệt về quá trình sản xuất, sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm. Môi trường sản xuất của vận tải HK là không gian, luôn di động chứ không cố định như trong các ngành sản xuất khác; sản phẩm của vận tải HK không tồn tại dưới hình thức vật chất, mà quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời, do đó không có khả năng dự trữ sản phẩm vận tải để tiêu dùng về sau mà chỉ có khả năng dự trữ năng lực vận tải; sản xuất trong vận tải HK là quá trình tác động về mặt không gian vào đối tượng chuyên chở chứ không phải tác động về mặt kỹ thuật, nên hình dạng, kích thước của đối tượng chuyên chở không bị thay đổi; quá trình sản xuất của ngành vận tải HK không tạo ra sản phẩm vật chất mới mà chỉ làm thay đổi vị trí của đối tượng chuyên chở (hàng hóa, bưu kiện) trong không gian, qua đó làm tăng giá trị của chúng. Như vậy, ngành vận tải HK là một ngành thuộc loại hình dịch vụ tổng hợp, và sản phẩm trong kinh doanh vận tải HK được xác định thuộc loại hình dịch vụ. 1.2. Thị trường vận tải hành khách bằng đường hàng không: Thuật ngữ thị trường được các nhà chuyên môn định nghĩa dựa trên nhiều khía cạnh, tuy nhiên, nói một cách đơn giản, ở đâu hoặc khi nào có sự gặp gỡ trực tiếp hoặc gián tiếp giữa một số lượng lớn người mua và người bán, nhằm tiến hành những hoạt động có mục đích của mình, thì ở đó hoặc khi đó thị trường được hình thành. Thị trường vận tải hành khách bằng đường HK thuộc loại hình thị trường dịch vụ. Đó là nơi gặp gỡ giữa hai đối tượng, một bên là hãng cung cấp sản phẩm dịch vụ HK và một bên là những người có nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ HK đó. Sự gặp gỡ này bao gồm cả hình thức trực tiếp tại một địa điểm nhất định, như sân bay, 5 nhà ga, kho hàng… giữa các bên có nhu cầu, hoặc hình thức gián tiếp như đặt vé, đăng ký qua hệ thống máy tính kết nối Internet. Đánh giá sự sôi động và phát triển của thị trường vận tải hành khách bằng đường HK dựa trên một số tiêu chí như dung lượng khách hàng, đặc điểm của thị trường, mạng đường bay, đội máy bay của hãng và một yếu tố không thể thiếu là sự cạnh tranh giữa các hãng HK với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Đánh giá hiệu quả hoạt động của một hãng kinh doanh và khai thác vận tải HK dựa theo một số tiêu chí như: hệ số sử dụng ghế, lợi nhuận, tỷ suất hao phí vốn, thời gian hoàn vốn, doanh thu bình quân trên 01 hành khách vận chuyển hay 01 kg hàng hóa…[3; 29-35]. Đối tượng của thị trường này là hành khách có nhu cầu đi lại và vận chuyển hành lý của mình bằng máy bay. Đối tượng tham gia vào thị trường bao gồm những bên có nhu cầu cung ứng dịch vụ HK như hãng HK, doanh nghiệp cung ứng máy bay, doanh nghiệp cung ứng vận tải bằng ô tô, xe chuyên chở người và hành lý, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ ăn uống, giải trí… cũng như những hành khách có nhu cầu sử dụng dịch vụ vận tải HK. 1.3. Hội nhập kinh tế quốc tế: Hội nhập kinh tế quốc tế, theo quan niệm đơn giản nhất và phổ biến hiện nay trên thế giới, là việc các nền kinh tế gắn kết lại với nhau. Theo cách hiểu này, hội nhập kinh tế đã diễn ra từ hàng ngàn năm nay và hội nhập kinh tế với quy mô toàn cầu đã diễn ra từ cách đây hai nghìn năm khi đế quốc La Mã xâm chiếm thế giới và mở mang mạng lưới giao thông, thúc đẩy lưu thông hàng hóa trong toàn bộ lãnh địa chiếm đóng rộng lớn của họ và áp đặt đồng tiền của họ trên tất cả các thuộc địa. Hội nhập kinh tế quốc tế, hiểu theo một cách chặt chẽ hơn, là việc gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế với nhau. Nói rõ hơn, đó là quá trình chủ động thực hiện đồng thời hai việc: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường từng nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân; và mặt khác, gia nhập và góp phần xây dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu. Hội nhập kinh tế quốc tế có thể là song phương - tức là giữa hai nền kinh tế, hoặc khu vực - tức là giữa một nhóm các nền kinh tế, hoặc có thể là đa phương - tức 6 là có quy mô toàn thế giới giống như những gì mà Tổ chức Thương mại Thế giới đang hướng tới. 2. Đặc điểm, vai trò của vận tải bằng đƣờng hàng không: 2.1. Đặc điểm: Tuy mới chỉ là ngành vận tải non trẻ, song những thế mạnh của vận tải HK đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý và quan tâm của ngày càng nhiều khách hàng. Công nghệ tiên tiến, hiện đại với độ an toàn cao, sang trọng và thoải mái là những yếu tố giúp phương thức vận tải này phát triển một cách mạnh mẽ trên toàn thế giới, và trở thành một ngành không thể thiếu với bất cứ quốc gia nào muốn tiến bước trên con đường phát triển kinh tế. Bên cạnh những đặc trưng chung của ngành vận tải, vận tải HK có những ưu điểm nổi bật như sau: - Tuyến đường trong vận tải HK là không trung và hầu như là đường thẳng, không tốn kém trong việc đầu tư xây dựng đường xá như vận tải đường bộ, đường sắt; ít phụ thuộc và vị trí địa lý, địa hình; nhưng lại phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết của từng vùng. - Tốc độ vận chuyển của vận tải HK cao hơn hẳn các phương tiện khác: gấp 27 lần so với đường biển, 10 lần so với đường sông và 8,3 lần so với đường sắt. Nhờ có công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, khoảng thời gian di chuyển bằng máy bay đã được rút ngắn đi rất nhiều so với các loại hình phương tiện khác nếu xét trên cùng một quãng đường dài. Hơn nữa, việc bay theo những mạng đường bay trên không trung đã giúp cho vận chuyển bằng đường HK giảm bớt được các thủ tục quá cảnh khi qua biên giới giữa nhiều nước, thay vì phải làm nhiều lần thủ tục nếu đi bằng đường bộ hay đường sắt. - Độ an toàn của vận tải HK được đánh giá là cao nhất trong các loại hình vận chuyển, bởi yếu tố an toàn luôn được đề cao hàng đầu và là kim chỉ nam thúc đẩy khoa học kỹ thuật và công nghệ của ngành phát triển không ngừng. Từ đội ngũ phi công, tiếp viên cho đến việc đảm bảo, giám sát về máy móc, nhiên liệu luôn phải tuân thủ nghiêm ngặt nhất theo qui định về an toàn bay [1;151-153]. - Là ngành vận tải hiện đại, có khả năng kết nối nhiều vùng trong một quốc gia và nhiều quốc gia trên thế giới với nhau mà các ngành vận tải khác khó thực hiện 7 được. Nếu việc di chuyển bằng đường bộ, đường sắt hay đường thủy bị hạn chế bởi điều kiện địa lý tự nhiên, thời gian và khả năng phát triển giao thông của từng vùng trong một đất nước, hay của mỗi một quốc gia trên thế giới, thì vận chuyển bằng máy bay sẽ khắc phục được những hạn chế về không gian, thời gian đó. Ưu điểm là vậy, song vận tải HK không phải không có những nhược điểm: - Vốn đầu tư cho vận tải HK rất lớn, phụ thuộc nhiều vào sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và khả năng phát triển kinh tế của đất nước đó. Những nhu cầu đầu tư cho cơ sở hạ tầng, phương tiện vận tải và kiểm soát không lưu luôn đòi hỏi trình độ kỹ thuật, công nghệ cao, cũng như đội ngũ nhân viên thành thạo về chuyên môn và có năng lực. Trong khi những yêu cầu này đối với các loại hình phương tiện vận tải khác thì không cao đến như vậy. - Giá cước vận chuyển hành khách và hàng hóa cao hơn nhiều so với các phương tiện vận tải khác, do bao gồm cả các chi phí đầu tư cho trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, phương tiện, nhiên liệu và các dịch vụ phục vụ… Do đó, hình thức vận tải này thường chỉ được dùng để chở người và các loại hàng hóa có giá trị cao, quí hiếm và các loại hàng hóa dễ hư hỏng, thời hạn bảo quản sử dụng ngắn. - Số lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển bị hạn chế, do trọng tải và dung tích của máy bay nhỏ. Nếu một chiếc tàu biển có khả năng chở hàng nghìn hành khách hay hàng tấn hàng hóa cồng kềnh thì máy bay lại ngược lại, con số giới hạn nhiều nhất cũng chỉ hơn sáu trăm người hay vài tấn hàng hóa có kích thước vừa phải trên một chuyến bay [1;151-153]. Vận tải hành khách bằng đường HK cũng bao hàm những ưu nhược điểm của ngành vận tải HK nói chung. Tuy nhiên, nói chung, đối tượng của vận tải bằng đường HK chủ yếu là hàng khách và hành lý của họ. Hàng hóa vận chuyển bằng hình thức này không phổ biến, chỉ tập trung vào một số loại hàng hóa nhất định. Vì thế, hầu hết các máy bay hiện nay của thế giới chủ yếu được dùng để chở khách, hoặc kết hợp chở hàng với khối lượng nhỏ. Ở Việt Nam, thị trường vận tải hành khách bằng đường HK sôi động và thường xuyên hơn so với thị trường vận tải hàng hóa bằng con đường này. Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ những hạn chế vốn có của ngành vận tải HK, và một nguyên nhân nữa xuất phát từ nội tại và 8 khả năng của Việt Nam, đó là tiềm lực kinh tế của nước ta còn chưa mạnh, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ ngành còn thiếu và yếu, chưa đủ khả năng để đưa vận tải bằng đường HK đến gần hơn với doanh nghiệp và cuộc sống của người dân. Mặc dù một số hạn chế trên có ảnh hưởng ít nhiều tới ngành vận tải HK nói chung và vận tải hành khách bằng đường HK nói riêng, song nhìn chung, đây vẫn là loại hình vận tải được lựa chọn ngày càng nhiều trên thế giới bởi những ưu điểm nổi bật so với các loại hình vận tải khác. 2.2. Vai trò: 2.2.1. Vận tải hàng không trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước: Kinh tế của một đất nước không thể phát triển nếu không có sự giao lưu và hợp tác với các quốc gia trên thế giới. Điều đó đặt ra cho các ngành được coi là “cầu nối” với thế giới một sứ mệnh tối quan trọng, đó là phải tạo mọi điều kiện để đưa quốc gia mình tiếp cận với thế giới và để thế giới biết đến dân tộc mình. Một trong những ngành giữ vị trí huyết mạch trong quá trình phát triển kinh tế và quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế là ngành giao thông vận tải nói chung và ngành vận tải HK nói riêng. Vận tải hành khách bằng đường HK là một phần không thể không tham gia trong quá trình đó, bởi sự vận chuyển hành khách không chỉ đơn thuần là đưa du khách quốc tế đến với đất nước Việt Nam mà còn là sự giới thiệu, tạo điều kiện đi lại cho các doanh nhân, các đối tác làm ăn đến tìm kiếm và khai thác cơ hội hợp tác kinh tế với doanh nghiệp quốc gia mình. Vận tải HK được xem là một mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền kinh tế của một quốc gia và của toàn cầu, bởi bản thân ngành đã có những ưu thế nhất định. Thứ nhất, vận tải HK có khả năng kết nối nhiều vùng trong một quốc gia và nhiều quốc gia, những khu vực trên thế giới. Phạm vi quan hệ kinh tế không chỉ dừng lại ở quan hệ giữa các trung tâm kinh tế nội tại một đất nước, mà còn được mở rộng ra các cường quốc kinh tế lớn trên toàn cầu. Hơn nữa, trong khi vận tải HK thực hiện vai trò trung gian liên kết với thế giới, thì cơ hội hợp tác không chỉ dành riêng cho bản thân nền kinh tế, mà đồng thời đó cũng là cơ hội hợp tác của chính hãng HK ấy với các hãng HK khác. Một khi các hãng HK này thực hiện mở rộng mạng đường bay, tăng số chuyến bay thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc quan hệ 9 hợp tác quốc tế được mở rộng hơn. Thứ hai, vận tải HK giữ một vị trí quan trọng trong việc liên kết các phương thức vận tải với nhau, tạo nên mô hình vận tải đa phương thức hiệu quả, nhanh chóng. Qua đó, ngành vận tải HK giúp ngành vận tải khai thác tối đa những ưu điểm của từng loại hình chuyên chở, cũng như giúp giảm thiểu chi phí và rút ngắn thời gian vận chuyển, tạo điều kiện gia tăng lợi nhuận. Thứ ba, vận tải HK giảm sự chênh lệch, giảm khoảng cách về kinh tế, mức sống giữa các vùng miền trong một đất nước, từ đó, góp phần tạo sự phát triển ổn định, đồng đều giữa các vùng miền, cải thiện mức sống của người dân. Bên cạnh đó, vận tải HK góp phần hỗ trợ và thúc đẩy các ngành khác phát triển, từ các ngành như bưu chính viễn thông, du lịch, dầu khí cho đến nông nghiệp, công nghiệp khai thác kim loại quí. Sự gia tăng về số lượng du khách đến Việt Nam trong những năm gần đây là một ví dụ điển hình cho vai trò hỗ trợ và thúc đẩy của ngành vận tải HK cho ngành du lịch của đất nước. Điều đó không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu Việt Nam với bạn bè quốc tế, mà còn giúp tạo công ăn việc làm cho người dân, tạo cơ hội cho họ tham gia phát triển du lịch, tăng thêm thu nhập cho các vùng miền, phát triển các khu du lịch sinh thái, khách sạn, nhà hàng… Sau tất cả những thay đổi đó, chúng ta không thể phủ nhận vai trò đóng góp của ngành vận tải HK nói chung và vận tải hành khách bằng đường HK nói riêng. Ngoài ra, ngành vận tải này còn đóng góp đáng kể vào cán cân thanh toán quốc tế. “Cán cân thanh toán quốc tế của một quốc gia là báo cáo có hệ thống về tất cả các giao dịch kinh tế giữa nước đó với phần còn lại của thế giới, và thường được hạch toán theo ngoại tệ. Một cách khái quát, cán cân thanh toán phản ánh toàn bộ lượng ngoại tệ đi vào và đi ra lãnh thổ của một nước.” [2; 268]. Theo cách hiểu đó, những khoản thu từ việc vận chuyển hành khách, hàng hóa, hành lý và bưu kiện bằng đường HK đã đem lại nguồn ngoại tệ khá lớn cho đất nước. Vận tải HK càng phát triển thì lượng thu ngoại tệ về cho đất nước càng nhiều. Ở Việt Nam, ngành vận tải HK được coi là một trong những ngành phát triển mạnh mẽ và năng động nhất, với tốc độ phát triển trung bình mỗi năm đạt 12% - 14% trong giai đoạn 20032008. Doanh thu từ hoạt động kinh doanh vận tải HK đóng góp đáng kể cho ngân sách Nhà nước và là nguồn thu ngoại tệ lớn của quốc gia. 10 Như vậy, vận tải HK giữ vai trò là chất xúc tác đặc biệt, thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển và tăng cường các mối quan hệ kinh tế quốc tế, đưa đất nước hòa chung vào dòng chảy kinh tế thế giới. 2.2.2. Vận tải hàng không với hoạt động chính trị, ngoại giao và quốc phòng của đất nước: Mỗi một quốc gia đều có những chính sách đối ngoại và phát triển kinh tế của riêng mình. Tuy nhiên, nhìn vào xu hướng chung hiện nay, hầu hết các quốc gia đều tiến tới hợp tác, hỗ trợ và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Muốn làm được điều đó, nhất thiết phải có những buổi gặp gỡ, tiếp xúc và thăm viếng của các phái đoàn ngoại giao giữa các nước với nhau. Trước nhu cầu này, vận tải HK là một nhân tố chắc chắn không thể thiếu đối với từng quốc gia. Sự tối cần thiết của vận tải HK trong hoạt động ngoại giao thể hiện ở chỗ, đây là hình thức vận tải duy nhất phục vụ việc đưa đón phái đoàn các nước giao lưu gặp gỡ lẫn nhau. Việc di chuyển qua nhiều quốc gia, nhiều biên giới không thể thực hiện bằng hình thức vận tải đường sông, đường biển, đường sắt hay chỉ đường bộ đơn thuần. Phương tiện vận tải được sử dụng dành cho các nguyên thủ quốc gia và phái đoàn ngoại giao của một đất nước là máy bay và ô tô chuyên dụng của mỗi nước. Thậm chí, như trong Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 14 được tổ chức tại Việt Nam năm 2006, một số quốc gia như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên bang Nga không chỉ sử dụng chuyên cơ riêng của mình, mà còn vận chuyển cả ô tô chuyên dụng cho nguyên thủ nước họ bằng máy bay. Một ý nghĩa quan trọng không kém nữa là chính trị. Sự tham gia góp mặt trong hoạt động ngoại giao của ngành vận tải HK nói chung và vận tải hành khách bằng đường HK nói riêng không chỉ dừng lại ở chức năng đưa đón các quan chức đơn thuần, mà đồng thời hàm chứa ý nghĩa chính trị - khẳng định vị thế và tiềm lực kinh tế của quốc gia đó. Một đất nước được coi là vững mạnh, bên cạnh những chỉ số kinh tế như tổng sản phẩm quốc nội, chỉ số lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp…, còn có cả sự phát triển của một số ngành then chốt, trong đó có vận tải HK. Ngành vận tải HK được xem là bộ mặt của đất nước, là biểu tượng cho sức mạnh không quân, quân sự của quốc gia đó, và là biểu hiện cho sự phát triển về khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, tiên tiến. Điều này giải thích phần nào cho sự xuất hiện đồng 11 thời của những chuyên cơ, những xe chuyên dụng của các nguyên thủ quốc gia một số nước trong các cuộc thăm viếng quốc gia và vùng lãnh thổ khác. Dưới góc độ quốc phòng, vận tải HK chính là một lực lượng quan trọng khi có chiến tranh xảy ra. Nếu chức năng của các sân bay trong thời bình là phục vụ cho mục đích thương mại và dân sự, thì trong thời chiến, chúng phục vụ cho mục đích quân sự và chiến đấu. Do đó, xây dựng một hệ thống cơ sở vật chất HK vững mạnh không chỉ có ý nghĩa trước mắt phục vụ kinh tế, xã hội, mà còn là sự chuẩn bị cho công cuộc bảo vệ lãnh thổ của đất nước nếu chủ quyền của đất nước đó bị xâm phạm. 2.2.3. Vận tải hàng không góp phần mở rộng giao lưu văn hóa, xã hội trong nước và quốc tế: Ưu điểm về khả năng kết nối và liên kết nhiều vùng miền trong nước, và nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới chính là nhân tố giúp vận tải HK tham gia đóng góp đáng kể trong việc thúc đẩy giao lưu văn hóa, xã hội trong nước và quốc tế. Những khó khăn về khoảng cách, địa lý dường như hoàn toàn được khắc phục với loại hình vận tải tiên tiến này. Nếu như những vùng đất xa xôi, địa lý hiểm trở đã khiến việc đi lại, tiếp cận bằng đường bộ, đường thủy, đường sắt hay đường sông không gặp thuận lợi, thì một chiếc máy bay cỡ nhỏ là cách duy nhất có thể làm được việc đó. Các sân bay xuất hiện tại các tỉnh thành, vùng miền trong đất nước sẽ góp phần tạo điều kiện giao lưu kinh tế, buôn bán, văn hóa giữa các vùng. Không kể đến vận tải hành khách hay vận tải hàng hóa, thì vận chuyển bằng đường HK vẫn là cách tiếp cận các vùng xa trung tâm rất hiệu quả. Trên phạm vi quốc tế, vai trò cầu nối giao lưu văn hóa, xã hội càng được thể hiện rõ rệt. Nhu cầu hiểu biết về các nền văn hóa, các phong tục tập quán, lối sống, danh lam thắng cảnh của các quốc gia và vùng lãnh thổ khác trên thế giới ngày càng tăng trong xã hội hiện đại. Không chỉ là những kiến thức mới về một vùng đất mới, về một nền văn hóa mới, mà đó còn là cơ hội học hỏi và tiếp cận những tinh hoa, những nét đẹp nơi đó. Hiểu biết không bao giờ có giới hạn, và càng biết nhiều bao nhiêu, chúng ta càng có thể phát triển đất nước mình bấy nhiêu. Trong vai trò ấy, vận tải HK trở thành một cầu nối hữu hiệu, tiếp cận những vùng đất xa xôi, bị cách trở về mặt tự nhiên một cách thuận tiện và hiệu quả hơn. 12 Như vậy, ngành vận tải HK nói chung và vận tải hành khách bằng đường HK nói riêng, nếu chỉ bó hẹp ở thị trường trong nước sẽ là một sự lãng phí vô cùng lớn. Vươn ra thế giới bằng “đôi cánh” của khoa học kỹ thuật sẽ giúp ngành phát huy tốt hơn năng lực vốn có của mình, và qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. 3. Những nhân tố ảnh hƣởng tới thị trƣờng vận tải hành khách bằng đƣờng HK: Bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào, một hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận nào cũng đều xuất phát từ nhu cầu và khả năng cung ứng sản phẩm, dịch vụ của lĩnh vực đó, hoạt động đó. Kinh doanh và khai thác vận tải HK nói chung và vận tải hành khách bằng đường HK nói riêng cũng như vậy. Cung - cầu vận tải HK được hình thành từ sự tác động phức hợp của rất nhiều yếu tố, và tất cả đều ảnh hưởng tới thị trường này theo nhiều khía cạnh khác nhau. Nhìn chung các yếu tố đó thuộc hai nhóm: nhóm các nhân tố khách quan và nhóm các nhân tố chủ quan. 3.1. Nhóm các nhân tố khách quan: 3.1.1. Môi trường kinh tế, chính trị: Thế giới những năm 90 của thế kỷ XX đã chứng kiến mức tăng trưởng vừa phải của các cường quốc kinh tế, trong khi khu vực châu Á liên tục đạt mức tăng trưởng bình quân hàng năm cao, đặc biệt là Trung Quốc với mức tăng trưởng bình quân 13%/năm trong suốt 8 năm liền từ 2000-2007. Trải qua giai đoạn khủng hoảng kinh tế năm 1997, nhiều quốc gia đã dần khôi phục nền kinh tế của mình. Từ đó đến nay, nền kinh tế thế giới luôn tồn tại một xu hướng toàn cầu hóa rõ rệt trên mọi lĩnh vực, từ qui mô nhỏ đến qui mô lớn. Sự đan xen về kinh tế biểu hiện qua sự hiện diện các liên minh khu vực, tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, đa quốc gia khiến cho xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng trở nên rõ rệt. Xu hướng đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức đầu tư trực tiếp hay gián tiếp cũng ngày một rõ ràng ở các nước, đặc biệt là các nước mới nổi và đang phát triển. Mỗi một quốc gia trên thế giới không thể tránh khỏi xu hướng chung của khu vực và thế giới đó. Châu Á đã và đang duy trì một nền kinh tế ngày càng mở cửa, tích cực tham gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế, tăng dần tỷ lệ kim ngạch ngoại thương so với tổng sản phẩm quốc nội, nên châu lục này đã giữ được tốc độ tăng trưởng 13
- Xem thêm -