Thị trường mở việt nam hiện nay - thực trạng và giải pháp

  • Số trang: 30 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp MỤC LỤC MỤC LỤC ................................................................................................................................ 1 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .................................................................................................... 3 PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG MỞ ................................................. 4 1. Khái niệm và vai trò của nghiệp vụ thị trường mở.................................................................... 4 1.1. Khái niệm thị trường mở .................................................................................................... 4 1.2. Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở ................................................................................... 4 1.3. Cơ chế tác động của Nghiệp vụ thị trường mở.................................................................... 5 1.3.1 Tác động về mặt lượng (Tác động vào cơ số tiền tệ) ..................................................... 5 1.3.2 Tác động về mặt giá ( tác động về mặt lãi suất) ............................................................ 5 1.4. Vai trò thị trường mở ......................................................................................................... 6 2. Hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở ................................................................................... 7 2.1. Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở ........................................................ 7 2.1.1 Các loại giao dịch của thị trường mở ........................................................................... 7 2.1.2 Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở (Theo Quyết định số 01/2007/QĐNHNN về việc ban hành Quy chế nghiệp vụ thị trường mở) ....................................................... 7 2.2. Hàng hóa trên thị trường mở ............................................................................................. 9 2.3. Những chủ thể tham gia thị trường mở ............................................................................ 10 3. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ .. 11 3.1. Phạm vi thành viên tham gia ............................................................................................ 11 3.2. Phạm vi hàng hoá ............................................................................................................. 11 3.3. Giá và lãi suất................................................................................................................... 11 3.4. Phương thức giao dịch ...................................................................................................... 12 3.5. Trình độ phối hợp giữa các công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ............................ 12 3.6. Công nghệ thông tin và hệ thống thanh toán .................................................................... 12 4. Những ưu điểm và hạn chế ..................................................................................................... 13 1 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp 4.1. Ưu điểm............................................................................................................................ 13 4.2. Hạn chế ............................................................................................................................ 13 PHẦN II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG MỞ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY....................................................................................................................... 14 1. Tình hình thực hiện nghiệp vụ Thị trường mở giai đoạn từ năm 2008 đến nay .................. 14 2. Phân tích mức độ hiệu quả của việc thực hiện nghiệp vụ Thị trường mở ............................ 17 1.1 Tác động đến lạm phát ...................................................................................................... 17 1.2 Tác động đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng .......................................................... 19 1.3 Tác động đến lãi suất thị trường........................................................................................ 23 1.4 Cơ chế thực hiện nghiệp vụ ............................................................................................... 24 3. Nhận xét chung ................................................................................................................... 26 PHẦN III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MỞ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ....................................................................................................................................... 26 1. Tăng thêm số lượng thành viên tham gia vào thị trường mở ............................................... 26 2. Tăng hàng hóa cho nghiệp vụ thị trường mở cà về số lượng lẫn chất lượng ........................ 27 3. Đa dạng hóa các phương thức giao dịch .............................................................................. 27 4. Củng cố và thúc đẩy các mảng thị trường khác phát triển để làm cơ sở cho hoạt động thị trường mở .................................................................................................................................. 27 5. Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng kết hợp với nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng ........................................................................................................................................... 28 PHẦN IV: KẾT LUẬN ........................................................................................................... 29 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................................30 2 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT GTCG: Giấy tờ có giá. CSTT: Chính sách tiền tệ. NHTW: Ngân hàng trung ương. NHTM: Ngân hàng thương mại. NHNN: Ngân hàng nhà nước. TCTD: Tổ chức tín dụng. TTM: Thị trường mở 3 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG MỞ 1. Khái niệm và vai trò của nghiệp vụ thị trường mở 1.1. Khái niệm thị trường mở Thị trường mở là thị trường giao dịch các loại chứng khoán ngắn hạn và dài hạn. Tùy vào mỗi nước mà các loại chứng khoán được giao dịch khác nhau về loại hình và thời hạn, đồng thời việc quyết định chủ thể tham gia rộng hơn bao gồm các tổ chức tín dụng, Doanh nghiệp và cá nhân…Còn ở các nước nghiệp vụ thị trường mở còn chưa phát triển thì chỉ có nghiệp vụ thị trường mở và các tổ chức tín dụng khác tham gia (vi dụ ở Việt Nam) .Tùy vào điều kiện của mỗi nước mà chính phủ sẽ quy định khác nhau về hàng hóa, chủ thể tham gia, quy chế hoạt động của thị trường mở. 1.2. Khái niệm nghiệp vụ thị trường mở Theo nghĩa gốc thì cụm từ “Nghiệp vụ thị trường mở” chỉ các hoạt động giao dịch chứng khoán của các NHTW trên thị trường mở. Thông qua hành vi mua , bán chứng khoán này, NHTW có thể tác động trực tiếp đến dự trữ của hệ thống Ngân hàng và gián tiếp đến lãi suất thị trường, từ đó mà có thể ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng thông qua tác động cả về mặt lượng và về mặt giá. Về lý thuyết, các chứng khoán là đối tượng giao dịch của NHTW, có thể là chứng khoán chính phủ, các chứng khoán được phát hành bởi các doanh nghiệp hoặc Ngân hàng gồm cả chứng khoán ngắn hạn và dài hạn. Các chủ thể trong giao dịch Nghiệp vụ thị trường mở có thể là Ngân hàng, các doanh nghiệp hoặc các tổ chức phi tài chính khác. Về mặt thực tế, Nghiệp vụ thị trường mở là hành vi giao dịch của NHTW trên thị trường mở. Xét về hình thức thì thị trường mở là thị trường giao dịch các chứng khoán nợ ngắn và dài hạn. Tuy nhiên, khác với các khái niệm có phạm vi và công cụ giao dịch rõ ràng như thị trường chứng khoán hay thị trường tiền tệ, thị trường mở ở các nước khác nhau về phạm vi, về loại hình công cụ và thời hạn của các công cụ giao dịch trên thị trường. Chẳng hạn, thị trường mở của Nhật Bản chỉ bao gồm các chứng khoán nợ ngắn hạn và những người tham gia chỉ gồm các tổ chức tín dụng. Như vậy, ở Nhật thị trường mở là một bộ phận của thị trường tiền tệ. Ngược lại ở Mỹ hoặc Đức cho phép giao dịch cả các chứng khoán dài hạn trên thị trường mở . Xét theo thời hạn của chứng khoán nợ thì thị trường mở ở những nước này bao gồm cả một phần của thị trường chứng khoán. Theo cách này, khái niệm “ Nghiệp vụ thị trường mở” có ý nghĩa kinh tế khi nó gắn với cụm từ “Nghiệp vụ thị trường mở”. Có nghĩa là, các giới hạn khác nhau về đối tượng và các chr thể giao dịch của NHTW trong nghiệp vụ thị trường mở sẽ quyết định khái niệm cụ thể về thị trường mở ở từng nước 4 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp 1.3. Cơ chế tác động của Nghiệp vụ thị trường mở 1.3.1 Tác động về mặt lượng (Tác động vào cơ số tiền tệ) Hành vi mua, bán các chứng khoán trên thị trường mở của NHTW có ảnh hưởng ngay lập tức đến tình trạng dự trữ của các Ngân hàng thương mại (NHTM) thông qua ảnh hưởng đến tiền gửi của các Ngân hàng thương mại tại NHTW, và tiền gửi khách hàng tại NHTM từ đó sẽ ảnh hưởng tới khả năng cho vay của NHTM khi đó nó sẽ tác động đến hệ số nhân tiền và sẽ tác động đến mức cung tiền. Bằng việc bán các chứng khoán, NHTW có thể giảm bớt đi một khối lượng tiền dự trữ tương ứng (với điều kiện các nhân tố khác không đổi) dù người mua là NHTM hay khách hàng của nó, số tiền thanh toán cho lượng chứng khoán này được ghi nợ vào tài khoản của Ngân hàng tại NHTW. Trong trường hợp người mua là khách hàng của NHTM thì số tiền mua chứng khoán sẽ giảm số dư tiền gửi của khách hàng đó tại NHTM. Sự giảm xuống của dự trữ sẽ làm giảm khả năng cho vay của hệ thống Ngân hàng và vì thế giảm khối lượng tiền cung ứng. Hành vi mua chứng khoán của NHTW sẽ có tác động ngược lại. 1.3.2 Tác động về mặt giá ( tác động về mặt lãi suất) Hoạt động mua bán trên thị trường mở của NHTW có ảnh hưởng gián tiếp đến mức lãi suất thị trường thông qua hai con đường:  Thứ nhất, khi dự trữ của các Ngân hàng bị ảnh hưởng nó tác động đến cung cầu vốn NHTW trên thị trường tiền tệ liên Ngân hàng. Cung – cầu tiền thay đổi sẽ dẫn đến lãi suất thị trường tiền NHTW thay đổi. Mức lãi suất ngắn hạn này thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất sẽ truyền tác động của nó đến các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính. Tổng cầu của nền kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ được quyết định tại một mức lãi suất được thị trường xác định.  Thứ hai, việc mua chứng khoán sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung -cầu về các chứng khoán đó trên thị trường mở và do đó tác động đến giá cả của nó. Khi chứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của nó cũng thay đổi. Nếu đó là những chứng khoán có giá chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch thì sự thay đổi tỷ lệ sinh lời của nó sẽ tác động trở lại đến lãi suất thị trường, tổng cầu AD và sản lượng. Khi NHTW bán tín phiếu kho bạc sẽ làm dự trữ của hệ thống ngân hàng giảm. Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn, làm lãi suất ngắn hạn có xu hướng tăng lên và làm tăng lãi suất thị trường. Bên cạnh đó, khi NHTW thực hiện bán tín phiếu kho bạc làm tăng cung tín phiếu dẫn đến giảm giá của tín phiếu kho bạc. Điều này ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời 5 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp trên tín phiếu theo hướng tăng lên dẫn đế n sự dịch chuyển vốn đầu tư sang tín phiếu. Để cân bằng lãi suất và hạn chế đầu tư, lãi suất thị trường tăng lên. Cơ chế tác động qua lãi suất khi NHTW bán tín phiếu kho bạc: 1.4. Vai trò thị trường mở  Tạo sự sôi động cho thị trường tài chính., phát triển thị trường tiền tệ. Thực hiện nghiệp vụ thị trường mở mở ra một kênh dẫn truyền vốn mới cho các tổ chức tín dụng. Với sự tham gia của NHTW, thị trường mua bán các loại giấy tờ có giá trở nên sôi động hơn.  Như vậy, thị trường mở tạo điều kiện cho các ngân hàng sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi hiệu quả hơn và đa dạng hoá thêm các nghiệp vụ kinh doanh của các ngân hàng. OMO góp phần đa dạng hoá các nghiệp vụ kinh doanh của các TCTD. Các TCTD không chỉ đơn thuần thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống như cho vay, bảo lãnh, dịch vụ … mà còn sử dụng một nguồn vốn nhất định để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh mới là mua bán các GTCG. OMO cũng thúc đẩy các mối quan hệ mang tính kinh doanh giữa các thành viên tham gia thị trường.  Thực hiện nghiệp vụ thị trường mở giúp NHTW chủ động trong điều hành chính sách tiền tệ thông qua mức cung tiền. Khi NHTW thực hiện mua bán CK trên thị trường mở sẽ tác động đến cơ số tiền, từ đó làm thay đổi cung tiền. OMO có tính 2 chiều, NHTW có thể bơm tiền hoặc rút tiền trong lưu thông.  Nghiệp vụ thị trường mở được sử dụng để điều chỉnh vốn khả dụng của Ngân hàng. NHTW mua làm tăng cơ số tiền , đồng thời làm tăng cung tiền và tăng dự trữ của hệ thống NHTM và ngược lại. 6 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp  Bên cạnh đó, thực hiện nghiệp vụ thị trường mở còn giúp NHTW đánh tín hiệu ra thị trường về điều hành chính sách tiền tệ trong tương lai, định hướng và chỉ đạo lãi suất thị trường, qua đó có thể hạn chế những biến động của lãi suất. 2. Hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở 2.1. Phương thức hoạt động của nghiệp vụ thị trường mở 2.1.1 Các loại giao dịch của thị trường mở a. Giao dịch không hoàn lại (mua bán hẳn): Theo phương thức này, quyền sở hữu của GTCG là đối tượng giao dịch được chuyển sang cho NHTW hoặc ngược lại cho các thành viên tham gia giao dịch. Do vậy tác động của giao dịch này đối với dự trữ ngân hàng thường là dài hạn. b. Giao dịch có hoàn lại (giao dịch có kỳ hạn): Là việc thực hiện mua bán các giấy tờ có giá theo kỳ hạn. Lúc này, NHTW kí 2 hợp đồng: hợp đồng mua và hợp đồng bán có kỳ hạn hoặc hợp đồng bán và hợp đồng mua có kì hạn. Phương thức giao dịch này thường được sử dụng cho mục đích giao dịch tạm thời thông qua các hợp đồng mua lại (Repos) hoặc hợp đồng mua lại đảo ngược.Repos được sử dụng khi NHTW thực hiện mua GTCG với thoả thuận là sau một thời gian ngắn trong tương lai người bán sẽ mua lại các GTCG đó.Repos đảo ngược được sử dụng khi NHTW thực hiện bán GTCG với thoả thuận người mua sẽ bán lại vào một ngày xác định trong tương lai.Thông thường, Repos và Repos đảo ngược được sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn với mục đích điều tiết vốn khả dụng của các NHTM một cách linh hoạt. Giao dịch theo hợp đồng Repos thực chất là một khoản cho vay của NHTW có bảo đảm bằng các GTCG có tính thị trường cao. Các giao dịch mua bán có kỳ hạn được sử dụng chủ yếu trong TTM do các lý do: i. Đây là công cụ có hiệu quả nhất để bù đắp hoặc triệt tiêu những ảnh hưởng không dự tính trước đến dự trữ ngân hàng ii. Chi phí giao dịch thấp hơn các giao dịch mua bán hẳn iii. Thích hợp trong trường hợp các định hướng của CSTT không hoàn hảo dẫn đến phải sử dụng các giải pháp khắc phục iv. Làm giảm bớt thời gian thông báo, do đó mà giảm bớt biến động của thị trường trước các quyết định hàng ngày của NHTW. 2.1.2 Phương thức đấu thầu của nghiệp vụ thị trường mở (Theo Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế nghiệp vụ thị trường mở) 7 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp Nghiệp vụ thị trường mở được thực hiện thông qua phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất. Tại mỗi phiên đấu thầu, Ngân hàng Nhà nước chỉ áp dụng một phương thức đấu thầu khối lượng hoặc đấu thầu lãi suất. a. Đấu thầu khối lượng: - Ngân hàng Nhà nước thông báo cho các tổ chức tín dụng mức lãi suất đấu thầu. - Ngân hàng Nhà nước quyết định thông báo hoặc không thông báo khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán trước mỗi phiên đấu thầu. - Tổ chức tín dụng đăng ký dự thầu khối lượng các loại giấy tờ có giá cần mua hoặc bán theo mức lãi suất Ngân hàng Nhà nước thông báo. - Trường hợp tổng khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng bằng hoặc thấp hơn khối lượng Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán thì khối lượng trúng thầu bằng khối lượng của các tổ chức tín dụng đặt thầu và khối lượng trúng thầu của từng tổ chức tín dụng là khối lượng dự thầu của tổ chức tín dụng đó. - Trường hợp tổng khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng vượt quá khối lượng Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán thì khối lượng giấy tờ có giá trúng thầu bằng khối lượng Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán và khối lượng trúng thầu của từng tổ chức tín dụng được phân bổ theo tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng và được tính đến đơn vị đồng. - Trường hợp tại mức lãi suất trúng thầu, tổng khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng vượt quá khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán, thì khối lượng giấy tờ có giá trúng thầu của các tổ chức tín dụng tại mức lãi suất trúng thầu được phân bổ tỷ lệ thuận với khối lượng dự thầu của các tổ chức dụng tại mức lãi suất trúng thầu và được tính đến đơn vị đồng. b. Đấu thầu lãi suất: - Ngân hàng Nhà nước quyết định thông báo hoặc không thông báo khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán trước mỗi phiên đấu thầu; - Tổ chức tín dụng đăng ký dự thầu theo các mức lãi suất (tối đa là 5 mức lãi suất dự thầu trong một đơn dự thầu) và khối lượng giấy tờ có giá cần mua, cần bán tương ứng với các mức lãi suất đó. Lãi suất dự thầu được tính theo tỷ lệ năm và được làm tròn đến 2 con số sau dấu phẩy; - Các đơn dự thầu của các tổ chức tín dụng được xếp theo thứ tự lãi suất dự thầu giảm dần trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước mua giấy tờ có giá, hoặc lãi suất dự thầu tăng dần trong trường hợp Ngân hàng Nhà nước bán giấy tờ có giá; - Lãi suất trúng thầu là lãi suất dự thầu thấp nhất (trường hợp Ngân hàng Nhà nước mua giấy tờ có giá) hoặc lãi suất dự thầu cao nhất (trường hợp Ngân hàng Nhà nước bán giấy tờ có giá) trong phạm vi lãi suất chỉ đạo của Ban Điều hành nghiệp vụ thị trường mở mà 8 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp tại mức lãi suất đó đạt được khối lượng giấy tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán; - Khối lượng trúng thầu của các tổ chức tín dụng là khối lượng của các mức dự thầu có lãi suất bằng và cao hơn mức lãi suất trúng thầu (trường hợp Ngân hàng Nhà nước mua giấy tờ có giá) hoặc có lãi suất dự thầu bằng và thấp hơn lãi suất trúng thầu (trường hợp Ngân hàng Nhà nước bán giấy tờ có giá); - Ngân hàng Nhà nước quyết định và thông báo việc áp dụng phương thức xét thầu theo mức lãi suất thống nhất hoặc lãi suất riêng l trong từng thời kỳ. 2.2. Hàng hóa trên thị trường mở Các loại giấy tờ có giá được Ngân hàng Nhà nước chấp nhận giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở phải có đủ các điều kiện sau đây:  Có thể mua, bán được và nằm trong danh mục các loại giấy tờ có giá được giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở;  Được phát hành bằng đồng Việt Nam;  Được lưu ký tại Ngân hàng Nhà nước trước khi đăng ký bán;  Giấy tờ có giá được mua hẳn hoặc bán hẳn có thời hạn còn lại tối đa là ngày. Danh mục các loại giấy tờ có giá, tỷ lệ chênh lệch giữa giá trị giấy tờ có giá tại thời điểm định giá và giá thanh toán, tỷ lệ giao dịch của các loại giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định trong từng thời kỳ. Những loại hàng hóa chủ yếu bao gồm:  Tín phiếu kho bạc Tín phiếu kho bạc là loại chứng khoán Chính phủ được phát hành nhằm mục đích bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách trong năm tài chính.Thời hạn của tín phiếu kho bạc thường dưới 12 tháng. Đây là loại hàng hoá chủ yếu của TTM ở hầu hết thị trường mở các nước vì một số lý do sau: (i) Có tính thanh khoản cao, (ii) Được phát hành định kỳ với khối lượng lớn và đáp ứng nhu cầu can thiệp của NHTW với mức độ và quy mô khác nhau.  Tín phiếu NHTW Tín phiếu NHTW là loại GTCG ngắn hạn do NHTW phát hành để làm công cụ cho TTM. Việc sử dụng tín phiếu NHTW làm hàng hoá trên thị trường mở có một số ưu điểm như tăng cường tính độc lập của NHTW trong việc thực thi CSTT và là công cụ linh hoạt cho việc quản lý vốn khả dụng  Trái phiếu Chính phủ - Chính quyền địa phương 9 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp Trái phiếu chính phủ là chứng khoán nợ dài hạn được Nhà nước phát hành nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách . Mặc dù là chứng khoán dài hạn nhưng được sử dụng phổ biến trong nghiệp vụ thị trường mở vì tính an toàn, ổn định và khối lượng phát hành thường lớn, có khả năng tác động trực tiếp đến giá cả trên thị trường tài chính. Tương tự trái phiếu CP nhưng trái phiếu của chính quyền địa phương khác về thời hạn và các điều kiện ưu đãi về thuế thu nhập từ trái phiếu và thường do các chính quyền địa phương lớn phát hành.  Chứng chỉ tiền gửi Chứng chỉ tiền gửi là giấy nhận nợ của ngân hàng hay tổ chức tài chính phi ngân hàng phát hành, xác nhận một món tiền đã được gửi vào ngân hàng với một kỳ hạn và lãi suất nhất định. Chứng chỉ tiền gửi được sử dụng khá phổ biến trên thị trường tiền tệ do các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền khi cần thiết mà không phải rút tiền gửi trước hạn. Như vậy, hàng hóa trên thị trường mở ngày càng có xu hướng đa dạng hóa: - Một là do cạnh tranh trên thị trường tài chính ngày càng trở nên gay gắt, đặc biệt dưới ảnh hưởng của xu hướng toàn cầu hóa các hoạt động tài chính. - Hai là sự tiến bộ nhanh chóng của hệ thống ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng . 2.3. Những chủ thể tham gia thị trường mở - Những chủ thể tham gia thị trường mở gồm có NHTW, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng thuận mua vừa bán tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác. - NHTW là người quyết định lựa chọn sử dụng các loại TTM và tần suất sử dụng TTM. NHTW tham gia thị trường mở không phải vì mục tiêu kinh doanh mà để quản lý, chi phối, điều tiết thị trường làm cho CSTT được thực hiện theo các mục tiêu xác định của nó. - Các NHTM tham gia thị trường nhằm điều hoà vốn khả dụng để đảm bảo khả năng thanh toán và đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để hưởng lãi. - Sự tham gia của các NHTM trong các giao dịch TTM có ý nghĩa quan trọng xét trên góc độ hiệu quả CSTT do: (i) NHTM là trung gian tài chính lớn nhất, có mạng lưới hoạt động rộng. NHTM đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế, nhất là ở các nước đang phát triển; (ii) Hơn nữa NHTM vừa là người đi vay, vừa là người cho vay trên thị trường tiền tệ. 10 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp 3. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG CỦA NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ 3.1. Phạm vi thành viên tham gia - Thứ nhất, về lý thuyết, Ngân hàng trung ương muốn can thiệp trực tiếp vào lượng tiền cung ứng bao gồm cả tiền mặt và tiền gửi thì thành viên tham gia mua bán trong trường hợp này được mở rộng không những chỉ gồm tổ chức tín dụng mà còn cả các tổ chức khác, thậm chí có thể cả các cá nhân, miễn là họ có tiền mặt và tiền gửi. - Thứ hai, nếu cơ sở pháp lý cho phép các tổ chức tín dụng hoạt động theo hướng đa năng như hệ thống tổ chức tín dụng của Việt Nam hiện nay thì phạm vi thành viên tham gia mở rộng đến tổ chức tín dụng là đủ. - Thứ ba, khả năng chuyển tải của hệ thống thanh toán. Những cá nhân không có séc hoặc tiền trên tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng trung ương thì không thể tham gia mua bán được trên nghiệp vụ thị trường mở, nếu tổ chức tín dụng không có mạng kết nối với Ngân hàng trung ương trong điều kiện giao dịch trên mạng thì cũng không thể trở thành thành viên. 3.2. Phạm vi hàng hoá Mọi tài sản có thể mua hoặc bán trên thị trường vì chúng đều là những tài sản thế chấp. Nhưng tài sản thế chấp nghiệp vụ thị trường mở phải là tài sản có khả năng thanh khoản cao, đảm bảo quản lý dễ dàng, đồng thời đáp ứng yêu cầu điều hành nghiệp vụ này nhanh nhạy, chính xác và đạt được ý mong muốn, đó chính là các giấy tờ có giá. Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định: Các công cụ được sử dụng để giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở hiện nay là các tín phiếu kho bạc nhà nước, tín phiếu ngân hàng nhà nước, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. 3.3. Giá và lãi suất - Giá và lãi suất bao gồm giá mua, giá bán trên nghiệp vụ thị trường mở, các căn cứ để xác định giá, quan hệ giữa giá và lãi suất, phương thức đấu thầu. - Giá và lãi suất là hai đại lượng ngược chiều nhau. Khi mua giấy tờ có giá, người mua cần mua với loại có giá thấp, tức lãi suất cao, còn khi bán thì người bán muốn bán với giá cao, tức lãi suất thấp. - Giá của giấy tờ có giá hay lãi suất giao dịch trên nghiệp vụ thị trường mở là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suất trên thị trường nói chung. Vì vậy, lãi suất cũng là một mục tiêu mà Ngân hàng trung ương cần quan tâm khi quyết định phương thức đấu thầu trên nghiệp vụ thị trường mở. 11 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp - Đấu thầu lãi suất hay đấu thầu khối lượng trên nghiệp vụ thị trường mở tùy vào mục tiêu của Ngân hàng trung ương. Lãi suất chỉ đạo đối với đấu thầu khối lượng và lãi suất trúng thầu đối với đấu thầu lãi suất là cơ sở để tính giá của giấy tờ có giá. 3.4. Phương thức giao dịch Nghiệp vụ này cho phép mua hoặc bán với số lượng, thời gian giao dịch và một phương thức giao dịch tùy ý, phù hợp với yêu cầu của chính sách tiền tệ. - Khi dự báo cho thấy vốn khả dụng không thay đổi, biểu hiện sự trì trệ trong lưu thông tiền tệ. Trong trường hợp này, phương thức giao dịch sẽ là mua hoặc bán hẳn giấy tờ có giá, nhằm tạo ra một sự chuyển động tiền tệ ban đầu cần thiết. Ngoài ra, nghiệp vụ mua bán hẳn cho phép sửa sai bằng cách đảo ngược giao dịch: nếu phiên giao dịch trước mua quá nhiều, thì phiên giao dịch này có thể bán để giải quyết số chênh lệch đó và ngược lại. - Khi dự báo cho thấy vốn khả dụng thay đổi thất thường do nhiều nguyên nhân như: thời vụ, thiên tai hoặc dự đoán tình hình khó chính xác…Để hạn chế các sai sót trong việc cung ứng tiền, phương thức giao dịch sẽ là phương thức mua, bán có kỳ hạn gọi là hợp đồng mua lại. 3.5. Trình độ phối hợp giữa các công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ Ngân hàng trung ương là người đề ra và vận hành chính sách tiền tệ. Để kiểm soát được lượng cung ứng tiền tệ trong nền kinh tế, đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ, Ngân hàng trung ương không những chỉ sử dụng công cụ nghiệp vụ thị trường mở mà còn sử dụng tổng hợp các công cụ khác của chính sách tiền tệ như: tái cấp vốn, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tín dụng, hạn mức tín dụng, tỷ giá hối đoái. Trình độ phối hợp giữa các công cụ trong điều hành chính sách tiền tệ đảm bảo sự linh hoạt, hài hòa, chủ động trong việc sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất. 3.6. Công nghệ thông tin và hệ thống thanh toán Việc kết nối theo một chương trình phần mềm hiện đại trong nội bộ Ngân hàng trung ương, giữa trưởng ban điều hành nghiệp vụ thị trường mở, các ủy viên và người trực tiếp điều hành sàn giao dịch, giữa Ngân hàng trung ương với các ngân hàng thành viên, đảm bảo thực hiện các công đoạn giao dịch từ khi công nhận thành viên, đăng ký chữ ký điện tử, thông báo mời thầu, đăng ký giấy tờ có giá, tạo lập và ký hợp đồng mua lại, đến khâu thanh toán chuyển tiền và làm các loại thông báo, báo cáo… được thuận tiện. Có thể nói việc hiện đại hóa hệ thống thanh tóan và mạng lưới thông tin trong ngành ngân hàng không những giúp cho hệ thống ngân hàng phát triển mạnh, mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện và phát triển nghiệp vụ thị trường mở thành công. 12 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp 4. Những ưu điểm và hạn chế 4.1. Ưu điểm - Ngân hàng trung ương có thể hoàn toàn chủ động kiểm soát được khối lượng giao dịch trong khi điều này không thể có ở các công cụ khác. Ví dụ, trong nghiệp vụ chiết khấu, Ngân hàng trung ương có thể sử dụng lãi suất chiết khấu để điều tiết và khuyến khích các ngân hàng thương mại vay vốn nhưng trên thực tế Ngân hàng trung ương chỉ thông báo lãi suất chiết khấu mà không kiểm soát trực tiếp khối lượng cho vay chiết khấu. - Nghiệp vụ thị trường mở có thể sử dụng ở bất kỳ quy mô nào. Khi có yêu cầu thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, dù ở mức nhỏ thế nào thì nghiệp vụ thị trường mở cũng có thể đạt được bằng cách mua hoặc bán một lượng nhỏ chứng khoán. Ngược lại, nếu có yêu cầu thay đổi dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ quy mô lớn, Ngân hàng trung ương cũng có đủ khả năng thực hiện được thông qua việc mua hoặc bán một khối lượng lớn tương ứng các chứng khoán. - Nghiệp vụ thị trường mở dễ dàng đảo chiều. Nếu Ngân hàng trung ương có mắc phải sai sót nào đó trong quá trình thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, thì có thể ngay lập tức sửa chữa sai sót đó. Ví dụ, khi Ngân hàng trung ương nhận thấy lãi suất trên thị trường tiền tệ (lái suất ngắn hạn) hiện đang quá thấp do vừa qua Ngân hàng trung ương đã thực hiện mua quá nhiều trên thị trường mở, thì có thể ngay tức khắc sửa chữa nó bằng cách bán ngay các giấy tờ có giá cho các ngân hàng. - Nghiệp vụ thị trường mở có tính an toàn cao. Giao dịch trên thị trường mở hầu như không gặp rủi ro, xét trên góc độ của các Ngân hàng trung ương lẫn các Ngân hàng thương mại bởi vì, cơ sở đảm bảo cho các giao dịch thị trường mở đều là những giấy tờ có giá, có tính thanh khoản cao, không có rủi ro tài chính. - Nghiệp vụ thị trường mở có thể thực hiện một cách nhanh chóng, không vấp phải sự chậm trễ của các thủ tục hành chính. Khi Ngân hàng trung ương quyết định muốn thay đổi dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, Ngân hàng trung ương chỉ cần đưa ra yêu cầu cho các nhà giao dịch chứng khoán (trên thị trường tiền tệ) và sau đó việc mua bán sẽ được thực hiện ngay. 4.2. Hạn chế - Khả năng phát huy hiệu quả của nghiệp vụ thị trường mở không chỉ phụ thuộc vào Ngân hàng trung ương mà còn bị chi phối bởi môi trường kinh tế vĩ mô, hành vi của công chúng và các quyết định của các ngân hàng thương mại. Do đó để công cụ này phát huy hiệu quả thì quốc gia đó phải có thị trường tài chính phát triển, hàng hóa của thị trường (các giấy tờ có giá ngắn hạn) phải phong phú và đa dạng. 13 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp - Ngân hàng trung ương phải có khả năng dự báo được vốn khả dụng của toàn hệ thống để can thiệp mua bán, có như vậy việc can thiệp mới có ý nghĩa lớn trong việc tác động đến lượng tiền trung ương. - Khi Ngân hàng trung ương mua bán làm tác động đến lượng tiền trung ương, từ đó sẽ ảnh hưởng tới lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Để tránh ảnh hưởng này thì Ngân hàng trung ương phải có các giải pháp xử lý phù hợp, đòi hỏi Ngân hàng trung ương phải nhạy cảm và linh hoạt trong việc phối hợp điều hành các công cụ chính sách tiền tệ.  Tại các nước phát triển, nghiệp vụ thị trường mở được giao dịch hàng ngày. Đó là nơi để các Ngân hàng thương mại tìm kiếm nguồn vốn bổ sung cho việc thiếu hụt khả năng thanh toán, Ngân hàng thương mại có thể đem bán lại các giấy tờ có giá mà mình sở hữu hoặc vay có thế chấp các giấy tờ có giá đó đối với Ngân hàng trung ương. Thị trường mở cũng là nơi các Ngân hàng thương mại có thể đầu tư vốn tạm thời tồn đọng của mình. Khi Ngân hàng thương mại tạm thời có khoản vốn ngắn hạn chưa cho vay khách hàng được, Ngân hàng thương mại có thể mua các giấy tờ có giá đó do Ngân hàng trung ương bán ra. Đó là một hành động đầu tư với một khoản lợi nhuận chắc chắn. Thông qua các hoạt động mua và bán ở thị trường mở, Ngân hàng trung ương điều hành việc cung ứng tiền và lãi suất ngắn hạn. PHẦN II: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG MỞ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2008 ĐẾN NAY 1. Tình hình thực hiện nghiệp vụ Thị trường mở giai đoạn từ năm 2008 đến nay Đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ của hoạt động ngân hàng và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, từ năm 2 3, Sở Giao dịch đã được Thống đốc NHNN giao Chủ đầu tư Dự án “Trang thiết bị máy móc, nối mạng và thiết kế phần mềm nghiệp vụ thị trường tiền tệ và lưu ký GTCG tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước Giai đoạn I” do Quỹ Hỗ trợ Pháp và Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ (gọi tắt là Dự án AFD). Đến tháng 11 2 7, chương trình chính thức được đưa vào sử dụng, cho phép các giao dịch thị trường tiền tệ nói chung và các giao dịch nghiệp vụ TTM nói riêng được kết nối trực tiếp giữa NHNN và các thành viên, nhanh chóng và hiệu quả, tạo điều kiện cho NHNN thực hiện nghiệp vụ TTM một cách kịp thời, thể hiện ở kết quả hoạt động trong 5 năm qua, từ năm 2 8 đến 2012 14 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp Năm 2008: nghiệp vụ TTM được điều hành khá linh hoạt, kết hợp với các công cụ CSTT khác để điều tiết vốn khả dụng cho các TCTD ở mức hợp lí, góp phần ổn định thị trường tiền tệ. Các nghiệp vụ TTM được thực hiện hàng ngày, chủ yếu thông qua hình thức đấu thầu khối lượng, công bố lãi suất nhằm ổn định thị trường. Trong 7 tháng đầu năm, NHNN đã thực hiện chào bán tín phiếu NHNN kỳ hạn 182 và 364 ngày, với lãi suất phổ biến tương ứng lần lượt là 7,5 năm và 7,75 năm. Đồng thời, để hỗ trợ vốn ngắn hạn cho các TCTD, NHNN đã thực hiện các phiên chào mua giấy tờ có giá với kỳ hạn ngắn (7, 14, 21 và 28 ngày); khối lượng chào mua hàng ngày được xác định dựa trên nhu cầu vốn thanh toán và tình hình thị trường tiền tệ. Từ tháng 8 2 8, trước tín hiệu khả quan về kiềm chế lạm phát, NHNN đã từng bước nới lỏng CSTT để thúc đẩy phát triển sản xuất. NHNN tiếp tục thự hiện các phiên chào mua giấy tờ có giá kỳ hạn 7 – 14 ngày với khối lượng và lãi suất phù hợp với các loại lãi suất thời điểm đó. Về hoạt động thị trường đấu thầu tín phiếu Kho bạc: cả năm có 31 đợt đấu thầu tín phiếu được tổ chức. Giá trị trúng thầu là 20.730 tỷ đồng, đạt 78% khối lượng chào thầu và gần gấn đôi giá trị trúng thầu năm 2 7. Lãi suất trúng thầu giảm mạnh từ 15,7% xuống 8,38%. Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN năm 2008 Năm 2009: nghiệp vụ TTM được điều hành linh hoạt, bám sát diễn biến cung – cầu vốn của các TCTD. Các giao dịch nghiệp vụthịtrường mở được thực hiện hàng ngày, chủyếu là các giao dịch mua giấy tờcó giá với kỳhạn ngắn (7, 14 ngày) 15 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp Nửa đầu năm 2 , NHNN thực hiện các phiên chào mua kỳhạn 14 ngày, lãi suất giảm dần từ 9% xuống 7 năm để cung ứng vốn ngắn hạn cho nền kinh tế, tạo điều kiện cho các TCTD đáp ứng nhu cầu vốn cho các chương trình kích thích tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, chương trình kích thích tăng trưởng kinh tế đang ở giai đoạn đầu, nhu cầu vốn của nền kinh tế chưa cao, nguồn vốn của các TCTD vẫn có dư thừa nên nhu cầu tham gia các phiên chào mua nghiệp vụ TTM không cao với doanh sốtrúng thầu chỉ đạt 74% so với lượng tiền chào mua của NHNN. Khối lượng trúng thầu bình quân mỗi phiên đạt khoảng 1.000 tỷ đồng/phiên. Nửa cuối năm 2 , nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của các TCTD có xu hướng tăng cao theo các chương trình kích cầu của Chính phủ, NHNN đã tăng khối lượng chào mua qua nghiệp vụ TTM, khối lượng trúng thầu bình quân các phiên chào mua tăng mạnh, đạt 95% khối lượng chào mua của NHNN và đạt khoảng 6.000 tỷ đồng/phiên, gấp 6 lần so với mức 6 tháng đầu năm. Đặc biệt trong nửa đầu tháng 12, NHNN đã chào mua qua kênh nghiệp vụ TTMvới khối lượng bình quân xấp xỉ 15.000 tỷ đồng phiên để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD do nhu cầu thanh toán tăng cao trong dịp Tết dương lịch. Kỳ hạn chào mua được thực hiện linh hoạt 7 ngày và 14 ngày với lãi suất chào mua tương ứng là 7 năm và 7-8 năm. Đồng thời, để chủ động kiểm soát lạm phát và điều tiết linh hoạt vốn khả dụng của các TCTD trong hệthống, NHNN đã thực hiện chào bán tín phiếu NHNN với định kỳ 3 phiên/tuần, kỳ hạn 3 tháng và 6 tháng; phương thức đấu thầu lãi suất, xét thầu thống nhất, nhưng trong số 68 phiên đấu thầu bán tín phiếu NHNN chỉ có 2 phiên bán trúng thầu với doanh số đạt 102 tỷ đồng. Năm 2010: Tương tự năm 2 , các giao dịch nghiệp vụ TTM được thực hiện hàng ngày, chủ yếu là các giao dịch mua giấy tờ có giá với kỳ hạn ngắn (7, 14 và 28 ngày) với mục tiêu theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt; hỗ trợ vốn cho các TCTD, hạn chế tình trạng thiếu vốn dẫn đến chạy đua tăng lãi suất. Trong tháng đầu năm 2 1 , chào mua giấy tờ có giá kỳ hạn ngắn với lãi suất 7% cho kỳ hạn 7 ngày; 7,5% cho kỳ hạn 14 ngày và 8% cho kỳ hạn 28 ngày. Khối lượng chào thầu bình quân là 5.400 tỷ/phiên với mức trúng thầu bình quân là 3.200 tỷ/phiên. Trong 3 tháng cuối năm 2 1 , NHNN chỉ còn chào mua kỳ hạn 7 ngày, với lãi suất tăng dần từ 7% lên 10%. Khối lượng chào thầu bình quân là 7.160 tỷ/phiên với mức trúng thầu bình quân là 6.970 tỷ/phiên. Năm 2011: với mục tiêu là tiếp tục theo đuổi CSTT thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho hệ thống các TCTD, trong suốt tháng đầu năm 2011, NHNN chủ yếu chào mua giấy tờ có giá với kỳ hạn chỉ 7 ngày, lãi suất tăng mạnh từ 1 vào năm ngoái lên 15 năm. Khối lượng chào thầu bình quân là 8.400 tỷ/phiên với mức trúng thầu bình quân là 8000 tỷ/phiên. 16 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp Bắt đầu từ khoảng nửa cuối tháng 9, khi mà tốc độ tăng trưởng tín dụng được kiểm soát theo kế hoạch, lạm phát có dấu hiệu hạ nhiệt, NHNN cho thấy động thái nới lỏng trên TTM khi chào mua giấy tờ có giá với kỳ hạn 7 và 14 ngày, lãi suất giảm 1% còn 14 năm. Khối lượng chào thầu bình quân là 3.400 tỷ/phiên, giá trị trúng thầu bình quân khoảng 91%. Năm 2012: Từ suốt tháng 3 đến trung tuần tháng 8, hoạt động của Ngân hàng Nhà nước trên TTM rất ổn định, đột nhiên từ cuối tháng 8 cường độ và lưu lượng giao dịch lại tăng đột biến. Thị trường tài chính trở nên đầy rẫy bất ổn và nghi ngờ kể từ sau khi cơ quan quản lý mạnh tay trấn áp nhóm tài phiệt thao túng các ngân hàng thương mại và vi phạm các quy định về an toàn và lành mạnh tài chính. Bên cạnh đó, NHNN cũng đã phát hành tín phiếu với kỳ hạn dài hơn, 28, 56 và 1 ngày, để hút lượng tiền dư thừa khoảng 200 nghìn tỷ đồng (do NHNN dùng để mua xấp xỉ 10 tỷ USD) ra khỏi hệ thống NHTM. Tổng lượng tín phiếu chưa đáo hạn cuối năm 2012 vào khoảng 53,5 nghìn tỷ đồng. 2. Phân tích mức độ hiệu quả của việc thực hiện nghiệp vụ Thị trường mở 1.1 Tác động đến lạm phát Sau khoảng thời gian dài đàm phán, việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào cuối năm 2 7 đã tạo ra một kỳ vọng tăng trưởng vô cùng mạnh mẽ cho nền kinh tế. Vốn đầu tư, từ tiết kiệm của người dân cũng như từ các nhà đầu tư nước ngoài, được dồn về thị trường tài chính một cách nhanh chóng. Tổng dư nợ giữa năm 2 7 là gần 1 triệu tỷ đồng, nằm trong khoảng -1 GDP năm 2 7. Tình hình tăng trưởng nóng, kèm theo đó là tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới, đã dẫn đến hậu quả tất yếu là lạm phát đã có những biến động khó lường và dao động trong biên độ lớn. Lạm phát đạt mốc 12,7 vào năm 2 7, sau đó tăng lên mức kỉ lục 22,3 năm 2 8 và giảm đột ngột xuống 6, vào năm 2 . Để giảm thiểu thiệt hại và mất mát do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, năm 2 , Chính phủ đã nhanh chóng đưa ra các chính sách vĩ mô như: CSTT, chính sách tỷ giá hối đoái, chính sách thương mại… mà nổi bật nhất là gói kích cầu nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, đảm bảo ổn định và duy trì hệ thống an sinh xã hội. Đến năm 2 1 , độ trễ của chính sách này mới phát huy mặt trái khiến tỷ lệ lạm phát lên mức 11,75 và năm 2 11 tăng lên mức 18,13% so với cùng kỳ năm 2 1 . Sang đến năm 2 12, lạm phát lại giảm xuống mức 6,8% và ổn định đến hết quý I/2013. 17 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp Nguồn: Ủy ban giám sát tài chính quốc gia Trước dấu hiệu lạm phát tăng nhanh từ đầu năm 2 8, trên TTM, NHNN đã thực hiện chào bán tín phiếu NHNN kỳ hạn 182 và 364 ngày, với lãi suất phổ biến tương ứng lần lượt là 7,5 năm và 7,75 năm. Đặc biệt, vào tháng 3/2008, NHNN thể hiện sự mạnh tay trong việc kiềm chế lạm phát bằnng đợt phát hành tín phiếu bắt buộc kỳ hạn 364 ngày. Đợt phát hành này đã rút 2 .3 tỷ đồng ra khỏi thị trường; đồng thời, các TCTD cũng không được phép sử dụng tín phiếu này trong nghiệp vụ tái cấp vốn với NHNN. Nếu xét riêng về tác động kiềm chế lạm phát năm 2 8, nghiệp vụ TTM không có tác dụng. Khối lượng 20.300 tỷ đồng tín phiếu phải được các TCTD mua trong một thời gian rất ngắn, gấp 20 – 40 lần con số 500 – 1000 tỷ đồng (là khối lượng trúng thầu trong các phiên đấu thầu thường kỳ). Khối lượng phải mua lớn, không được gia hạn mua, cộng với quy định không được sử dụng tín phiếu để tái cấp vốn, buộc các TCTD nhỏ và trung phải đi vay trên liên ngân hàng, dẫn đến lãi suất liên ngân hàng tăng cao (từ ngày 15 – 19/2, lãi suất vay qua đêm trên liên ngân hàng tăng từ 3 lên 43 năm), tạo áp lực lạm phát cho nền kinh tế, gây ra tác động ngược với mục tiêu điều hành. Kết quả là tháng 10/2008, NHNN lại cho phép các TCTD giao dịch tái cấp vốn với NHNN bằng tín phiếu này; đồng thời cho phép các TCTD rút tín phiếu trước hạn nếu có yêu cầu. Tiền quay trở lại hệ thống khiến cho lạm phát năm 2 8 không được kiềm chế mà tăng cao kỉ lục. Sau giai đoạn sau đỉnh điểm lạm phát 2 8, nghiệp vụ TTM được NHNN điều hành khá linh hoạt nếu xét theo góc độ hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD với các phiên đấu thầu diễn ra liên tục như đã phân tích ở phần 1. Kiểm soát lạm phát cũng được xem là một trong những mục tiêu điều hành TTM, tuy nhiên hiệu quả không cao. Cụ thể, để chủ động kiểm soát lạm phát năm 2 , NHNN đã thực hiện chào bán tín phiếu NHNN với định kỳ 3 phiên tuần, kỳ hạn 3 tháng và 6 tháng; phương thức đấu thầu lãi suất, xét thầu thống nhất, nhưng trong số 68 phiên đấu thầu bán tín phiếu NHNN chỉ có 2 phiên bán 18 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp trúng thầu với doanh số đạt 1 2 tỷ đồng. Trong năm 2 11, lạm phát cao và CSTT phải thắt chặt; do đó, các công cụ TTM phải nhằm mục đích hút tiền về. Tuy nhiên, các TCTD đang khó khăn thanh khoản và thiếu vốn để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng tín dụng, nên biện pháp hút tiền về qua TTM không thực hiện được. Nếu tiến hành bán tín phiếu bắt buộc sẽ lại dẫn đến kết quả như năm 2 8. Trong năm ngoái, tình hình kinh tế mang màu sắc ngược lại: lạm phát giảm xuống nhanh dưới một con số, nền kinh tế hoạt động trì trệ, tăng trưởng tín dụng quá thấp Nguồn: tự tổng hợp Công cụ TTM phải nhằm mục tiêu tăng cung tiền ra để hạ lãi suất, kích thích tăng trưởng tín dụng, đưa vốn vào sản xuất kinh doanh nhưng lại mâu thuẫn với khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp và tình hình vốn khả dụng của các TCTD. Trên thực tế, các TCTD không hề thiếu tiền (bằng chứng là giao dịch TTM hết sức trầm lắng) nhưng bản thân các doanh nghiệp lại không thể vay do sản xuất kinh doanh đình đốn và gánh nặng các khoản nợ lãi suất cao từ những năm trước. Những lí do trên khiến cho các TCTD không mặn mà với các đợt đấu thầu trên TTM, dẫn đến việc làm giảm tác động của nghiệp vụ này. Trường hợp phát hành 200 nghìn tỷ đồng tín phiếu đơn thuần chỉ có tính chất điều hoà tiền tệ, giữ cho lượng tiền VND không bị quá dư thừa tại một thời điểm. Động thái này không có nhiều tác động tới các hoạt động tiền tệ khác của hệ thống. Đây cũng không phải là hành động thắt chặt tiền tệ. Lạm phát năm 2 12 thấp chủ yếu là do tổng cầu của nền kinh tế suy giảm, tác động của nghiệp vụ TTM đến lạm phát là không đáng kể. 1.2 Tác động đến thanh khoản của hệ thống ngân hàng Sự vận hành hiệu quả cuả TTM không chỉ giúp Ngân hàng nhà nước điều chỉnh lượng tiền vào ra trong lưu thông mà còn giúp hệ thống Ngân hàng vượt qua các cú sốc về thanh khoản. 19 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết Thị trường mở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp Đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam, thanh khoản thường khó khăn vào dịp Tết Nguyên Đán do nhu cầu rút tiền đột biến để thanh toán, chi tiêu và đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp và dân cư ở mức cao. 20 NHÓM 8 TCDN ĐÊM 4 – K22 GVHD: TS. Trần Thị Mộng Tuyết
- Xem thêm -