Thị trường dịch vụ ngân hàng việt nam trước xu thế hội nhập

  • Số trang: 25 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 10 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng Tiểu luận Thị trường dịch vụ Ngân hàng Việt Nam trước xu thế hội nhập Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 1/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng I/ H ệ thống ngân hàng và dịch vụ ngân hàng Việt Nam 1/ Hệ thống ngân hàng Việt Nam: 1.1/ Lịch sử phát triển:  Ngân hàng với vai trò là trung gian t ài chính đã xuất hiện t ừ thời thượng cổ. Lịch sử của tổ chức này gắn liền với lịch sử của nền sản xuất hàng hóa. Qua nhiều giai đoạn thăng trầm , t ổ chức này đã phát triển t hành một hệ thống quan t rọng trong nền kinh tế toàn cầu. Các ngân hàng hiện nay đang cung cấp trên dưới 6.000 dịch vụ tài chính đáp ứng và phục vụ cho nhu cầu của mọi lĩnh vực hoạt động.  Ở Việt Nam , hệ thống ngân hàng vẫn còn rất non trẻ. Trước năm 1951, chỉ có các ngân hàng nước ngoài hoạt động nhằm phục vụ cho chính sách thuộc địa của chính phủ Pháp và làm giàu cho giai cấp tư bản Pháp. Phải đến ngày 06/05/1951, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam m ới chính thức thành lập, và sau này đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam .  Năm 1986 có thể xem là năm đầu tiên đánh dấu sự thay đồi toàn diện của hệ thống ngân hàng Việt Nam . Đến năm 1990, Pháp lệnh NHNN Việt Nam và Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ “một cấp” sang “hai cấp”. Tháng 12/1997, Luật về ngân hàng Việt Nam cũng ra đời và mở đường cho sự phát triển của ngành Ngân hàng Việt Nam trong tiến trình đổi mới.  Sau gần 60 năm hoạt động, hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển ngày một lớn mạnh, không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, đổi mới công nghệ. Đặc biệt sau khi Hiệp định thương m ại Việt - Mỹ và sự kiện Việt Nam trở t hành thành viên của WT O (ngày 11/01/2007), hệ thống ngân hàng nước ta ngày càng được hoàn thiện và hội nhập với t hế giới 1.2/ C ơ hội và thách thức sau khi gia nhập WTO :  Tính đến nay, Việt Nam đã gia nhập WT O được 3 năm. Theo các cam kết, lĩnh vực ngân hàng sẽ phải mở cửa theo lộ trình 7 năm, gỡ bỏ dần các hạn chế về tỷ lệ tham gia cổ phần của các định chế tài chính nước ngoài theo những cam kết trong Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ và “mở” toàn bộ các quy định về việc khống chế tỷ lệ tham gia góp vốn, dịch vụ, giá trị giao dịch của các ngân hàng nước ngoài theo các cam kết trong khuôn khổ Hiệp định khung về hợp tác thương m ại dịch vụ (AFAS) của Hiệp hội các nước ASEAN.  Với những quy định trong quá trình hội nhập này, các ngân hàng Việt Nam đã dần thích nghi và phát triển m ạnh m ẽ. Tính đến 30/6/2009, hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm 5 NHTMNN, 39 NHTMCP, 40 chi nhánh NHNNg, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh. Mạng lưới hoạt động của các ngân hàng đã trải rộng tới nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước 1.2.1 Cơ hội:  Khuôn khổ pháp lý sẽ hoàn thiện và phù hợp dần với thông lệ quốc tế, dẫn đến sự hình thành môi trường kinh doanh bình đẳng và từng bước phân chia lại thị phần giữa các nhóm ngân hàng theo hướng cân bằng hơn.  Kinh doanh theo nguyên tắc thị trường cũng buộc các NHTM phải có cơ chế quản lý và sử dụng lao động thích hợp, đặc biệt là hoạt động quản trị ngân hàng, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh trên thị trường tài chính. Hội nhập quốc tế sẽ làm Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 2/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng tăng uy tín và vị thế của hệ t hống ngân hàng Việt Nam, nhất là trên thị trường tài chính khu vực.  Có cơ hội khai thác và sử dụng hiệu quả lợi thế của các hoạt động ngân hàng hiện đại đa chức năng, có thể sử dụng vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý từ ngân hàng các nước phát triển. Ví dụ như việc bắt tay với các ngân hàng nước ngoài làm đối t ác chiến lược như mối lương duyên giữa ACB và Standard Chartered Bank, Techcombank và HSBC, Sacombank và ANZ…Các đối tác này giúp cho NHTM hiện đại hóa công nghệ, đặc biệt là giúp đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng.  Nhờ hội nhập quốc tế, các ngân hàng trong nước sẽ tiếp cận thị trường tài chính quốc tế dễ dàng hơn, hiệu quả tăng lên trong huy động và sử dụng vốn. Các ngân hàng trong nước sẽ phản ứng nhanh nhạy, điều chỉnh linh hoạt hơn theo tín hiệu thị t rường trong nước và quốc tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro.  Hội nhập còn tạo ra động lực thúc đẩy trong việc nâng cao tính m inh bạch của hệ thống ngân hàng Việt Nam . 1.2.2 Thách thức:  Mở cửa thị t rường tài chính làm tăng số lượng các ngân hàng có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ và trình độ quản lý. Áp lực cạnh tranh cũng tăng dần theo lộ trình nới lỏng các qui định đối với các tổ chức tài chính nước ngoài,  Mở cửa thị trường tài chính trong nước cũng làm tăng rủi ro do những tác động từ bên ngoài, cơ hội tận dụng chênh lệch tỉ giá, lãi suất giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế giảm dần. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam cũng phải đối mặt với các cơn sốc kinh tế, tài chính quốc tế và nguy cơ khủng hoảng. Trong trường hợp đó, thị trường vốn chưa phát triển sẽ khiến hệ thống ngân hàng phải chịu mức độ thiệt hại lớn hơn do rủi ro gây nên.  Nguồn nhân lực vốn đã hạn hẹp của các ngân hàng Việt Nam có thể buộc phải chia xẻ cho các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng- tiền tệ nước ngoài sau hội nhập, bởi họ thường có chế độ thu hút nhân lực cao thông qua chế độ lương và các ưu đãi khác. Một sự dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao có t hể diễn ra t heo hướng bất lợi làm suy giảm khả năng cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ Việt Nam .  Nguy cơ khủng hoảng tín dụng cao tập trung trong một số lĩnh vực làm gia tăng nguy cơ của hệ t hống ngân hàng, khiến rủi ro thua lỗ và giảm vốn ngân hàng trở nên khó dự báo. 1.3/ Lợi thế và yếu điểm trong quá trình hội nhập: 1.3.1. Lợi thế:  Các ngân hàng Việt Nam có lợi thế về đồng cảm văn hóa kinh doanh. Niềm tin và những đồng cảm văn hóa là sức hút chủ yếu của các ngân hàng thương mại trong nước trong việc tiếp tục củng cố m ối quan hệ truyền thống với khách hàng khi m à các đối t hủ cạnh tranh tỏ rõ sự hơn hẳn về nhiều phương diện.  Hiện tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đã xây dựng được hệ thống phân phối rộng khắp, đặc biệt là thị trường nông thôn. Hiểu biết và khả năng thâm nhập thị trường vẫn sẽ là thế mạnh vượt trội của các ngân hàng trong nước so với các ngân hàng nước ngoài.  Thị phần ổn định, đối tượng khách hàng mục tiêu đã tương đối định hình cũng là một lợi thế lớn của ngân hàng thương mại Việt Nam. 1.3.2. Yếu điểm : Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 3/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng  Vốn điều lệ NHTM Việt Nam so với NHNNg còn khá khiêm tốn, tuy mới bổ sung thêm hai đại gia là Vietcombank và Vietinbank, dự định sắp tới là BIDV. Điều này làm hạn chế khả năng kinh doanh của NHTM.  Công nghệ đã được cải thiện với core-banking (phần mềm quản lý lõi) giúp giao dịch trong nội bộ ngân hàng cực kỳ nhanh chóng, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu khách hàng, đặc biệt là đối với sản phẩm thẻ.  Khả năng quản trị rủi ro còn yếu. Hầu hết các NHTM, đặc biệt là ngân hàng có vốn nhỏ do áp lực doanh thu từ các nhà đầu tư nên không quan tâm nhiều đến các yếu tố rủi ro, nên khi nền kinh tế có biến động hoặc khủng hoảng, ngân hàng thường chính là nguồn khởi phát.  Nguồn nhân lực ngân hàng thường đạt tỷ lệ 70-80% thuộc trình độ đại học, nhưng khả năng ứng dụng kiến thức kinh tế được học và kỹ năng làm việc chưa chuyên nghiệp. Hầu hết đều phải được tái đào tạo lại để phù hợp với nhu cầu thực tế của đơn vị. Nguồn lực có hiểu biết và chuyên môn cao về tài chính và thị trường tài chính chưa nhiều. 2/ Dịch vụ ngân hàng Việt Nam: Ngân hàng là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ tài chính cho công chúng. Thành công của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực trong việc xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, t hực hiện các dịch vụ đó m ột cách có hiệu quả và bán chúng tại m ột mức giá cạnh tranh. Chính vì thế, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đang bước vào cuộc cạnh tranh m ới về phát triển dịch vụ với mục tiêu đem đến nhiều tiện ích cho khách hàng và giảm rủi ro kinh doanh. 2.1/ Những thành tựu  Môi trường pháp lý cho hoạt động cung cấp các dịch vụ ngân hàng đã được hình thành và đang ngày càng hoàn thiện. Các chiến lược và chính sách từ phía Nhà nước đã và đang định hướng m ột cách hiệu quả cho hoạt động của hệ thống ngân hàng.  Cùng với các TCTD là những chủ thể chính trong cung cấp dịch vụ ngân hàng, đã xuất hiện thêm nhiều trung gian tài chính của các chủ thể nước ngoài, các tổ chức khác không phải ngân hàng cũng tham gia cung cấp dịch vụ ngân hàng. Tất cả đã tạo nên sự cạnh tranh mạnh m ẽ trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên thị trường Việt Nam.  Các dịch vụ ngân hàng ở Việt Nam ngày càng trở nên đa dạng và phong phú. Cơ cấu lợi nhuận đang có những chuyển biến m ới. Thay vì lệ thuộc vào các hoạt động truyền thống như tín dụng và huy động vốn, các dịch vụ mới như dịch vụ thanh toán, hối đoái, bảo hiểm , tư vấn…. đã được đầu tư phát triển để khai thác tiềm năng to lớn của thị trường  Đối tượng được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế được m ở rộng hơn, bên cạnh các khách hàng là doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức kinh tế đã xuất hiện rất nhiều khách hàng là các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ.  Sự liên m inh, liên kết giữa các ngân hàng đã dần được hình thành và phát triển, tạo một hệ thống kênh phân phối đa dạng nhằm phục vụ và nâng cao chất lượng của các dịch vụ ngân hàng. Ví dụ như liên m inh thẻ Sm artlink của Vietcombank với 15 ngân hàng thành viên, mạng thanh toán Paynet… 2.2/ H ạn chế  Sản phẩm dịch vụ ngân hàng dù đã cố gắng phát triển, nhưng còn m ang tính truyền thống, nghèo nàn về chủng loại, chưa có tính đột phá. Bên cạnh đó, các ngân hàng chạy Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 4/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng đua cạnh tranh nhau về số lượng sản phẩm nhưng chưa chuẩn bị tốt về cơ sở hạ tầng, nên chất lượng dịch vụ cung cấp thường thấp, tính tiện ích chưa cao, chưa định hướng theo nhu cầu khách hàng.  Các dịch vụ ngân hàng chưa đáp ứng căn bản nhu cầu của các nhóm đối tượng khác nhau, trong đó phải kể tới các đối tượng là người có thu nhập thấp, người nghèo, người dân ở vùng sâu, vùng xa rất khó tiếp cận với dịch vụ ngân hàng. Đơn cử như tại các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng…thì chi nhánh ngân hàng rất nhiều, thậm chí có trên một con đường của Hà Nội có đến 8 chi nhánh của 8 ngân hàng, trong khi tại nông thôn thì phải đi hơn hai chục cây số mới tìm ra được m ột điểm .  Thị trường dịch vụ ngân hàng phát triển dưới m ức tiềm năng. Mức độ thoả mãn nhu cầu xã hội nói chung và đặc biệt nhu cầu của dân cư về dịch vụ ngân hàng còn nhiều hạn chế do khả năng cung ứng dịch vụ ngân hàng còn chưa vươn kịp với nhu cầu của xã hội.  Kênh phân phối của các ngân hàng không đa dạng, hiệu quả thấp, phương thức giao dịch và cung cấp các dịch vụ chủ yếu vẫn là giao dịch t rực tiếp tại quầy, các hình thức giao dịch từ xa dựa trên nền tảng công nghệ t hông tin chưa phổ biến. Dịch vụ ngân hàng điện tử chưa được triển khai rộng rãi, lượng khách hàng sử dụng còn ít, nhiều ngân hàng mới chỉ hoạt động ở m ức độ thử nghiệm, chưa đảm bảo mức độ an toàn cho giao dịch nên hiện tại giao dịch t hanh toán thương mại điện tử vẫn còn hạn chế. *** Nguyên nhân chủ yếu:  Quy m ô vốn của hệ thống ngân hàng nội địa còn thấp, khó tạo được năng lực cạnh tranh cho các ngân hàng.  Trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam còn thấp, trình độ nhận thức của số đông dân cư về các hoạt động ngân hàng còn hạn chế.  Thói quen của người dân Việt nam khi sử dụng tiền m ặt trong thanh toán chưa thể thay đổi được một mặt do các phương tiện thanh toán không dùng tiền m ặt tại Việt nam chưa thực sự tiện ích và chưa tiếp cận được m ọi người dân (do cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưa hoàn thiện).  Thị trường tài chính Việt nam chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của các tổ chức tín dụng về huy động vốn và đầu tư làm hạn chế khả năng cung cấp dịch vụ của các ngân hàng.  Khuôn khổ thể chế liên quan đến phát triển dịch vụ ngân hàng còn bất cập, chưa hoàn chỉnh và đồng bộ. Năng lực điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất của Ngân hàng nhà nước còn hạn chế. Chính sách quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá còn bất cập. Cơ chế quản lý, giám sát hoạt động ngân hàng chưa theo kịp tiến trình hiện đại hoá ngân hàng và chưa phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế  Hạ tầng công nghệ nói chung,công nghệ thông tin nói riêng và viễn thông quốc gia còn nhiều bất cập, phân tán, nhỏ lẻ và thiếu đồng bộ do đó đã không thể hỗ trợ cho quá trình phát triển, nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng. 2.3/ Tiềm năng:  Sự phát triển của kinh tế Việt Nam trong những năm qua nếu bỏ qua sự cố ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ thì được đánh giá là có những kết quả vượt bậc. Điều này dẫn đến sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam cũng trở nên sôi động nhằm đáp ứng tốt và đầy đủ vốn và nhu cầu lưu thông tiền tệ của các đơn vị kinh tế. Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 5/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng  Dân số Việt Nam hiện nay đã hơn 85 triệu người. Mức sống của người dân ngày càng nâng cao, thu nhập bình quân đầu người đã vượt con số 1.000 USD/người, sức mua (chi tiêu dùng) cũng tăng lên, tạo điều kiện cho các dịch vụ ngân hàng phát triển, m ở rộng nhằm đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng.  Quan điểm của người Việt Nam đối với các dịch vụ ngân hàng đã có nhiều thay đổi. Những người trẻ tuổi đã và đang tích cực tiếp cận với các tiện ích của các dịch vụ ngân hàng.  Sự cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ tài chính đang ngày càng trở lên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ. Tuy nhiên, áp lực cạnh tranh cũng đóng vai trò như m ột lực đẩy tạo ra sự phát t riển dịch vụ trong tương lai. II/ Sự phát triển của thị trường dịch vụ ngân hàng: 1/ Dịch vụ huy động vốn: 1.1/ G iới thiệu  Huy động vốn là một trong số những nghiệp vụ chính của ngân hàng. Theo Luật các tổ chức tín dụng số 07/1997/QHX, các tổ chức tín dụng được phép huy động vốn dưới các hình thức sau: - Nhận tiền gửi: của tổ chức, cá nhân, TCTD khác với các kỳ hạn khác nhau…. - Phát hành giấy tờ có giá: như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, giấy tờ có giá khác…. - Vay vốn giữa các tổ chức tín dụng: các TCTD được vay vốn của nhau. - Vay vốn ngắn hạn của ngân hàng nhà nước: dưới hình thức tái cấp vốn.  Trong số các hình thức huy động này, hình thức huy động vốn dưới dạng tiền gửi là hình thức chiếm tỷ trọng cao nhất và đem lại nguồn cung tiền lớn trong tổng nguồn vốn huy động tại các ngân hàng.  Vào những năm gần đây, dịch vụ huy động tiền gửi của các ngân hàng ngày càng trở nên đa dạng và linh hoạt hơn. Từ các hình thức tiền gửi truyền thống như tiền gửi tiết kiệm định kỳ, tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, ..., các hình thức tiết kiệm khác như tiết kiệm lãi suất bậc thang, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm rút gốc và lãi linh hoạt….cũng ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và đối phó với những diễn biến của nền kinh tế. Không những thế, nguồn vốn huy động từ dân cư đã tăng mạnh, chiếm 35-40% vốn huy động, tạo tiềm lực rất lớn cho sự phát triển các dịch vụ huy động của các ngân hàng. 1.2/ Thành tựu  Từ những năm 90, lượng vốn huy động được qua hệ thống ngân hàng tăng trưởng không ngừng với tốc độ nhanh và vững chắc. Trung bình mỗi năm, lượng vốn này tăng thêm đến 25-30%. Với sự ổn định của hệ thống đồng tiền Việt Nam và việc giảm mức lạm phát từ phi mã xuống còn một con số, các ngân hàng Việt Nam đã phát huy được hiệu quả trong các chiến lược huy động vốn của mình.  Cho đến những năm gần đây, khi phải đối diện với xu thế hội nhập của nền kinh tế nói chung và của hệ thống ngân hàng nói riêng, sự nỗ lực trong việc gia tăng nguồn vốn huy động từ các nguồn khác nhau của các ngân hàng vẫn không hề tụt giảm . Lượng vốn huy động vẫn không ngừng tăng thêm với tốc độ nhanh, năm 2005 là 32,08%, năm 2006 là 36,53% và năm 2007 là 47,64%. Năm 2008, do suy thoái kinh tế nên tốc độ này có sụt giảm nhưng vẫn ở mức 22,87% và đến năm 2009, ước tính tốc độ tăng trưởng nhẹ trở lại lên 28,7% Bi ểu đồ 1: H uy động vốn từ nền kinh tế Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 6/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng huy động vốn 60% 53.99% 50% 41.15% 36.17% 40% 47.64% 36.53% 30% 27.74% 32.08% 22.87% 29.66% 20% 22.81% 25. 31% 2005 2006 21.38% 10% 0% T ổng vốn 2007 Huy động vốn bằng VNĐ 2008 Huy đ ộng vốn bằn g ngoại tê Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước Biểu đồ 3: Tỷ trọn g huy độn g vốn Năm 2007 Năm 2008 NHTMNN và NH chính sách xã hội Khối NH cổ phần, Phi NH và Quỹ tín dụng Khối chi nhánh nước ngoài và liên doanh Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước  Trong tổng số vốn huy động của hệ thống ngân hàng, các NHTMNN vẫn luôn dẫn đầu về tỷ trọng huy động. Lượng vốn mà nhóm các ngân hàng này huy động chiếm trên 50% tổng vốn huy động. Trong khi đó, các NHTM cổ phần khác chỉ huy động được khoảng trên 30%, còn lại là các ngân hàng nước ngoài và các ngân hàng liên doanh. Với Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 7/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng tỷ trọng này, có thể thấy các ngân hàng nước ngoài vẫn còn giữ một thị phần khá khiêm tốn trong cuộc cạnh tranh về huy động vốn trên thị trường 1.3 Khó khăn và tồn tại : Bên cạnh sự tăng trưởng của lượng tiền huy động được, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn gặp rất nhiều hạn chế trong việc phát triển các dịch vụ huy động vốn của mình. Cụ thể như:  Lãi suất huy động vốn: Việc tăng hay giảm lãi suất huy động đối với một ngân hàng không phải là chuyện đơn giản bởi sự ràng buộc của các m ức lãi suất cho vay và lãi suất trần do NHNN quy định (đang có kiến nghị bỏ lãi suất trần này vào năm 2010). Tuy nhiên, để cạnh tranh, các ngân hàng Việt Nam thường không tính toán hiệu quả kinh tế khi đưa ra các mức lãi suất huy động khác nhau. Đặc biệt, vào các thời điểm vốn vay vượt mức vốn huy động, các NHTM trước nhu cầu về vốn lại càng chạy đua lãi suất. Trong năm 2008 và 2009 vừa qua, sự biến động một cách chóng mặt của lãi suất huy động (lên đỉnh 19%/ năm rồi giảm xuống m ốc 8% năm và đến thời điểm gần cuối năm 2009 lại lên mức 10,499%/năm) đã phản ánh tình trạng bất ổn của hệ thống lãi suất này. Với cuộc chay đua này, vô hình chung đã làm sụt giảm mức tỷ lệ lãi biên của các ngân hàng (năm 2009 chỉ còn 1%), đồng thời, tăng m ức rủi ro cho các hoạt động huy động.  Khách hàng: Trước đây, quan niệm ngân hàng là nơi giữ tiền an toàn và có lãi của khách hàng đã giúp cho lượng vốn huy động của ngân hàng luôn ở m ức cao. Nhưng ngày nay, người khách hàng đã có trình độ cao hơn, nhạy cảm hơn với lãi suất và thích những sản phẩm có tính thuận tiện và linh hoạt cao. Chính vì thế, để giữ chân được khách hàng, các ngân hàng cần phải nắm bắt được nhu cầu và phải đảm bảo các năng lực đáp ứng nhu cầu đó m ột cách hiệu quả  Sự phát triển của các kênh huy động khác: Càng ngày chứng khoán càng trở nên lộ diện là đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng về mặt huy động vốn trong dân. Trước kia chưa có chứng khoán thì người dân sẽ gửi tiền nhàn rỗi của mình vào các ngân hàng nhằm kiếm các khoản lợi tức. Nhưng nay, chứng khoán đã làm giảm lượng huy động vốn nhàn rỗi của các ngân hàng. Những người dân có tiền nhàn rỗi họ sẵn sàng lao vào đầu tư chứng khoán với hi vọng kiếm lời cao hơn là gửi tiền vào ngân hàng (tuy có rủi ro cao hơn) => Có thể thấy, hoạt động huy động vốn của ngân hàng Việt Nam vẫn tiếp tục gặt hái những thành công. Với lợi thế về hệ thống chi nhánh rộng khắp và những hỗ trợ t ừ phía Nhà nước, các NHTM Việt Nam thời gian vừa qua đã nắm giữ miếng bánh lớn của thị trường này. Tuy nhiên, kênh huy động vốn ngày càng đa dạng và tâm lý thích giữ tài sản của khách hàng đang là những rào cản lớn cho thị trường dịch vụ này. 2/ Dịch vụ tí n dụng 2.1 Giới thiệu:  Theo khoản 8 và khoản 10, điều 20, Luật các tổ chức tín dụng, hoạt động tín dụng được định nghĩa là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thoả thuận cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác. Như vậy, có thể thấy tín dụng là hoạt động quan trọng và tạo nguồn thu lớn cho các ngân hàng.  Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay còn quá non trẻ. Không những thế, các ngân hàng Việt Nam lại trải qua một thời gian dài “độc canh” trong lĩnh vực tín dụng với nội dung chính là huy động vốn, cho vay, chưa chú trọng đến lĩnh vực cung cấp các dịch vụ khác. Chính vì thế, sản phẩm và loại hình dịch vụ còn tẻ nhạt chưa có sức hấp Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 8/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng dẫn khách hàng. Cho đến thời gian gần đây, khi cạnh tranh gia tăng theo xu thế hội nhập, các ngân hàng mới bắt đầu quan tâm đến chất lượng tín dụng. Hoạt động tín dụng của các NHTM đã được mở rộng tới tất cả các thành phần kinh tế, dưới các hình thức cho vay ngày một đa dạng: cho vay vốn lưu động, cho vay vốn cố định, tín dụng thuê mua,... Đặc biệt, việc chuyển hướng mở rộng cho vay tiêu dùng thực sự là một hướng kích cầu có hiệu quả. 2.2/ Thành tựu  Cùng với sự gia tăng của hoạt động huy động vốn, các hoạt động tín dụng của các ngân hàng cũng gặt hái nhiều thành thành quả từ khi hệ thống ngân hàng tiến hành đổi mới. Và sau khi gia nhập W TO, hệ thống ngân hàng vẫn đang vững bước trên con đường phát triển của mình. Năm 2007, dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng tăng 53,89% so với năm 2006, cao hơn nhiều so với m ức tăng 25,44% của năm 2006. Năm 2008, tăng trưởng tín dụng có phần giảm sút nhưng vẫn đạt m ức 25,43%. Đến đầu năm 2009, tăng trưởng tín dụng tiếp tục giảm khiến Chính phủ phải điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng tín dụng từ dưới 30% xuống mức 25-27%, song mục tiêu này nhanh chóng bị phá vỡ chỉ. Những tín hiệu lạc quan cuối năm đã kéo mức tăng trưởng tín dụng của năm này lên vượt mức m ong đợi, ước tính là 37,73%. Với sự phục hồi này, Nhà nước cũng đã đặt m ục tiêu tăng trưởng tín dụng của năm 2010 là 25%. Biểu đồ 4: Tín dụng đối với nền kinh tế Biểu đồ 5: Tốc độ tăng trưởng tín dụng 60% 53.89% 50% 40% 37.73% 31.10% 30% 25.44% 25.43% 25. 00% 20% 10% 0% 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước  Tăng trưởng tín dụng cao nhất năm 2008 tập trung ở khối NHNNg và liên doanh, khối TCTD khác với mức tăng 46,55% và 46,27%. Trong khi đó, NHTMNN chỉ tăng có 19,25% và NHTM cổ phần là 22,49%. Tuy nhiên, về tỷ trọng cho vay, khối NHTMNN vẫn Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 9/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng chiếm tỷ trọng lớn nhất, trên 50%, các NHTMCP chiếm khoảng 33% và khối ngân hàng nước ngoài xấp xỉ 9% Biểu đồ 6: Tỷ trọng cho vay Năm 2007 Năm 2008 NHTMNN và NH chính sách xã hội Khối NH cổ phần, Phi NH và Quỹ tín dụng Khối chi nhánh nước ngoài và liên doanh Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước  Về cơ cấu tín dụng, tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông thôn (gồm ngành nông – lâm – thuỷ sản) chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu cho vay t heo ngành của hệ thống ngân hàng, khoảng 28,84%. Tỷ trọng cho vay ngành thương nghiệp chiếm 18,67%; tỷ trọng cho vay các ngành công nghiệp, xây dựng, vận tải, kho bãi năm 2008 được duy trì ổn định, chiếm 25,81%, 13,76%, 5,29% tổng dư nợ cho vay toàn ngành. Những lĩnh vực thu hút khối lượng lớn vốn tín dụng ngân hàng trong năm 2007 đó là đầu tư các dự án xây dựng nhà m áy điện, dự án đóng tàu, cảng biển, hàng không, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư bất động sản mà đặc biệt là các dự án khu nhà ở m ới và khu đô thị mới, đầu tư vốn trong lĩnh vực xuất khẩu và dịch vụ, nuôi trồng và chế biến thuỷ hải sản, sản xuất và chế biến một số loại nông sản chủ lực khác, dịch vụ du lịch,... Bên cạnh đó đối tượng đầu tư chứng khoán, vàng, tiêu dùng,... cũng thu hút m ột khối lượng rất lớn vốn tín dụng ngân hàng. 2.3/ Khó khăn và tồn tại:  Tương tự như hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng tuy là hoạt động truyền thống của các ngân hàng nhưng vẫn còn bộc lộ rất nhiều yếu điểm và ẩn chứa các rủi ro trong đó:  Rủi ro tín dụng: Tuy trong những năm gần đây, các ngân hàng đã tích cực hơn trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng, nhưng vẫn có một số tổ chức tín dụng vẫn chưa tuân thủ các điều kiện quy định về các biện pháp đảm bảo tiền vay. Điều này làm phát sinh những khoản nợ xấu và những khoản nợ không còn khả năng thu hồi. Từ năm 2004 đến 2007, tỷ lệ nợ xấu có phần nào giảm sút nhưng trong năm 2008, 2009, tỷ lệ này đang có chiều hướng tăng trở lại. Biểu đồ 7: Tỷ lệ nợ xấu trong tổng tín dụng ngân hàng Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 10/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng  Lãi suất: Lãi suất đã được ổn định dần trong thời kỳ kinh tế Việt Nam phát triển. Nhưng đến năm 2008, biến động của nền kinh tế thế giới đã buộc nhà nước ta phải tiến hành điều chỉnh lãi suất cơ bản với 3 lần lên và 5 lần xuống. Khái niệm “lãi suất cho vay tối đa” cũng xuất hiện trên thị trường. Các lãi suất khác như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu cũng có tần suất tương ứng. Đến năm 2009, lãi suất đã có phần ổn định với một lần điều chỉnh nhưng vẫn còn ẩn chứa rất nhiều rủi ro. Vậy việc điều chỉnh mức lãi suất với tần suất lớn như vậy liệu có phát huy vai trò của công cụ chính sách tiền t ệ hay không? Các quy định lãi suất cơ bản đến nay vẩn chưa được hoàn thiện, vẫn còn những ý kiến khác nhau, tuy nhiên, để nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhập thì việc quản lý có hiệu quả công cụ này cần phải có sự quan tâm hợp lý và đúng mức.  Lạm phát: Lãi suất cơ bản của hoạt động tín dụng có mối quan hệ m ật thiết với chỉ số lạm phát của m ột quốc gia. Mâu thuẫn giữa việc gia tăng lãi suất với việc kiềm chế lạm phát luôn là m ột vấn đề lớn đối với chính sách tiền tệ của hệ thống ngân hàng. Hiện nay, Việt Nam vẫn đang cố gắng điều hòa mối quan hệ này, tuy nhiên, xu thế hội nhập sẽ buộc các chính sách Việt Nam sẽ phải nới lỏng hơn, và khả năng kiềm chế lạm phát từ công cụ này có thể sẽ giảm trong tương lai.  Cạnh tranh của các NHNNg: Đến cuối tháng 10/2009, hầu hết các T CTD nước ngoài đều hoạt động có lãi (chênh lệch thu chi lũy kế của các ngân hàng nước ngoài đạt 2.947,5 tỷ đồng). Nguồn vốn huy động của các TCTD này tại Việt Nam tăng đến 17,8%, tổng dư nợ tín dụng tăng 14%, tổng tài sản có tăng 14,9% so với cuối năm 2008; trong đó, tỷ lệ nợ xấu chiếm dưới 1% trong tổng dư nợ. Có thể thấy, bên cạnh việc hoạt động hiệu quả, các TCTD nước ngoài luôn đảm bảo các tỷ lệ an toàn hoạt động và trích lập dự phòng rủi ro đúng quy định, nên nợ quá hạn rất thấp, dư nợ tăng trưởng lành m ạnh. Với thế m ạnh này, tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng trong tương lai có thể là rất lớn. => Hoạt động tín dụng của các ngân hàng trong thời gian vừa qua luôn đạt m ức tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, chất lượng tín dụng luôn là vấn đề hàng đầu đối với của các ngân hàng nội địa. Các NHNNg với tiềm lực về vốn mạnh, kinh nghiệm và thương hiệu, sẽ là mối đe dọa rất lớn trên thị trường dịch vụ này trong quá trình mở cửa hội nhập. 3/ Dịch vụ thanh toán 3.1/Giới thiệu:  Với yêu cầu chủ động hội nhập với khu vực và thế giới, các ngân hàng đã bắt đầu đổi mới hạ tầng công nghệ thông tin từ năm 1986. Giai đoạn 1990- 1998, được xem là giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới ngành ngân hàng và các dịch vụ thanh toán như: m ở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng, lắp đặt m áy ATM, tham gia hệ thống chuyển tiền quốc Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 11/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng tế SWIFT, thanh toán bù trừ điện tử, chuyển tiền điện tử…. Tuy nhiên, sự đón nhận của khách hàng đối với những sản phẩm m ới này còn rất hạn chế  Ngày 29/12/2006 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 291/2006/QĐTTg quy định về hạn m ức thanh toán bằng tiền m ặt, phí giao dịch tiền mặt và việc rút tiền mặt với số lượng lớn bằng Đồng Việt Nam trong giao dịch, thanh toán t ại Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2020. Việc ban hành Quyết định này cùng với sự đầu tư m ạnh cho quá trình hiện đại hóa ngân hàng đã hỗ trợ rất lớn cho việc thúc đẩy hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, giúp cho các dịch vụ thanh toán ngày càng trở nên đa dạng hơn đáp ứng nhu cầu của các đối tượng khác nhau. Cụ thể như, Ngân hàng Đông Á đã tung ra thị trường nhiều loại thẻ với nhiều tiện ích giành cho các chủ thể tham gia: thẻ Shopping card, thẻ đa năng bác sỹ, thẻ tín dụng DongA Bank, thẻ đa năng CK Card, thẻ đa năng Richard Hill, thẻ liên kết sinh viên; Ngân hàng Á Châu với thẻ ghi nợ quốc tế Visa Debit, thẻ ghi nợ nội địa 365 styles, thẻ ACB Card, thẻ tín dụng nội địa ACB, thẻ tín dụng quốc tế ACB Visa/Master Card, thẻ ACB Visa Electron/MasterCard Electronic, thẻ thanh toán quốc tế ACB Visa Prepaid/MasterCard Dynamic.  Các phương tiện t hanh toán và dịch vụ thanh toán dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại đã và đang tạo ra m ột diện mạo mới cho dịch vụ thanh toán của ngân hàng Việt Nam. 3.2/ Thành tựu:  Tổng phương tiện thanh toán của nước ta trong những năm gần đây vẫn tiếp tục tăng trưởng và phát triển không ngừng. Tuy nhiên, tốc độ tăng này có phần chậm lại. Năm 2007, tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán đạt 46,12% nhưng đến năm 2008 chỉ còn 20,31%. Trong đó, tài sản nước ngoài ròng chỉ tăng rất nhẹ, chủ yếu là tài sản có trong nước ròng. Biểu đồ 8: Tổng phương tiện thanh toán Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước  Mặc dù, tốc độ tăng trưởng có giảm sút, tổng phương tiện thanh toán vẫn tiếp tục ghi nhận sự thay đổi tích cực của tỷ trọng tiền mặt được sử dụng trong thanh toán. Năm 2001, tỷ trọng này là 23,7%, năm 2002 là 22,56%, năm 2003 là 22,03%, năm 2004 là 20,35%, năm 2005 là 19,01%, năm 2006 là 17,21%, năm 2007 là 16,36% và năm 2008 giảm xuống còn 14,6%. Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 12/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng Biểu đồ 9: Tỷ trọng tiền mặt được sử dụng trong thanh toán từ 2001-2008 25% 2 3.70 % 22.5 6% 22.0 3% 20.3 5% 20% 1 9.01% 17.2 1% 16.3 6% 14.6 0% 15% 10% 5% 0% 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước  Bằng việc nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp, các ngân hàng đã thu hút khá lớn lượng tiền m ặt dưới dạng tiền gửi thanh toán và đáp ứng lại cho thị trường nhiều loại t hẻ t hanh toán tiện ích. Hệ thống m áy QTM và số diểm ch6a1p nhận thẻ cũng tăng nhanh chóng. Đến năm 2009, ngành ngân hàng đã đạt tỷ lệ thanh toán không dùng tiền m ặt là 86%, tốc độ quay vòng đồng vốn của NHTM giảm từ 3-5 ngày t rong năm 2001 xuống chỉ 20 phút năm 2009 mà thôi Bảng 1: Hệ thống thanh toán các ngân hàng Năm Số m áy ATM Số điểm chấp nhận thẻ -POS Tổng số thẻ 2007 2008 Tháng 6/2009 4.813 7.051 8.800 12.548 24.760 28.300 9,18 triệu (32 tổ 13,4 triệu (32 tổ 17 triệu (41 tổ chức phát hành) chức phát hành) chức phát hành) Nguồn: Vietnam net  Bên cạnh đó, trong khuôn khổ triển khai các Đề án thanh toán không dùng tiền mặt trong khu vực công thuộc Quyết định 291, thời gian vừa qua, NHNN cũng đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan t ập t rung triển khai các nội dung và đã đem lại được những kết quả nhất định Trong các đối tượng hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, t ừ cuối năm 2007 đến cuối năm 2008, số đơn vị trả lương qua tài khoản đã tăng hơn 4 lần, từ 5.181 lên 21.562 đơn vị, số người nhận lương qua tài khoản đã tăng 3,7 lần từ 298.920 lên đến 1.132.442 người. Cuối năm 2008, hầu hết các cơ quan ở Trung ương đã triển khai cho 100% cán bộ công chức ở trụ sở chính như: Ngân hàng Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giao thông Vân tải, Văn phòng Chủ tịch nước v.v.  Đồng thời, để phục vụ cho việc thanh toán không dùng tiền m ặt, Nhà nước đã đầu tư xây dựng hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, được khai trương 02/2009, đánh dấu một giai đoạn mới thanh toán ngân hàng với những thay đổi cơ bản về kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Hiện nay, hệ thống điện tử liên ngân hàng đã sẵn sàng kết nối với hệ thống thanh toán của Kho bạc Nhà nước, hệ thống thanh toán bù trừ và quyết toán chứng khóan và các hệ thống cần t hiết khác. Đến nay, hệ thống đã kết nối được tất cả NHNN chi nhánh 63 tỉnh, thành phố trong cả nước với công suất thiết kế xử lý 2 triệu giao dịch/ngày. Hiện hệ thống có 472 đơn vị tham gia thanh toán là các ngân hàng, chi nhánh của các T CTD trong cả nước. Bình quân giao dịch đạt khoảng 40 đến 44 ngàn giao dịch/ngày, doanh số trung bình là 70 ngàn tỷ đồng/ngày Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 13/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng 3.3/ Khó khăn và tồn tại  Dịch vụ thanh toán là một dịch vụ khá m ới mẻ đối với người dân Việt Nam . Chính vì thế, dù đạt được rất nhiều kết quả khả quan trong thời gian vừa qua, những khó khăn trong việc phát triển vẫn rất nhiều và cần sự quan tâm hơn nữa của các ngân hàng:  Nhìn chung, thanh toán không dùng tiền m ặt tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa phát triển mạnh, tiền m ặt vẫn là phương thức thanh toán chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực công, doanh nghiệp và dân cư. Điều này xuất phát từ cơ sở pháp lý còn nhiều lỗ hổng và thiếu đồng bộ của nước ta.Ngày 25/11/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 91/CP về tổ chức công tác thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM), sau đó, ngày 20/9/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 64/2001/NĐ-CP về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, nhưng nội dung cả 2 nghị định trên đều quy định “ Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán có nghĩa vụ đáp ứng đầy đủ, kịp thời các nhu cầu về gửi và rút tiền mặt của người sử dụng dịch vụ thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật” (điều 13). Do vậy, tiền mặt đã nghiễm nhiên trở thành một công cụ thanh toán không hạn chế về đối tượng và phạm vi sử dụng. Biểu đồ 10: Cơ cấu tổng phương tiện thanh toán Nguồn: Số liệu thu thập từ báo cáo ngân hàng nhà nước  Chất lượng và tiện ích m ới trong thanh toán không dùng tiền m ặt còn hạn chế. Các tiện ích thiết thực và phổ biến như thanh toán tiền điện, nước, điện thoại, truyền hình cáp…. chưa được triển khai m ạnh trên thực tế. Chất lượng các m áy ATM bị than phiền rất nhiều. Việc xử lý các tình huống phát sinh của các ngân hàng trong quá trình cung cấp dịch vụ còn thiếu linh hoạt và chưa thỏa đáng.  Hệ thống các chi nhánh, các máy ATM phân bổ chưa hợp lý, mật độ chủ yếu vẫn tập trung dày đặc ở các thành phố lớn, còn ở những địa phương quy m ô nhỏ hơn thì hệ thống các ngân hàng lẫn các dịch vụ cung cấp rất khiêm tốn.  Hành lang pháp lý trong lĩnh vực thanh toán chưa hoàn thiện, m ặc dù ngày 19 tháng 11 năm 2005 vừa qua, Luật Giao dịch điện tử đã được Quốc hội thông qua, tạo hành lang pháp lý cho các nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tạo điều kiện cho ngân hàng tham gia sâu rộng vào các hoạt động thương mại đầu tư, cung cấp các dịch vụ thanh toán cho các chủ thể tham gia kinh doanh trực tuyến t rên m ạng trong phạm vi toàn xã hội.  Cơ sở hạ tầng về công nghệ chưa đáp ứng được yêu cầu về thanh toán không dùng tiền mặt: Có m ột thực tế trong nhiều năm trước đây, cơ sở vật chất của nhiều NHTM còn nhiều yếu kém do không có nhiều vốn để đầu tư trang bị máy móc thiết bị và công nghệ nên khi thực hiện công tác thanh toán giữa các tổ chức kinh tế thường chậm trễ, ảnh hưởng đến quá trình chu chuyển vốn. Thời gian gần đây, trước sự đòi hỏi của thị trường và cạnh tranh trong dịch vụ ngân hàng, tình hình đầu tư và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Ngân hàng đã được cải thiện nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế về m ặt công nghệ và con người nên quá trình này vẫn còn rất chậm chap. Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 14/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng  Các chi nhánh NHNNg thường đến từ những nước phát triển, nơi m à hệ thống ngân hàng tài chính cũng đạt đến trình độ phát triển tương đối cao nên hoạt động của các chi nhánh này tại Việt Nam cũng được thừa hưởng những ưu thế đó. Điều này được thể hiện rõ qua các loại hình dịch vụ cung cấp cho khách hàng, chất lượng dịch vụ cũng như thái độ phục vụ khách hàng. Các chi nhánh NHNNg thường tiên phong trong việc áp dụng công nghệ hiện đại, giới thiệu sản phẩm dịch vụ m ới. Do vậy, có thể nói các chi nhánh NHNNg thường chiếm ưu thế trong các dịch vụ thanh toán và hoạt động phi tín dụng. => Thị trường dịch vụ thanh toán ở Việt Nam vẫn còn hạn chế do thói quen sử dụng tiền mặt của người Việt. Tuy nhiên, trong tương lai, khi trình độ tiêu dùng được nâng cao, tính tiện ích của các hệ thống thanh toán mang lại sẽ thu hút rất nhiều khách hàng. Dịch vụ của các ngân hàng nội địa so với các NHNNg có thể vẫn còn thua kém , nhưng với sự năng động học hỏi và phát triển trong thời gian vừa qua thì thị trường dịch vụ này sẽ là thị trường béo bở cho cả hai khối ngân hàng. 4/ Dịch vụ ngoại hối: 4.1 Giới thiệu:  Ngoại hối là những công cụ tài chính quốc tế bao gồm: ngoại tệ tiền m ặt, kim loại quý, đá quý; vàng tiêu chuẩn quốc tế; đồng tiền tập thể (vd: SDR), đồng tiền chung, các công cụ tín dụng có ghi bằng ngoại tệ, dùng để thanh toán quốc tế; các công cụ tài chính có ghi bằng ngoại tệ dùng để đầu tư quốc tế….  Trong những năm 2000 trở về trước, khi mà đa số người dân Việt Nam chỉ biết đến ngân hàng với hai chức năng chính là huy động tiền tiết kiệm và cho vay vốn, thì các NHTM Việt Nam khi ấy cũng đã có triển khai m ột số các dịch vụ ngoại hối như: thanh toán quốc tế, chiết khấu các giấy tờ có giá, chi trả và ủy nhiệm đại lý phụ là tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế thực hiện chi trả kiều hối,…Theo thông tư số 3/2008/TT-NHNN của NHNN Việt Nam ban hành ngày 11/04/2008, thì hiện nay, tại thị trường trong nước, các dịch vụ ngoại hối m à Ngân hàng được phép cung ứng bao gồm: - Cung cấp các dịch vụ hối đoái dưới hình thức giao dịch giao ngay (Spot operation), kỳ hạn (forward operation), hoán đổi (Swap operation), quyền chọn (Option); - Huy động vốn, cho vay và bảo lãnh bằng ngoại tệ - Phát hành, đại lý phát hành thẻ quốc tế - Cung cấp các dịch vụ chuyển tiền và thanh toán (trong nước và quốc tế) cho các đối tượng quy định trong Nghị định 160; nhận và chi trả ngoại t ệ - Chiết khấu và tái chiết khấu các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ - Ủy nhiệm cho tổ chức tín dụng khác và tổ chức kinh tế làm đại lý cung ứng một số dịch vụ ngoại hối, bao gồm dịch vụ đổi ngoại tệ, dịch vụ nhận và chi trả ngoại tệ và các dịch vụ khác được quy định trong Nghị định - Cung cấp các dịch vụ ủy thác và quản lý tài sản bằng ngoại hối - Cung cấp các dịch vụ ngân hàng đầu tư bằng ngoại hối (mua, bán, sát nhập, bảo lãnh và làm đại lý phát hành chứng khoán bằng ngoại tệ…) - Cung ứng các dịch vụ tư vấn cho khách hàng về ngoại hối….  Còn trên thị trường quốc tế, Nhà nước cho phép ngân hàng được: - Cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế - Thực hiện các giao dịch m ua, bán ngoại hối và vàng trên thị trường nước ngoài Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 15/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng - Tham gia các thị trường tiền tệ, thị trường phái sinh ở nước ngoài - Cung cấp các dịch vụ quản lý tài sản tài chính của khách hàng ở nước ngoài - Cung cấp các dịch vụ ngân hàng đầu tư bằng ngoại hối (mua, bán, sát nhập, bảo lãnh và làm đại lý phát hành chứng khoán bằng ngoại tệ…) trên thị trường quốc tế  Các NHTM khi m uốn thực hiện cung ứng các dịch vụ ngoại hối nêu trên thì phải đáp ứng được một số các điều kiện do NHNN quy định như: phương án hoạt động cung ứng dịch vụ đã được Hội đồng Quản trị thông qua, có đầy đủ trang thiết bị cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu thực hiện dịch vụ, có nhân sự am hiểu về hoạt động ngoại hối, có cơ chế kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán nội bộ, tuân thủ tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động,…không vi phạm các quy định hiện hành về quản lý ngoại hối trong 1 năm và hoạt động kinh doanh có lãi trong năm liền kề năm đăng ký hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế. Chính vì những quy đinh gắt gao này nên số lượng ngân hàng phát triển kinh doanh dịch vụ này không nhiều và các sản phẩm cũng chưa thực sự đa dạng. 4.2 Thành tựu Thanh toán quốc tế: Quan hệ ngoại thương đang được m ở rộng, các dòng vốn đầu tư từ nước ngoài cũng như hoạt động XNK của doanh nghiệp Việt Nam ngày càng sôi động và khởi sắc hơn sau hội nhập, những động thái này đã thúc đẩy các hoạt động thanh toán phát triển. Các dịch vụ thanh toán quốc tế được đa dạng hóa hơn. Các nguồn thu cũng nhiều hơn ngoài những nguồn thu truyền thống như từ phí chuyển tiền thanh toán, phí mở thư tín dụng (Letter of Credit – L/C), phí bảo lãnh. Bên cạnh đó, hệ thống NHTM cũng đã tích cực trong việc đổi m ới quy trình nghiệp vụ, nâng cao t rình độ xử lý chứng từ thanh toán và tư vấn, ký kết với rất nhiều các đối tác là ngân hàng nước ngoài đề làm đại lý. Điều này đã giúp cho quá trình thanh toán quốc tế của ngân hàng hiện nay trở nên nhanh chóng và tiện lợi hơn rất nhiều. Nếu như trước đây để xử lý một lệnh chuyển bằng điện (T elex Transfer – T/T), doanh nghiệp phải chờ đợi từ 3-4 ngày, thậm chí cả tuần lễ để chuyển đến người nhận (do thời gian xét duyệt hồ sơ thanh toán, báo có chủ yếu qua tài khoản trung gian tại Ngân hàng Mỹ, rồi từ đây mới có thể chuyển đến tài khoản người nhận tại nước đến t hứ ba). Đến nay, thời gian chuyển tiền bằng điện đã được rút ngắn đáng kể, trung bình chỉ còn mất 2 ngày Các dịch vụ hối đoái:  Ở Việt nam , các nghiệp vụ phái sinh mới bắt đầu được sử dụng từ đầu những năm 2000. Tuy nhiên, các nghiệp vụ phái sinh còn m ang tính thí điểm và đơn lẻ. Số lượng giao dịch của các công cụ này còn hết sức khiêm tốn. Một số tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện giao dịch các công cụ phái sinh như: Chi nhánh Ngân hàng Citibank, Ngân hàng Standard Chartered, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương, HSBC, nhưng doanh số và số các khách hàng tham gia còn hết sức khiêm tốn. Về quyền chọn ngoại tệ (ngoại t ệ/VND): NHNN đã cho phép thực hiện thí điểm đối với NHTMCP Quốc tế, Ngân hàng Ngoại thương; NHTM cổ phần Á Châu, NHĐT&PT, NHTMCP Kỹ thương, NHTMCP Quân đội, nhưng doanh số về hoạt động này vẫn không đáng kể so với doanh số các hoạt động truyền thống.  Tuy nhiên trong thời gian gần đây, lợi nhuận kinh doanh hối đoái của ngân hàng bao gồm lệ phí và lời từ hoạt động tự doanh của ngân hàng ngày càng tăng lên. Cụ thể như năm 2008 các ngân hàng Eximbank, Dong A bank…, đã thu nguồn lợi đáng kể từ kinh doanh ngoại hối, đặc biệt là ngân hàng ACB với tỷ trọng kinh doanh hối đoái trong tổng thu nhập lên đến 77% Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 16/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng Bảng 2: Tỷ trọng kinh doanh hối đoái của các ngân hàng STT Lợi nhuận 2008 (tỷ VND) Ngân hàng 1 ACB 2 Tỷ trọng/tổng thu nhập 1.600 77% Eximbank 470 9.3% 3 Sacombank 11 10% 4 Dong A bank 333 22.51% 5 Vietinbank 290 1.4% 6 Techcom bank 230 14.38% (Nguồn: tổng hợp Báo cáo tài chính các NH năm 2008) Dịch vụ kiều hối: Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam trong thời gian trước năm 2000 là rất ít. Mục đích của lượng kiều hối này ban đầu chỉ là trợ cấp cho thân nhân ở Việt Nam . Nhưng sau này, khi nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phát triển m ạnh, lượng kiều hối cũng dần tăng lên. Những Việt kiều cũng bắt đầu chuyển ngoại tệ về để nhờ người thân đầu tư chứng khoán, bất động sản, gửi tiết kiệm (do lãi suất Việt Nam có khi lên đến 8-10%/năm còn ngân hàng nước ngoài chỉ khoảng 2-3%/năm). Bảng 3: Lượng kiều hối chuyển về VN qua các năm Năm 1993 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2700 3200 4000 4700 7200 8000 6800 141 Số tiền (triệu USD) Nguồn: Tổng cục thống kê & Bộ tài chính Tuy nhiên, năm 2009, lượng kiều hối có phần giảm sút do khủng hoảng nhưng nguồn cung ngoại tệ này vẫn khá vững chắc. Theo đánh giá, đây vẫn là nguồn bổ sung hiệu quả cho dự trữ ngoại tệ quốc gia và góp phần giúp cải thiện cuộc sống của người dân VIệt Nam rất nhiều (trung bình 1 người dân Việt Nam nhận 100 USD tiền kiều hối /năm). Đồ thị lượng kiều hối từ 1993-2009 9000 8000 7000 6000 5000 4000 3000 2000 1000 0 1993 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Nguồn: Tổng cục thống kê & Bộ tài chính Đứng trước làn sóng tiền kiều hối chuyển về Việt Nam, các ngân hàng đã tích cực thay đổi phương pháp tiếp cận theo hướng chủ động hơn. Cụ thể như Vietcom bank, Dong A bank, Vietinbank đã ký kết với các NHNNg, các công ty kiều hối nước ngoài để quảng bá dịch vụ và các thông tin cần thiết để chuyển tiền nhằm thu hút khách hàng tại đầu nhận Việt Nam Một số các ngân hàng thì lại lựa chọn hình thức là ký kết làm đại lý cho công ty Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 17/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng chuyển tiền nước ngoài như ACB, Vietibank ký với Western Union; Vietcombank, Dong A bank, VIB, Saigonbank ký kết với Money Gram. Với thế mạnh uy tín t hương hiệu trên toàn thế giới và công nghệ hiện đại của các tổ chức này, giao dịch chuyển t iền đã trở nên cực kỳ nhanh chóng, hình ảnh của các NHTM cũng đang trở nên gần gũi hơn với khách hàng, có chỗ đứng trong giao dịch kiều hối chuyển về. Đầu tiên phải kể đến Vietcom bank với 1.5 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2007. Kế đến là công ty kiều hối Đông Á, trực thuộc Dong A bank với khoảng 1.2 tỷ USD, chiếm 15% lượng kiều hối chuyển về 2008. Thứ ba là Vietinbank với 900 triệu USD. Anh cả đỏ Agribank đứng thứ 4 với 870 triệu USD. Các dịch vụ ngoại hối khác:  Bao thanh toán – Factoring: Hiện nay, Hiệp hội Bao thanh toán quốc tế có 200 thành viên ở 60 quốc gia thì Việt Nam có 11 ngân hàng đã được cấp phép thực hiện dịch vụ bao thanh toán, bao gồm 4 ngân hàng thương m ại trong nước: Vietcom bank, ACB, Sacom bank, Techcom bank và 7 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam .  Dịch vụ quản lý vốn trên tài khoản của khách hàng: đã được Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam triển khai đối với Tổng công ty Công nghiệp t àu thuỷ Việt Nam về khoản vốn gần 750 triệu USD trái phiếu quốc tế phát hành cuối năm 2005.  Phát hành và làm đại lý phát hành thẻ quốc tế: Đây là một trong những sản phẩm được xem là có tiềm năng phát triển mạnh trước xu thế hội nhập tại VN, được các NHTM khá quan tâm . Hiện tại, ở Việt Nam có 5 NHTM được chấp nhận làm đại lý phát hành và thanh toán thẻ tín dụng quốc tế của các tổ chức thẻ: VISA, Master Card, Am ex,... 4.3 Khó khăn và tồn tại :  Các NHTM trong thời gian qua do vốn ít, khả năng phát triển sản phẩm kém, rủi ro cao, và hoạt động marketing của ngân hàng còn hạn chế nên sản phẩm được nhiều khách hàng cá nhân và doanh nghiệp biết đến. Điều đó phần nào dẫn đến tập quán sử dụng các dịch vụ kiều hối chui của người dân. Và cho đến nay, những hoạt động ngầm này vẫn đang nắm giữ một nguồn ngoại tệ khá lớn của thị trường  Diễn biến của thị trường ngoại hối trong những năm khủng hoảng kinh tế đầy bất ồn. Các rủi ro tăng cao khi giá vàng, giá USD liên tục trồi sụt. Các hoạt động găm giữ ngoại tệ để kiềm giá đã tác động không nhỏ đến các chỉ số tỷ giá. Thị trường xuất nhập khẩu cũng bị ảnh hưởng rất lớn bởi biến động này, thâm hụt thương m ại càng dẫn đến những chuyển biến xấu trong thị trường ngoại tệ. T uy tình hình vào đầu năm 2010 đã dần ổn định nhưng rủi ro vẫn là rất lớn Bi ểu đồ 12: Nhập siêu gia tăng Nguồn: Tổng cục thống kê Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 18/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng Biểu đồ 13: Tiền đồng yếu đi Nguồn: Ngân hàng phát triển Châu Á Biểu đồ 14: Giá vàng Việt Nam năm 2009 Nguồn: www.giavang.net  Hiện nay, đáp ứng nhu cầu có thực của khách hàng tại Việt Nam về vấn đề chuyển tiền ra nước ngoài của cá nhân người cư trú và không cư trú, Nhà nước đã có các công văn hướng dẫn cho các tổ chức tín dụng là ngân hàng trong hoạt động này, nhưng quy định lại chưa cụ thể dẫn đến khó khăn trong tác nghiệp của ngân hàng. Mỗi ngân hàng tự ra hạn mức chuyển và hồ sơ chuyển dẫn đến chưa nhất quán trong phục vụ. Hoạt động kiểm soát của NHNN vẫn chưa đầy đủ, vẫn còn lỗ hổng trong kiểm soát hạn mức chuyển tiền trong toàn hệ thống ngân hàng đối với khách hàng  Mặc dù thị trường các công cụ tài chính phái sinh đã hình thành ở Việt Nam, nhưng còn rất nhỏ bé và chưa phổ biến. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do m ức độ phát triển của thị trường tiền tệ, thị trường vốn còn thấp dưới “tầm” tác động của các cơn gió lớn hay cơn bão t ài chính quốc tế. Tư duy kinh doanh truyền t hống còn phổ biến, trong thực tế, những biến động về tỷ giá, lãi suất được dự báo khá “chắc chắn” và giống nhau giữa các “nhà” có mặt trên thị trường tài chính và những “sai lệch” dễ dự báo đó được các bên “cân đối” ngay vào giá của sản phẩm chính như lãi suất, tỷ giá, chứng khoán. Ngoài ra, tham gia thị trường tài chính Việt nam còn thiếu các nhà đầu tư am hiểu về lợi ích cũng như kỹ thuật tính toán lợi nhuận từ các loại nghiệp vụ này. Các nhà môi giới chuyên nghiệp, các trung gian tài chính đủ năng lực tổ chức thị trường phái sinh còn quá ít trên thị trường tiền tệ, thị trường tín dụng, thị trường chứng khoán Việt nam để thúc đẩy các nhà đầu tư tham gia mạnh mẽ vào thị trường phái sinh. Bản thân các khách hàng nói chung, các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng còn dè dặt áp dụng công cụ phái sinh. => Thị trường ngoại hối trong những năm gần đây luôn có biến động. Các ngân hàng kinh doanh các dịch vụ này có thể thu lợi lớn nhưng rủi ro cũng rất cao. Trong khi đó, một số dịch vụ có tiềm năng nhưng đối t ượng tiếp cận là các doanh nghiệp và cả những cá nhân lại chưa quan tâm. Thị trường dịch vụ này cần được phát triển hơn nữa trong tương lai. 5/ Dịch vụ khác:  Dịch vụ Ngân hàng điện tử: Bắt tay triển khai từ 2005 với sản phẩm đầu tiên là Internet banking, hiện nay, sản phẩm ngân hàng điện tử đa dạng hóa hơn với Hom e banking, Phone banking, SMS banking, Mobile banking và ví điện tử. Hiện nay theo Cục công nghệ tin học NHNN, có 25/49 tổ chức tín dụng trong nước có triển khai dịch vụ ngân hàng điện tử nêu trên. Về tiện ích, ngân hàng điện t ử giúp tiết kiệm được thời gian và giảm được phần chi phí phát sinh khi giao dịch trực tiếp. Tuy nhiên, bên cạnh những hứa hẹn về sự tiện lợi, vấn đề an toàn, bảo m ật đang là điều thu hút khá lớn sự quan tâm của khách hàng của dịch vụ này Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 19/25 GVGD: PGS.TS. Vũ Thị Minh Hằng  Cho thuê tài chính – Finance Leasing: Dịch vụ cho thuê tài chính hay còn gọi là tín dụng thuê m ua ra đời dựa trên nhu cầu vay vốn m ua máy móc, thiết bị và các tài sản có giá trị lớn của doanh nghiệp để phục vụ cho m ục đích kinh doanh. Hình thức đang được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Ðức, Thụy Ðiển, Úc.. Tại Việt Nam, sản phẩm này cũng đang gây được sự chú ý của các doanh nghiệp và cả các ngân hàng. Hiện nay, các ngân hàng như Vietcombank, ACB, Vietinbank, Sacom bank đều đã thành lập công ty chuyên cho thuê tài chính trực thuộc ngân hàng.  Dịch vụ phục vụ cho kinh doanh chứng khoán: Hiện nay, có nhiều dịch vụ ra đời đáp ứng nhu cầu chơi chứng khoán của khách hàng. Trong đó, nổi bật nhất là dịch vụ quản lý tài khoản của nhà đầu tư chứng khoán. Dịch vụ này được các ngân hàng thực hiện thông qua 3 giải pháp kết nối: giải pháp Online, giải pháp Offline, giải pháp đồng bộ số dư. Đồng thời, đi kèm với dịch vụ là hàng loạt các tiện ích do các ngân hàng cung cấp để tăng tính hấp dẫn.  Các dịch vụ cho du học: Khi đất nước mở cửa, thu nhập tăng cao thì nhu cầu học tập tại nước ngoài cũng không ngừng tăng lên. Tính đến gần cuối năm 2009, tại Mỹ có 13 ngàn du học sinh Việt Nam , t ăng 46% so với năm 2008, tại Australia là 21 ngàn, tăng 58% so với cùng kỳ năm ngoái. Đáp ứng nhu cầu thiết thực ấy, các ngân hàng đã tiến hành cho ra đời các sản phẩm phục vụ cho đối tượng du học sinh này như tư vấn mở tài khoản tại ngân hàng nước ngoài, tư vấn chuyển tiền, phát hành bankdraft, cho vay du học, chứng minh tài chính phục vụ cho quá trình xin học và xin thị thực của du học sinh….  Giữ hộ tài sản: Hiện một số ngân hàng đã bắt đầu đưa vào sử dụng dịch vụ này nhằm đưa ra m ột giải pháp hiệu quả, an toàn hơn cho khách hàng trong việc cất giữ những tài sản của mình. Tuy nhiên, lượng khách hàng tham gia dịch vụ này chưa nhiều do tâm lý và thói quen. Trong tương lai, dịch vụ này có thể sẽ phát triển nhờ những tiện ích m à nó mang lại. => Rất nhiều các loại hình dịch vụ mà các ngân hàng có thể khai thác để cung cấp cho khách hàng. Tùy vào năng lực và thế m ạnh của m ình, các ngân hàng có thể lựa chọn những loại hình phù hợp. Thế nhưng, cần phải xác định rõ tỷ trọng của các loại hình dịch vụ m ới mẻ này để có hướng phát triển phù hợp. III/ Định hướng phát triển của các dịch vụ ngân hàng: 1/ Những dự đoán về kinh tế thế giới và Việt Nam trong năm 2010:  Theo đánh giá sơ bộ của IM F, kinh tế toàn cầu sẽ phục hồi và tăng 3,1% năm 2010 sau khi giảm 1,1% năm 2009, chủ yếu nhờ các nền kinh tế châu Á với mức tăng trưởng GDP thực đạt gần 5% sau khi tăng 1,75% trong năm 2009, những nền kinh tế mới nổi khác có tốc độ phục hồi khiêm tốn. Các nưóc phát triển chỉ tăng 1,25% sau khi giảm 3,5% trong năm 2009, tỉ lệ thất nghiệp còn cao cho đến cuối năm. Trên toàn cầu, tốc độ phục hồi nhìn chung rất chậm và hoạt động kinh tế vẫn còn kém xa thời điểm trước khủng hoảng  Còn ở Việt Nam , 22 chỉ tiêu chủ yếu của năm 2010 đã được xác lập với niềm tin và triển vọng của một nền kinh tế tăng trưởng cao hơn năm 2009, tạo t iền đề để tăng trưởng nhanh và bền vững trong những năm t iếp theo:  GDP sẽ tăng khoảng 6,5% so với năm 2009 (GDP theo gía trị thực tế khoảng 1.931,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 106 tỷ USD, bình quân đầu người trên 1.200USD)  Tổng thu Ngân sách Nhà nước đạt 4.456,4 nghìn tỷ đồng  Tổng chi Ngân sách Nhà nước 581,9 nghìn tỷ đồng  Bội chi Ngân sách Nhà nước 125,5 nghìn tỷ đồng, bằng 6,5% GDP Nhóm 9 – Đêm 1 K19 Pg 20/25
- Xem thêm -