Thị trường bảo hiểm và giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm ở việt nam

  • Số trang: 122 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 16 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIẢO DỤC VẢ ĐẢO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G & ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÁP BỘ TÊN ĐỂ TẢI THỊ T R Ư Ờ N G BẢO HIỂM VẢ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM Mã sô: B 2005 - 04 -54 CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS. TS NGUYỄN NHƯ TIẾN HÀ NÔI - 2005 BỘ GIẢO DỤC VÀ ĐẢO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI T H Ư Ơ N G & ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÁP BỘ T Ê N Đ Ẽ TẢI THỊ T R Ư Ờ N G BẢO HIỂM V À GIẢI P H Á P P H Á T TRIỂN THI T R Ư Ờ N G BẢO H I Ể M Ở VIÊT N A M M ã SỐ: B 2005 "04-54 Chủ nhiệm đề tài: PGS, TS Nguyễn Như Tiến Nhũng người tham gia: TS. Trịnh Thu Hương Ths. Vương Bích Ngà CN. Ph m Thanh H à HÀ NỘI - 2005 BỘ GIẢO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG & ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÁP BỘ TEN Đ Ẽ TẢI THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THI TRƯỜNG BẢO HIỂM Ở VIÊT NAM M ã sô: B 2005-04-54 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CHÚ NHIÊM ĐẾ TÀI: K/T HIỆU TRƯỞNG HIỆU TRƯỞNG PGS. TS NGUYÊN NHƯ TIÊN HÀ NÔI - 2005 MỤC LỤC Trang Lòi nói dầu ' C H Ư Ơ N G ì: Sự RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN THỊ T R Ư Ờ N G BẢO HIỂM VIỆT NAM 3 ì. Khái quát về thị trường bảo hiểm 3 1. Đ ỏ i nót vềvấn đềthị trường 3 2. Thị trường bảo h i ể m 4 li. Các giai đoạn phát t r i ể n của thị trường bảo hiểm V i ệ t n a m 1. Thị trường bảo h i ể m V i ệ t n a m trước nghị định 100 CP 10 l i 2. Thị trường bảo h i ể m V i ệ t n a m sau nghị định 100 CP 16 I U . Những điểm cơ bản của thị trường bảo hiểm Việt n a m những n ă m gần đây 2 1 1. C ơ cấu thị trường 22 2. Q u y m ô thị trường 22 3. Các hoạt động k i n h doanh trên thị trường 24 C H Ư Ơ N G li: Cơ HỘI VẢ T H Á C H THỨC Dối VỚI THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM 34 ì. X u thế phát t r i ể n của thị trường bảo hiểm t h ế giói 34 1. X u thế gia tăng các k h ố i "Liên m i n h chiến lược" 34 2. X u thế hình thành "Ngân hàng-Bảo h i ể m " 36 3. X u thế m ở cậa, t ự do hóa thị trường 38 li. C ơ hội đôi với thị trường bảo hiểm Việt n a m H I . Thách thức đối với thị trường bảo hiểm Việt n a m 41 52 CHƯƠNG IU: M Ộ T số GIAI PHÁP PHÁT TRIEN THỊ T R Ư Ờ N G BẢO HIEM VIỆT NAM TRƯỚC YÊU CÀU HỘI NHẬP 67 ì. Quan điểm phát t r i ể n t h i trường bảo hiểm của V i ệ t n a m trước yêu cầu hội nhập. 1. H ộ i nhập k i n h l ố q u ố c tố của V i ệ t n a m - Bản chất và yêu cầu 2. Quan điểm phát t r i ể n thị trường bảo h i ể m V i ệ t n a m trước yêu cầu h ộ i nhập. 67 G7 69 l i - Phương hướng và chỉ tiêu phát t r i ể n thị trường bảo h i ể m V i ệ t n a m đến 2010 78 1. Phương hướng phát triển thị trường báo hiểm V i ệ t nam đến 2010 79 2. M ộ t số chỉ tiêu cụ thể phát triển thị trường bảo hiểm V i ệ t nam đến 2010 80 H I . Giải pháp phát triển thị trưởng bảo hiểm Việt nam trước yêu cầu hội nhập 84 Ì. Giải pháp về phía N h à nước 84 2. Giải pháp về phía hiệp hội bảo hiểm 91 3. Giải pháp về phía doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. 93 KẾT LUẬN 104 PHỤ LỤC TÀI LIỆUTHAM KHẢO. LỜI NÓI ĐÂU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ khi đất nước mở cửa, đặc biệt sau nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của chính phủ về kinh doanh bảo hiểm, thị trường bảo hiểm Việt nam đã có sự biến đổi sâu sắc. Thị trường bảo hiểm từ thế độc quyền chuyển sang cữnh tranh, rất nhiều yếu l ố mới phát sinh. Từ một doanh nghiệp độc quyền kinh doanh trên thị trường, đến nay đã da dững hoa thành phần sở hữu doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh lê khác nhau tham gia hoữt động kinh doanh trên thị trường, cơ cấu doanh nghiệp hoa hài hoa với sản phẩm kinh doanh đa dững, phong phú. Thị trường bảo hiểm năng động và có tốc độ tăng trưởng cao. Mặc dù có nhiều chuyển biến sâu sắc song thị trường bảo hiểm Việt nam hiện đang phải đối mặt với cả cơ hội cũng như thách thức vô cùng lớn. Đứng trước yêu cầu hội nhập, việc nghiên cứu thị trường bảo hiểm để tìm ra những giải pháp cho sự phát triển thị trường bảo hiểm Việt nam, theo chúng tôi là việc làm hết sức cần thiết và rất có ý nghĩa cả về lý luận cũng như thực tiễn hiện nay. 2- Mục đích nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu sự ra đời và phát triển của thị trường bảo hiểm Việt nam, phân tích cơ hội và thách thức thị trường bảo hiểm Việt nam trong quá trình hội nhập qua dó tìm những giải pháp phái triển thị trường bảo hiếm Việt nam đáp ứng yêu cầu hội nhập. 3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: Thị trường bảo hiểm Việt nam * Phữm vi nghiên cứu: Thị trường bảo hiểm Việt nam trước và sau nghị định 100/CP của Chính phủ, đặc biệt đi sâu nghiên cứu diễn biến thị trường bảo hiểm Việt nam những năm gần đây. 4- Phương p h á p nghiên cứu: Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sát... để thực hiện mục đích nghiên cứu. 5- Kết quả đạt dược - Làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoữch định chính sách phát triển và quản lý thị trường bảo hiểm. Ì - Làm tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm - Làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập cho các trường đại học và cao đẳng khối kinh tế, tài chính, ngân hàng có chuyên ngành bảo hiểm. 6- Kết cấu de tài: Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, phần còn lại dược bố trí thành 3 chương: + Chương ì: Sự ra đời và phát triển thị trường bảo hiểm Việt nam + Chương l i : Cơ hội và thách th c đối với thị trường bảo hiểm Việt nam + Chương HI: Một số giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm Việt nam trước yêu cầu hội nhập. Sau đày là nội dung nghiên c u của đề tài: 2 CHƯƠNG ì Sự RA ĐỜI VẢ PHÁT TRIỂN T H Ị TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT N A M ì - Khái quát về thị trường bảo hiểm Ì- Đôi nét về vân đề thị trường Thị trường là một phạm trù kinh lố gắn liền với nền sản xuất hàng hoa. Cho đến nay đã có rất nhiều quan điểm về thị trường cũng như tài liệu bàn về vấn đề thị trường. Có quan điểm cho rằng thị trường bao gồm toàn bộ các hoạt động trao đổi hàng hoa được diễn ra trong sỏ thống nhất hữu cơ với các mối quan hệ do chúng phát sinh gắn liền với một không gian nhất dinh. Quan điểm khác lại cho rằng thị trường là trung tâm của các hoạt động kinh tế, là nơi diễn ra các quan hệ trao đổi, là lĩnh vỏc lưu thông hàng hoa mà ỏ đó hàng hoa thỏc hiện giá trị của mình đã được tạo ra trong quá trình sản xuất. Thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu, là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoa bằng tiền tệ. Còn theo góc độ marketing thì thị trường bao gồm tất cả nhũng khách hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoa mãn nhu cầu và mong muốn đó. Qua các quan điểm đã nêu trên đây, chúng ta thấy khái niệm về thị trường tuy theo giác độ nghiên cứu mà các tác giả đưa ra có thể khác nhau về ngôn từ, cách diễn đạt nhưng có những điểm chung giống nhau. Trước hết hành vi cơ bản của thị trường là hành vi mua và bán. Thông qua hành dộng mua và bán hàng hoa, dịch vụ, người mua tìm được cái mình đang cần và người bán bán được cái mình có với giá thoa thuận. Hành vi mua bán được diễn ra trong không gian và thời gian nhất định và tại ra những mối quan hẹ kinh tố trong nền kinh tế xã hội, quan hệ giữa sản xuất với tiêu dùng, quan hệ giữa cung và cầu, quan hệ giữa dối lác và cạnh hanh, quan hệ hàng hon với tiền tệ...Trên thị trường, quan hệ cạnh tranh diễn ra rất gay gắt giữa các đối thủ- cạnh tranh giữa người bán với người mua, cạnh tranh giữa người mua với người mua, cạnh tranh giữa người bán với người bán về các khía cạnh như chất lượng sản phẩm, mẫu mã sản phẩm, giá ca sản phẩm... cạnh tranh trên thị trường diễn ra phức tạp, sôi động nhưng lại hấp dẫn. Cạnh tranh sẽ mang lại niềm vinh quang cho các đối thủ biết tận dụng khả năng lợi thế của mình, biết kiểm soát và loại trừ rủi ro. 3 Trên thực tế, thị trường có thể được phân ra nhiều loại khác nhau: thị trường chính - thị trường phụ; thị trường trong nước (nội địa) - thị trường ngoài nước (quốc tế); thị lrường hàng hoa - thị trường dịch vụ; thị trường sức lao động; thị trường chứng khoán; thị trường bảo hiểm.... Ngoài những điểm chung giống nhau như chứa tổng số cung, tổng số cầu, yếu tố không gian và thời gian, đều diễn ra các hoạt động mua bán và các quan hủ hàng hoa tiền tủ... mỗi thị trường khác nhau lại chứa đựng những đặc (rưng khác nhau đã lạo nên tính đa dạng và phong phú của hộ (hống thị trường trong nền kinh l ố xã hội. Thị trường là nhân tố không thể thiếu dược trong đời sống xã hội cũng như sự phát triển kinh tế xã hội. 2- Thị trường bảo hiếm a- Khái niủm về thị trường bảo hiểm Bảo hiểm là một ngành kinh doanh đặc biủt trong xã hội. Đ ể hoạt động kinh doanh bảo hiếm ra đời và phát triển, báo hiểm cũng đòi hỏi phải có thị trường. Thị trường bao hiểm là nơi diễn ra hoạt động mua và bán các sản phẩm bảo hiểm. Khác với các loại sản phẩm khác trên thị trường, sản phẩm bảo hiểm không tồn tại hữu hình, không có hình dáng, kích thước, trọng lượng... Sản phẩm bảo hiểm là loại san phẩm dịch vụ dặc biủt, là loại san phẩm vô hình và là loại sản phẩm không được bảo hộ bản quyển, là loại sản phẩm mà người mua không bao giờ muốn nó xảy ra với mình để dược thực hiủn quyền đòi bổi thường hay trả tiền bảo hiểm. Người mua sản phẩm bảo hiểm chí với mục đích đề phòng khi sự kiủn được bảo hiểm xảy ra vẫn đảm bảo được an toàn về mặt tài chính, ổn định được quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đời sống sinh hoạt xã hội. Tham gia vào thị trường bảo hiểm cũng gồm người mua (khách hàng), người bán (các doanh nghiủp kinh doanh bảo hiểm) và các tổ chức trung gian (người môi giới bảo hiểm). * Người mua báo hiểm hay còn gọi là người dược bảo hiểm (Insured): là những tổ chức hay cá nhân có tài sản hay trách nhiủm dân sự theo luật định, tính mạng hay tình trạng sức khoe cần phải tham gia bảo hiểm sẽ trực tiếp hay thông qua người môi giới mua các sản phẩm bảo hiểm. 4 Người được bảo hiểm là người mua báo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, là người có tên trên hợp đồng bảo hiểm hay là người được hưởng lợi ích trên hợp đồng bảo hiểm. * Người bán bảo hiểm hay còn gọi là người bao hiểm (Insurer) là các doanh nghiệp kinh doanh bao hiểm họ là người ký hợp đồng bảo hiểm và cam kết bồi thường cho người mua bảo hiểm tất cả những tổn thất thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm là nguyên nhân trực liếp gây nên. Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hiện nay theo điều 59 luật kinh doanh bảo hiểm của Việt nam được quốc hứi thông qua 12/2000 bao gồm: doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, tổ chức bảo hiểm tương hỗ và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài. * Tổ chức trung gian hay còn gọi là người môi giới (broker), đại lý (agent) bảo hiểm là cầu nối giữa người mua và người bán bảo hiểm. Mứt "trung gian bảo hiểm" có thể hoạt đứng dưới hình thức đại lý hay môi giới bảo hiểm. + Môi giới bảo hiếm: Môi giới bảo hiểm có thể là công ty hoặc cá nhân đứng ra thu xếp bảo hiểm với các công ty bảo hiểm. Họ có thể tư vấn về các vấn đề như nhu cầu bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, thị trường bảo hiểm, khiếu nại, kiện tụng.... Môi giới bảo hiểm có thể đại diện cho cả doanh nghiệp bảo hiểm và người được bảo hiểm. + Đại lý bảo hiểm Đại lý bảo hiểm có thể là tổ chức hay cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uy quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý. Đại lý bảo hiểm thay mặt doanh nghiệp bảo hiểm bán các sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp và được hưởng lương hoặc tiền hoa hồng theo thoa thuận. Như vậy đại lý thường được coi là đại lý cho doanh nghiệp kinh doanh bao hiểm. b - Những đặc trưng cơ bán của thị trường bảo hiểm. Giống như các loại thị trường khác, thị trường bảo hiểm cũng có những đặc Inrng chung, cụ thổ như sau: * Trên thị trường bảo hiểm cung và cầu luôn biến đứng. Cung trên thị trường bảo hiểm chính là các sản phẩm bào hiểm do các doanh nghiệp kinh doanh trên thị trường cung cấp để phục vụ khách hàng của mình. Các 5 doanh nghiệp tham gia kinh doanh dịch vụ bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm có thể tăng hoặc giảm tuy theo nhu cầu của thị trường và sức cạnh tranh. Sản phẩm trên thị trường luôn đuợc cái tiến (hích ứng với thị (rường. Sản phẩm bảo hiểm ngcày một nhiều và phát triển và hoàn thiện cùng với sự phát triển của khoa hổc kỹ thuật cũng như nền kinh tế xã hội của quá trình hội nhập và toàn cầu hoa. Sản phẩm bảo hiểm luôn được cải tiến, hoàn thiện và đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú của thị trường. Cầu của thị trường hao hiểm chính là nhu cầu về bảo hiểm của dân cư, của các tổ chức xã hội, của các đơn vị sản xuất và kinh doanh... ngày càng được tăng lên. Khi nền kinh tế xã hội phát triển thì các tổ chức kinh tế xã hội cũng phát triển theo, đời sống vật chất, tinh thần của dân cư cũng được cải thiện... do đó nhu cầu đa dạng về dịch vụ bảo hiểm cũng tăng lên. Những năm đầu của thế kỷ X X trên thị trường bảo hiểm mới chỉ có vài chục sản phẩm nhung đến nay con số này đã lên tới hàng trăm. ỡa hội phát triển, dịch vụ bảo hiểm cũng phát triển, ngày nay các sản phẩm bảo hiểm đã đi sâu vào từng ngõ ngách của đời sống kinh tế xã hội để phục vụ nhu cầu. Tóm lại cung và cầu về sàn phẩm bảo hiểm được phát triển song hành. Cầu tăng thì cung tăng và ngược lại. * Giá cả của sản phẩm bao hiểm luôn biến dộng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trên thị trường bảo hiểm, giá cả của sản phẩm bảo hiểm chính là phí bảo hiểm. Phí bảo hiểm lìi một khoản tiền mà người mua bảo hiểm phải trả cho người bán bảo hiểm để dược bồi thường khi có tổn thất xẩy ra đối với đối tượng bảo hiểm do rủi ro được bảo hiếm là nguyên nhân trực tiếp gây ra. Phí bảo hiểm được xác định trên cơ sở thoa thuận giữa người mua và người bán bảo hiểm về một dịch vụ bảo hiểm nào đó và cũng có thể xem đó là giá chấp nhận của thị trường về dịch vụ (hay sản phẩm) bảo hiểm. Phí bảo hiểm được tính toán trên cơ sở giá trị bảo hiểm (hay số tiền bảo hiểm) với tỷ lệ phí bảo hiểm. Nếu giá trị bảo hiểm (hay số tiền bảo hiểm) càng lớn, tỷ lệ phí bảo hiểm càng cao thì phí bảo hiểm càng lớn và ngược lại. Phí bao hiểm trên thị trường cũng luôn thay đ ổ i , nó phụ thuộc vào rủi ro nhiều hay ít, mức độ nguy hiểm cao hay thấp, trình độ quản lý rủi ro, mức độ thiệt hại khi xảy ra rủi ro, điều kiện bảo hiểm cũng như nhận thức của con người.... Ngoài ra phí bảo hiểm còn phụ thuộc vào quy luật cung cầu, thị trường, quy luật cạnh tranh... diễn ra trên thị trường bào hiểm. Tóm lại: giá cả của sản phẩm bảo hiểm trôn thị trường cũng thường xuyên biến dộng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan. * Trên thị trường bảo hiểm cạnh tranh và liên kết luôn diễn ra. Giống như các thị trường khác, trên thị (rường bảo hiểm sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp để tranh giành khách hàng, thu lợi nhuận cũng diễn ra liên tục, gay go và quyêì liệt. Cạnh tranh (rên nhiều khiu cạnh với nhiên thủ thuật mội trong những dấc trung của sản phẩm bao hiểm là không có bảo hộ bản quyền và dễ bắt chước cho nên các doanh nghiệp bảo hiểm thường tập trung vào kinh doanh các sản phàm được thị trường chấp nhận bằng cách cải tiến, hoàn thiện sản phẩm đó hơn các doanh nghiệp khác, bằng cách quảng cáo sâu rộng, hấp dẫn để thu hút khách hàng, bằng cách giảm phí, tăng tỷ lệ hoa hồng để giành giật khách hàng, chiếm lĩnh thị trường.... Thực tế này dược chứng minh rất rõ ở Việt nam khi thị trường bảo hiểm chuyển từ độc quyền sang cạnh tranh với nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế tham gia. Trên thị trường bảo hiểm, cùng với sự cạnh tranh là sự liên kết giữa các doanh nghiệp bảo .hiểm. Cạnh tranh càng mạnh thì liên kết càng phát triển. Liên kết thường diễn ra giữa các doanh nghiệp mới còn yếu kém về tiềm lực để tạo ra sức mạnh trong cạnh tranh. Liên kết còn diễn ra giữa các doanh nghiệp lớn có thế mạnh để hoa hoãn, cùng phát triển tránh gây thiệt hại cho nhau.... Liên kết có thể diễn ra giữa các doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp lớn để tăng sực mạnh, đảm bảo an toàn trong cạnh tranh và thêm dồng minh trong cạnh tranh. Liên kết còn là nhu cầu đối với những thị trường bảo hiểm mới hình thành và phát triển trước thị trường thế giới đã ổn định và liên kết cũng là xu hướng của hội nhập và toàn cầu hoa. * Thị phần của các doanh nghiệp bảo hiểm luôn (hay dổi. Thị phần bảo hiểm là ly lệ phần trăm của mỗi doanh nghiệp bảo hiểm chiếm lĩnh trên thị trường bảo hiểm. Thị phần càng lớn chứng tỏ vị thế của doanh nghiệp càng cao, sức cạnh tranh và hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp mạnh. Nói đến thị phần là nói đến thị trường cạnh tranh không còn mang lính dộc quyền. Trên thị trường các doanh nghiệp bảo hiểm có cơ hội như nhau, doanh nghiệp nào giành dược thị phần nhiều hơn chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dó tốt hơn trên mọi lĩnh vực. Trên thị trường bảo hiểm, thị phần của các doanh nghiệp luôn thay đổi do số lượng doanh nghiệp tham gia vào thị trường thay đ ổ i , do chiến lược kinh doanh thay đổi, như chiến lược marketing, chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả... để giữ vững thị phần và giành giật thị phần của các doanh nghiệp khác hoấc mở rộng thị phần bằng việc tung ra Ihị trường những sản phẩm mới. Ngoài những đấc trưng chung giống các thị trường khác đề cập trên đây, thị trường bảo hiểm còn có những đấc điểm riêng như sau: 7 * Thị trường bảo hiểm có dung lượng lớn, dối tượng khách hàng rộng, đối tượng bảo hiểm rất da dạng bao gồm tài sản, con người và trách nhiệm dân sự. * Thị trường hảo hiểm phát triển phụ thuộc vào sự phát triển của điều kiện kinh tế xã hội. Khi xã hội phát triển thì nhu cầu an toàn trong sản xuất, kinh doanh cũng như đời sống sinh hoại của người dân càng được đữt ra cao hơn đã tạo điều kiện thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển. * Thị trường bào hiểm là nơi cung cấp sản phẩm đữc biệt liên quan đến rủi ro, nguy hiểm. Bao hiểm ra đời là do sự lổn tại khách quan của rủi ro. Rủi ro là những đe doa nguy hiểm, bất ngờ mà con người không lường trước được là nguyên nhân gây ra tổn thất, thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm. Bảo hiểm là một ngành kinh doanh đữc biệt trong xã hội. * Thị trường bảo hiểm là thị trường dịch vụ tài chính. Thị trường bảo hiểm chịu sự kiểm tra, kiểm soát rất chữt chẽ của nhà nước. Nhà nước có thể can thiệp khá sâu vào hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm. Nhà nước không những xét duyệt biểu phí, xác định giới hạn trách nhiệm bồi thường mà còn quyết định sản phẩm được phép kinh doanh hoữc hình thức triển khai - bắt buộc hay tự nguyện. Chỉ có thị trường bảo hiểm mới có hình (hức bai buộc người liêu dùng phải sử dụng một số sản phẩm bảo hiểm. * Thị nường bảo hiểm có Ihể mung đữc trưng của một tổ chức, ví dụ tập đoàn bảo hiểm LLoycTs là l ổ chức bao hiểm tương hỗ của các nhà bảo hiểm hàng hải London. Theo thời gian, tập đoàn bảo hiểm LLoycTs ngày càng phát triển và trở nên nổi tiếng đã thu hút nhiều khách hàng không chỉ ở Anh mà khắp thế giới và trở thành "thị trường LLoycTs". c- Phân loại thị trường bảo hiểm Thị trường bảo hiểm rất da dạng và phong phú, người ta có thế đưa ra các tiêu thức khác nhau để phân loại thị trường tuy theo mục đích nghiên cứu. Song điều cốt lõi của phân loại thị trường là nhằm phục vụ cho việc khai thác, thâm nhập thị trường, thu hút khách hàng dế nâng cao thị phần, đạt hiệu quả trong kinh doanh... Chúng ta có thế đưa ra các tiêu thức sau đây để phân loại thị trường bảo hiểm. * Phân loại thị nường bảo hiểm theo địa lý. Cách phân loại này là chia thị trường theo các đơn vị địa lý khác nhau như thị trường bảo hiểm trong nước, thị trường bảo hiểm quốc tế. Ngay thị trường bảo hiểm quốc tế cũng có thể chia thành thị trường bảo hiểm khu vực như châu A, Đông Nam Á, 8 Châu Âu, Bắc Mỹ.... Hay thị trường bảo hiểm trong nước cũng có thể chia ra thị trường vùng, tỉnh... * Phân loại thị trường bảo hiểm theo nhân khẩu học. Đày là phương pháp phân loại thị trường tiên tiến và tổng hợp. Phương pháp này dựa liên cơ sở về tuổi, giới tính, t]iiy mô gia (lình, thu nhập, nghố nghiốp, trình độ văn hoa hay tôn giáo, dân tộc... Những yếu l ố này là cơ sở thông dụng nhất để phân biốt nhổm khách hàng, này với nhóm khách hàng khách bơi vì nhu cầu, mong muốn và mức độ sử dụng một loại sản phẩm của các nhóm có sự khác nhau. * Phân loại thị trường bảo hiểm theo tâm lý người tiêu dùng. Cách phân loại này là dựa vào đặc tính của các tầng lớp trong xã hội. Tầng lớp xã hội là mót trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu và sở thích trong tiêu dùng sản phẩm. Vì vậy trong kinh doanh, các doanh nghiốp thường quan tâm đến thiết kế sản phẩm và dịch vụ hướng theo nhu cầu của từng tầng lớp, tạo ra những sản phẩm phù hợp với yêu cầu của từng tầng lớp trong xã hội để thu hút khách hàng. * Phân loại thị trường bảo hiểm theo hành vi người tiêu dùng. Theo cách phân loại này thì khách hàng được chia thành các nhóm dựa trên kiến thức, thái độ, mức độ sử dụng và phản ứng của họ đối với một loại sản phẩm. Căn cứ vào hành vi người tiêu dùng sẽ biết được sản phẩm nào được khách hàng ưa chuộng, san phẩm nào cần phải cải tiến, hoàn thiốn cho phù hợp với nhu cầu cửa người sử dụng. * Phân loại thị trường bảo hiểm theo đối tượng bảo hiểm Theo cách phân loại này thì người ta căn cứ vào đối tượng được bảo hiểm để phân chia thị trường. Thị trường bảo hiểm được phân thành thị trường bảo hiểm tài sản, thị trường bảo hiểm con người, thị trường bảo hiểm trách nhiốm dân sự hay thị trường bảo hiểm nhân thọ, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, thị trường bảo hiểm hàng hải, thị trường bảo hiểm phi hàng hải. Tóm lại, phân loại thị trường rất có ý nghĩa đối với doanh nghiốp kinh doanh nói chung và kinh doanh bảo hiểm nói riêng. Viốc phân loại thị trường sẽ tạo ra cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiốp trên từng loại thị trường. Quyết định tập trung vào thị trường nào phải căn cứ vào quy mô, tốc độ tăng trưởng của thị trường, mức độ hấp dẫn của thị trường và mục tiêu cũng như tiềm lực của công ty. Trong kinh doanh, các doanh nghiốp phải lựa chọn thị trường phù hợp với khả năng và tiềm lực của mình, mặt khác phải tận dụng lợi thố so sánh, phải xAy dựng chiến lược kinh doanh hợp lý để chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ sản phẩm nhằm dạt mục đích trong kinh doanh. 9 d - M ộ t s ố q u y luật c h u n g c ủ a thị trường b ả o h i ế m C ũ n g n h ư các thị trường khác, thị trường b ả o h i ể m c ũ n g bị c h i p h ố i b ở i các q u y luật c h u n g c ủ a thị trường và q u y định đặc thù c ủ a thị (rường b ả o h i ể m * Q u y luật c u n g - c ầ u về b ả o h i ể m Q u y luật c u n g - c ầ u về b ả o h i ể m luôn t ồ n t ạ i s o n g song. C u n g phát t r i ể n trên c ơ sở cầu, c ầ u d ự a vào k h ả năng c u n g để t h o a m ã n . C u n g - c ầ u phát t r i ể n trên cơ s ở n ề n k i n h t ế - xã h ộ i phát t r i ể n . D o d ó c u n g - c ầ u phái t r i ể n nhịp nhàng, cân d ố i trên thị trường. * Q u y luật giá cả Q u y luật c u n g - c ầ u về b ả o h i ể m ảnh h ư ở n g t ớ i q u y luật giá cả. T r o n g b ả o h i ể m , phí b ả o h i ể m c ủ a các dịch v ụ b ả o h i ể m chính là giá cả b ả o h i ể m . Giá c ả b ả o h i ể m đ ư ỷ c điều tiết t h e o q u a n h ệ c u n g - c ầ u c ủ a thị trường b ả o h i ể m , t h e o xác suất r ủ i r o , t h e o chính sách q u ả n lý c ủ a nhà nước n h ư chính sách t h u ế , chính sách đ ầ u tư, t ỷ giá, lãi suất * Quy luật cạnh tranh và liên kết Thị trường b a o h i ể m v ớ i s ự t h a m g i a c ủ a n h i ề u d o a n h n g h i ệ p t h u ộ c n h i ề u thành phần k i n h t ế thì s ự c ạ n h t r a n h để t h u hút khách hàng, c h i ế m lĩnh thị trường, nâng c a o thị phần ... g i ữ a các d o a n h n g h i ệ p là không t h ổ tránh k h ỏ i đ ó là q u y luật. Sự cạnh t r a n h luôn d i ễ n ra g a y gắt và q u y ế t liệt. C ạ n h t r a n h càng m ạ n h , liên k ế t càng phát t r i ể n . Liên k ế t g i ữ a các d o a n h n g h i ệ p t r o n g nước v ớ i n ư ớ c ngoài... cạnh t r a n h và liên k ế t là q u y l u ậ t v ố n có c ủ a thị trường. * Q u y luật s ố đông bù s ố ít. Đ â y là q u y luật đặc thù c ủ a thị trường b ả o h i ể m . B ả o h i ể m chính là s ự phân tán r ủ i r o , c h i a n h ỏ t ổ n t h ấ t c ủ a m ộ t h a y m ộ t s ố n g ư ờ i c h o n h i ề u n g ư ờ i cùng gánh chịu. T ứ c là l ấ y s ố đ ô n g d ể bù vào s ự bất h ạ n h c ủ a s ố ít. M ộ t n g ư ờ i t ự m ì n h thì k h ô n g t h ể gánh n ổ i k h i s ự c ố b ả o h i ể m x ả y r a nhưng n h i ề u n g ư ờ i cùng s a n sẻ thì sẽ vưỷt q u a đưỷc. T ừ q u y luật này c h o t h ấ y trên m ộ t lĩnh v ự c b ả o h i ể m n ế u t h u hút đ ư ỷ c n h i ề u khách hàng t h a m g i a thì phí b ả o h i ể m t h u đ ư ỷ c t ừ khách hàng càng l ớ n , tác d ụ n g b ồ i thường k h i có s ự c ố x ả y r a càng cao. Q u y l u ậ t " s ố đ ô n g b ù s ố ít" luôn đ ư ỷ c các d o a n h n g h i ệ p k i n h d o a n h b ả o h i ể m l ậ n d ụ n g triệt để. Q u y l u ậ t này k h ô n g phát h u y đ ư ỷ c tác d ụ n g thì h o ạ t d ộ n g c ủ a b ả o hiểm không t ồ n t ạ i , d o a n h n g h i ệ p b ả o h i ể m sẽ bị phá sán. l i - Các giai đoạn phát t r i ể n của thị trường bảo h i ể m V i ệ t n a m 10 So với hàng trăm năm phát triển của thị trường bảo hiểm thế giới, lịch sử phát triển của thị trường bảo hiểm Việt nam còn rất mới. Những hoạt động đầu tiên ở thị trường bao hiểm Việt nam là của các công ty bảo hiểm mà người Pháp và người M ỹ mang tới. Sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, miền Bức chỉ có một tổ chức duy nhất hoạt động với tư cách là đại lý cho Công ty bảo hiểm nhân dân Trung quốc - tiền thân của Tổng công ty bao hiểm Việt nam (Bao Việt) ngày nay. Còn ở Miền Nam thời kỳ Mỹ - Nguy cũng (lã có lới hơn 50 (loanh nghiệp kinh (loanh bảo hiếm khác nhau hoạt dộng. Song năm 1964 vẫn được coi là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự ra đời chính thức của Ngành bảo hiểm Việt nam bằng quyết định thành lập ngành bảo hiểm Việt nam số 179/CP ngày 17/12/1964 của Thủ tướng Chính phủ. Cho đến nay, quá trình hình thành và phát triển của thị trường bảo hiểm Việt nam có thể được chia thành hai giai đoạn như sau: Ì- Thị trường bảo hiểm Việt nam trước nghị định 100/CP Sự ra đời của Bảo hiểm Việt nam so với thế giới là khá muộn. Sau khi hoa bình lập lại ở miền Bức, ngày 17/12/1964 Công ty bảo hiểm Việt nam (Bảo Việt) mới được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập. Và kể từ đó cho đến tận năm 1994, ở Việt nam chỉ có Bảo Việt là công ty bảo hiểm đầu tiên và duy nhất được Chính phủ thành lập. ở giai đoạn này có thể coi lịch sử phát triển thị trường bảo hiểm Việt nam chính là lịch sử phát triển của Bảo Việt. Sau khi có quyết định thành lập, ngày 15/1/1965, Bảo Việt chính thức khai trương đi vào hoạt động. Ngày đầu, Bảo Việt có trụ sở chính tại Hà nội và một chi nhánh là Bảo Việt Hải phòng. Số vốn ban đầu được Nhà nước cấp là Ì triệu đồng với số lượng cán bộ nhân viên toàn công ty là 20 người. Theo quyết định thành lập thì Bảo Việt có các nhiệm vụ: * Tiến hành công tác bảo hiểm nhà nước đối với hàng hoa vận chuyển đường biển, đối với tầu bè của nước Việt nam dân chủ cộng hoa và công tác bảo hiểm nhà nước về tai nạn bất ngờ đối với hành khách đi lại trong nước. * Xây dựng và phát triển quỹ bảo hiểm nhà nước đề bù đứp những tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra đối với tài sản và hành khách được bảo hiểm. * Thông qua công tác bảo hiểm mà tham gia các hoạt động nhằm đề phòng tổn thất đối với hàng hoa vận chuyển đường biển, đối với tàu bè của nước Việt nam dân chủ cộng hoa và đối với hành khách đi lại trong nước có tham gia bảo hiểm. Với nhiệm vụ được Nhà nước giao như trên, song do hoàn cảnh của đất nước lúc đó nên thực tế Bảo Việt mới chỉ thực hiện được một số hoạt động như sau: li + về nghiệp vụ bảo hiểm gốc Bảo Việt mới triển khai được hai nghiệp vụ là bảo hiểm hàng hoa xuất nhập khẩu chuyên chở bằng dường b i ể n và bảo hiểm thân tầu của Việt nam. Còn dối với nghiệp vụ báo hiểm hành khách di lại trong nước thì chưa triển khai được. + Về tái bảo hiểm Ban đầu Bao Việt chưa có được mối quan hệ tái bảo hiểm với thử trường quốc tế London m à tái báo hiểm cho Công ty bao hiểm nhân dân Trung quốc, một phán nhỏ tái bao hiểm cho các công ly bảo hiểm thuộc Liên xô và các nước Xã hội chủ nghĩa cũ ử Đông Âu. Nghiệp vụ nhận tái bảo hiểm chưa thực hiện được. + Nghiệp vụ đại lý giám đửnh Bảo* Việt được các công ty bảo hiểm nước ngoài (đặc biệt là Công ty bảo hiểm của Liên xô, Trung quốc) chí đửnh làm đại lý giám đửnh tổn thất đối với tầu biển, hàng hoa do họ bao hiểm ở phạm vi miền bắc và cảng Hải phòng. Trong giai đoạn mới thành lập, khi đất nước còn nằm trong thời kỳ kế hoạch hoa, tập trung và bao cấp, tất củ các nghiệp vụ m à Bảo Việt triển khai chủ yếu phục vụ cho sự phát triển trao đổi thương mại với các nước xã hội chủ nghĩa. N ă m 1965, khi mới ra đời, do đội ngũ và trình độ cho nên Bảo Việt chỉ nhận bảo hiểm thân tầu cho đội tầu Việt nam sau đó tái nhượng lại cho Công ty bảo hiểm nhân dân Trung quốc. Sang năm 1966 Bao Việt mới độc lập bước đầu trong bảo hiểm thân tầu và đến năm 1967 mới tiến hành bảo hiếm trách nhiệm dân sự của chủ tầu. N ă m 1979, Bảo Việt hình thành văn bản thoa thuận về một số quy đửnh trong việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm thân tầu, quy đửnh cụ thể về vận dụng nội dung điều khoản bảo hiểm ITC vào Việt nam. N ă m 1989, bản thoa thuận trên lại được sửa đổi bổ sung thêm và được các chủ tầu hoan nghênh. Đ ế n năm 1987, Bảo Việt đã bảo hiểm cho 436 tầu của 45 đội tầu biển t r o n g nước. Đ ố i với bao hiểm hàng hoa xuất nhập khẩu, chỉ sau năm 1975 - tức sau khi đất nước thống nhất, Bảo Việt mới giành được quyền bảo hiểm cho hàng hoa nhập khẩu từ Trung quốc. Cũng bắt đầu từ giai đoạn này k i m ngạch bảo hiểm của các nghiệp vụ bảo hiểm dối ngoại (lược Dâng cao. Bảo Việt bắt dầu mở rộng quan hộ với nhiều nước trên thế giới. Đ ế n năm 1979, đã có 39 công ty nước ngoài có quan hệ với Bảo Việt. Đ ố i với nghiệp vụ tái bảo hiểm, ban đầu nghiệp vụ này gặp rất nhiều khó khăn. thời kỳ này, Bảo Việt mới chí quan hệ tái bảo hiểm với Trung quốc. Mãi tới năm 1971, 12 Bảo Việt mới m ở thêm được quan hệ tái bảo hiểm với Ba Lan, Triều tiên... Tỷ lệ tái bảo hiểm (li khá cao. Trước giải phóng, tại M i ề n nam có 51 công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm hoạt động, lớn nhất là công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt nam ( V A R ) . Công ty tiếp quan các công l y bảo hiểm được bắt đầu từ công ty VAR. Ngày 27/10/1975 chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoa M i ề n nam Việt nam ra tuyên b ố đình chị các hoạt động của các công ty bảo hiểm miền nam Việt nam. Ngày 27/12/1975 ra tuyên b ố về việc thanh lý và giải thể các tổ chức bảo hiểm tư nhân. Ngày 17/01/1976 ra quyết định số 21/ỌDB K T thành lập công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt nam - gọi tắt là B A V I N A trực thuộc nha tài chính chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoa M i ề n nam Việt-nam. Sau cuộc tổng tuyển cử 25/4/1976, đất nước thống nhất, ngày 1/3/1977, bộ trưởng bộ tài chính nước cộng hoa xã hội chủ nghĩa Việt nam đã ra quyết định số 61/TCQD/TCCB vé việc sát nhập B A V I N A thành chi nhánh của Bảo Việt tại thành p h ố H ồ Chí Minh. N h ư vậy, kể từ đó, Bảo Việt chính thức có mạng lưới hoạt động tại các tịnh phía Nam. Đ ể phát triển thị trường bảo hiểm, phục vụ đường l ố i phát triển k i n h tế của Đ ả n g và Nhà nước, công ty bảo hiểm Việt nam đã m ở thêm các c h i nhánh ở một số tịnh thành p h ố có cảng biển để phát triển bảo hiểm hàng hoa xuất nhập khẩu và bảo hiểm tầu biển như chi nhánh Quảng ninh, Đ à nang, Bình định và V ũ n g tầu. V i ệ c m ở chi nhánh Vũng tầu còn có mục đích đón bắt cơ hội bảo hiểm trong lĩnh vực thăm dò và khai thác dầu khí. Bao hiểm dầu khí là một loại hình bảo hiểm phức tạp. Các điềukiện bảo hiểm đều từ thị trường London (Master Driling RigCover), Bảo Việt đã chọn 2 môi giới bảo hiểm nổi tiếng và Sedgvvick Fobes và W i l l s Faber giúp thu xếp dịch vụ. K ế t quả, năm 1979 chị riêng trong lĩnh vực bảo hiểm thăm dò, khai thác dầu khí, phí bảo hiểm m à Bảo Việt thu được là 2,1 triệu USD trên tổng mức trách nhiệm là 365,406.654 USD. Doanh thu phí bảo hiểm của Bảo Việt Vũng tầu thời điểm ấy được coi là bước đại nhảy vọt và là doanh thu trong m ơ của nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Về mặt nghiệp vụ, một loạt sản phẩm bao hiểm m ớ i đã được Bao Việt tung ra thị trường như bảo hiểm dàn khoan; bào hiểm trách nhiệm nhà tháu khoán; bảo hiểm kiểm soát giếng; bảo hiểm tài sản, trách nhiệm cho các nhà thầu phụ; bảo hiểm xe ôtô; bảo hiểm trách nhiệm cho người lao dộng; bảo hiểm trộm cắp, hoa hoạn; bảo hiểm trách nhiệm tổng hợp đối với người t h ứ ba; bảo hiểm tiền mặt và bảo hiểm m á y bay trực thăng... Bước vào những năm 80, công ty bảo hiểm V i ệ t nam bắt đầu quan tâm tới bảo hiểm đối nội, m ở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ bảo hiểm trên khắp cả nước. N ă m 13 1980, Bảo Việt bắt đầu cung cấp dịch vụ bảo hiểm tai nạn hành khách; bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. N ă m 1981 triển khai bảo hiểm hàng không đối với các đội bay của cục hàng không dân dụng Việt nam. N ă m 1982 triển khai thí điểm bảo hiểm cấy lúa lần 1. N ă m 1985 khởi thảo bảo hiểm tai nạn thân thể học sinh và bảo hiểm tai nạn lao động. Nhậng năm sau một loạt các dịch vụ bảo hiểm m ớ i cũng được Bảo Việt lần lượt tung ra thị trường như bảo hiểm vật chất xe cơ giới; bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt; báo hiểm xây dựng - lắp đặt, bảo hiểm sinh mạng cá nhân T ừ đầu năm 1986, Bảo Việt được phép tự hạch toán ngoại tệ, đây có thể coi như là một bước đột phá quan trọng cần thiết và thích ứng trong nền kinh tế thị trường. Điều này đã tạo thêm cơ hội để Bảo Việt phát triển mạnh hơn nậa các dịch vụ bảo hiểm đối ngoại. T ừ chỗ Bảo Việt gặp khó khăn về tài chính, n ợ nước ngoài 2,5 triệu Ư S D nhưng chỉ trong một thờigian ngắn đã trả hết n ợ và có tích l ũ y ngoại tệ. Sau k h i có chính sách đổi mới, m ở cửa nền k i n h tế (1986) cũng như các ngành khác trong xã hội, ngành bảo hiểm Việt nam càng có thêm điều kiện thuận lợi để phát triển. Đ ế n cuối nhậng năm 80 mạng lưới bảo hiểm của Bảo V i ệ t đã phủ khắp các tỉnh thành trong cả nước v ớ i các sản phẩm bảo hiểm trên thị trường đa dạng và phong phú. Thấy rõ tầm quan trọng của hoạt động bao hiểm trontỊ giai đoạn mới và khả năng phát triển của Bảo Việt, ngày 17/12/1989, Bộ Tài chính đã ban hành quyết định số 27/TCQĐ chuyến Công ty bảo hiếm Việt nam thành Tổng công ty bảo hiểm V i ệ t nam; các chi nhánh, phòng dại diện bảo hiểm tại các tỉnh, thành p h ố trở thành các công ty bảo hiểm thành viên thuộc tổng công ty. T ừ đây, vị t h ế m ớ i của Bảo V i ệ t được khẳng định, hoạt động của bảo hiểm càng được phát triển sâu rộng hơn trên khắp cả nước. Có thể khẳng định Bảo Việt là một tập đoàn bảo hiểm có tiềm năng về tài chính qua các số liệu thống kê về doanh thu như sau: Trong 20 năm đầu (1965-1985) tổng doanh thu toàn ngành chỉ dừng ở con số 1136,4 triệu VND; năm 1987 tổng doanh thu xấp xỉ Ì tỷ VND; năm 1989 là gần 94 tỷ. Đ ặ c biệt từ 1989 đến 1994 tốc độ gia tăng của doanh thu đạt tới 35-40%/nãm. Số lượng người, tài sản và trách nhiệm dân sự dược bảo hiểm tại Bảo Việt không ngừng lăng cao qua lừng năm. T ừ năm 1991-1994, trung bình m ỗ i năm Bao Việt dã bảo hiểm được trên 200 triệu lượt/khách; trên 3,8 triệu người được bảo hiểm tai nạn; bảo hiểm tai nạn theo chỗ ngồi trên xe khách đạt trên 800.000 ghế; 850.000 người tham gia bảo hiểm nằm điều trị phẫu thuật; 650.000 người tham gia bảo hiểm sinh mạng cá nhân; bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho hơn 140.000 xe ôtô; tổng giá trị tài sản dược bảo hiểm hoa hoạn trên 17.000 tỷ dồng; tổng giá trị công trình dược bảo hiểm 14
- Xem thêm -