Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn

  • Số trang: 121 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Vài thập kỷ cuối thế kỷ XX, tiểu thuyết Việt Nam nh có phần chững lại, Ýt gặt hái được những thành công rực rỡ. Người ta thường nhắc đến những thành công ở thể loại truyện ngắn của nhiều cây bút có thương hiệu như Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, ... Còn ở thể loại tiểu thuyết, trong vài thập kỷ này, dường như đang vắng bóng những tên tuổi nổi trội. Trước thực tế đó, những người quan tâm đến sự phát triển của tiểu thuyết đã phải lên tiếng "khích lệ" hoặc dóng những hồi chuông "báo động" về tiểu thuyết. Chuyên luận Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu? của nhiều tác giả cùng các bài viết nghiên cứu phê bình của những cây bút tiểu thuyết có nghề đang hâm nóng bầu không khí tiểu thuyết. Kết quả, có khá nhiều ý kiến trái ngược nhau khi đánh giá thực trạng tiểu thuyết đương đại. Nhà văn Ma Văn Kháng trong bài viết Tiểu thuyết, một giá trị không thể thay thế trên báo Văn nghệ số 46 năm 2002 đã khái quát về tình hình tiểu thuyết Việt Nam như sau: "Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại dường như đang rơi vào trạng thái cụt nhụt sức sáng tạo. Số tiểu thuyết hàng năm đã Ýt ỏi, lại còn yếu kém, gần nh không gây được Ên tượng gì với bạn đọc" Trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Xuân Khánh cho ra đời hai tiểu thuyết: Hồ Quý Ly (2000) và tiếp đó là Mẫu Thượng Ngàn (2006) đã làm xôn xao văn đàn Việt Nam. Cả hai cuốn tiểu thuyết đều giành những giải thưởng cao: Hồ Quý Ly - Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam - 2001, giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2001 ; Mẫu Thượng Ngàn - giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2006..., được giới nghiên cứu phê bình đánh giá cao và độc giả đón nhận nồng nhiệt. Đây thực sự là một kết quả đáng trân trọng của tiểu thuyết Việt Nam đương đại. 1 Hai cuốn tiểu thuyết đã thành công trên nhiều bình diện, có nhiều giá trị, nhưng Ên tượng nổi bật là sức cuốn hút của thế giới nhân vật của chúng. Nhân vật là yếu tố nghệ thuật quan trọng bậc nhất của thể loại tự sự (trong đó có tiểu thuyết). Không có nhân vật sẽ không có tiểu thuyết. Tiểu thuyết hay phải có nhân vật hay và độc đáo. Những cách tân đổi mới về nghệ thuật tiểu thuyết hầu như đều gắn với vấn đề thể hiện nhân vật. Nhân vật chính là quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn thể hiện trong tác phẩm, là nơi tập trung thể hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Thế giới nhân vật trong hai cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh rất phong phó, đa dạng, sinh động và hấp dẫn. Đây chính là vấn đề chúng tôi quan tâm nghiên cứu, là đề tài của luận văn. Hiện đã có không Ýt ý kiến, bài nghiên cứu phê bình về hai cuốn tiểu thuyết này trong đó có bàn luận về nhân vật ở cả hai tác phẩm. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào viết chuyên về thế giới nhân vật trong hai cuốn tiểu thuyết một cách hệ thống, đầy đủ và sâu sắc. Vì thế, chọn đề tài Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh làm đối tượng nghiên cứu, chúng tôi mong muốn được tìm hiểu, phát hiện những đóng góp quan trọng của nhà văn ở nghệ thuật xây dựng nhân vật; hy vọng góp được một chút gì đó trong việc đánh giá tác phẩm và tác giả trong nền tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Ngoài ra đây là cơ hội chúng tôi được củng cố nắm chắc hơn những kiến thức lý luận về nhân vật trong việc nghiên cứu cũng như giảng dạy sau này. 2. Lịch sử vấn đề Nguyễn Xuân Khánh sinh năm 1933, quê gốc ở làng Cổ Nhuế - Hà Nội. Ông là nhà văn thuộc thế hệ Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Cẩm Thạnh, ... Ông viết chậm và sáng tác không nhiều. Có thể nói, 2 trước Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn, Nguyễn Xuân Khánh là cái tên Ýt được biết tới. Nguyễn Xuân Khánh từng là sinh viên Đại học Y khoa, rồi tham gia quân ngũ. Sau thời gian quân ngũ, ông về làm việc tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Trong thời gian đó, ông sáng tác truyện ngắn đầu tay Một đêm và được giải thưởng Văn nghệ Quân đội năm 1958. Đó là chuyện về một anh lính trẻ đi bộ suốt đêm để về trả phép đúng hẹn, và suốt đêm Êy anh đẩy giúp chuyến xe của một người đàn bà. Tiếp đó năm 1963 , Nguyễn Xuân Khánh cho ra mắt tập truyện Rừng sâu. Câu chuyện mang tên tập sách nói về một anh bộ đội coi kho hàng trong rừng sâu, hết chiến tranh người ta quên mất cái kho đó, nhưng anh vẫn ở lại rừng sâu coi kho.... Sau đó, vì bị coi là "có vấn đề tư tưởng", Nguyễn Xuân Khánh không được làm công tác văn hoá, tư tưởng trong Quân đội. Ông được giải ngũ, về làm việc ở Báo Thiếu Niên tiền phong. Rồi "tai nạn nghề nghiệp" ông phải về hưu non. Ông sống cùng vợ con tại căn nhà nhỏ, trong ngõ phố Trần Khát Chân và nếm trải đủ mọi khó khăn thiếu thốn của cuộc sống: Ông làm thợ may, nuôi lợn, có lúc còn làm nghề bán máu,... Cuộc đời ông có quá nhiều ngã rẽ và không Ýt những gian nan, nhưng nghiệp viết văn thì dai dẳng. Nguyễn Xuân Khánh viết đều đặn, không bao giờ nghỉ. Trong những năm nuôi lợn ông đã viết cuốn tiểu thuyết Trư Cuồng kể chuyện về cái chứng điên của mét người khi quá gần gũi với lợn. Song song với Trư Cuồng, Nguyễn Xuân Khánh còn viết Suối Đen nói về cái cống nước trước cửa nhà ông ở xóm Thanh Nhàn chảy từ Nhà máy rượu Hà Nội ra sông Lừ đã thành một con suối. Bên con suối đó là những thân phận ông gặp hàng ngày và cảm thương họ. Còng trong những năm gian nan đó, Nguyễn Xuân Khánh viết tiểu thuyết Miền Hoang tưởng - kể chuyện về những con người đời thường, những vấn đề xám xịt trong hiện thực cuộc đời, như anh nhạc sỹ bị đuổi 3 khỏi biên chế, anh giáo viên nghèo, anh hoạ sỹ thất nghiệp,.... Năm 1990, Nguyễn Xuân Khánh cho công bố bản thảo đó và đã cÈn thận đứng dưới cái tên khác - bót danh Đào Nguyễn, nhưng tác phẩm bị phê phán nặng nề. Có người còn đòi đưa anh ra toà. Nhưng mét sù may mắn đã cứu Nguyễn Xuân Khánh. Từ đó, ông lặng lẽ sáng tác. Hai mươi năm sau, năm 2000, Nguyễn Xuân Khánh cho ra đời tiểu thuyết Hồ Quý Ly - một tác phẩm bề thế, sâu sắc, hấp dẫn viết về một giai đoạn lịch sử phức tạp của dân tộc - giai đoạn mục ruỗng của nhà Trần (Thế kỷ XIV - XV) và sự lên ngôi của triều Hồ, một trong những triều đại ngắn ngủi nhất trong lịch sử Việt Nam nhưng cũng là triều đại thi hành những chính sách cải cách táo bạo nhất gây ra những biến đổi quan trọng trong xã hội Việt Nam. Cuốn sách trên tám trăm trang đã giành một lóc hai giải thưởng của Hội Nhà văn Trung ương và Hội Nhà văn Hà Nội năm 2000. Sáu năm sau, vào 2006, Nguyễn Xuân Khánh lại cho ra mắt Mẫu Thượng Ngàn - một tiểu thuyết bề thế hơn cả Hồ Quý Ly, với gần nghìn trang sách và cũng giành giải nhất - giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội. Mẫu Thượng Ngàn được Nguyễn Xuân Khánh xây dựng trên bối cảnh đời sống nông thôn Bắc Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi dân tộc phải đối mặt mất còn với thực dân phương Tây: chúng vừa đàn áp, chiếm đoạt cả về kinh tế, vừa thống trị về chính trị, văn hoá, ... làm cho đời sống nhân dân ta điêu đứng. Tác phẩm là câu chuyện về lịch sử, phong tục; là câu chuyện tình yêu của những người đàn bà Việt chung thuỷ, hiến dâng, cay đắng và ngang trái ... . Câu chuyện Êy được phản ánh chân thực qua đời sống của người dân làng Cổ Đình - tên gọi Kẻ Đinh - một làng quê vùng bán sơn địa Bắc Bộ. Đây là hai tác phẩm "thuộc loại để đời của Nguyễn Xuân Khánh" (Châu Diên). Hai tác phẩm đã đưa Nguyễn Xuân Khánh trở thành cây bút 4 tiểu thuyết đương đại xuất sắc. Đó là tất cả bút lực, tâm hồn Nguyễn Xuân Khánh. Hai cuốn tiểu thuyết thực sự hấp dẫn người đọc cũng nh giới nghiên cứu, lý luận phê bình văn học. Trong cả hai cuốn tiểu thuyết đều có thế giới nhân vật phong phú, được Nguyễn Xuân Khánh xây dựng công phu. Các nhân vật đầy sức sống, có cá tính, hàm chứa sức nặng tư tưởng và rất Ên tượng. Các nhân vật của Nguyễn Xuân Khánh hiện ra sinh động như những con người với ý nghĩa trọn vẹn của nó. Sau đây là một sè ý kiến tiêu biểu về nghệ thuật tiểu thuyết và nhân vật trong Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn đã công bố trên sách báo, luận văn tốt nghiệp. VÒ cuốn Hồ Quý Ly: Trong cuéc Hội thảo về tiểu thuyết Hồ Quý Ly ngày 21/9/2000 do Nhà xuất bản Phụ nữ kết hợp với Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức, đã có rất nhiều ý kiến đánh giá: Nhà văn Vũ Bão nhận xét: "Cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly đã làm sang cho Hội Nhà văn Hà Nội. Mỗi nhân vật của Nguyễn Xuân Khánh thường mang thêm một tầng ý nghĩa mới Èn mình giữa các dòng chữ. Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh không đi theo vết chân đi trước. Ông rẽ trái, đạp cỏ lau, đạp đá tai mèo, dẫn nhân vật băng qua những miền đất mới. Ông không buông mình trôi xuôi theo dòng chảy của lịch sử. Ông cắt ngang cuộc đời đầy biến động, tìm những nét tinh tế trong tính cách nhân vật, giành không gian cho nhân vật hoạt động". Nhà văn Trần Thị Trường trong bài Những nhân vật nữ trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly, đã đưa ra những ý kiến xác đáng về cách xây dựng các nhân vật nữ của Nguyễn Xuân Khánh: "... Mười bốn người phụ nữ, mười bốn số phận, mười bốn tính cách và mười bốn lối ứng xử, để rồi có mười bốn kết cục." 5 Theo bà, Nguyễn Xuân Khánh đã xây dựng hết sức thành công các nhân vật nữ. Nguyễn Xuân Khánh đã "chiêm ngẫm được cả những ý nghĩ trong cõi thẳm sâu tâm hồn người khác". Nhà văn Châu Diên trong bài Tham luận về tiểu thuyết Hồ Quý Ly cũng đã khẳng định những thành công của Nguyễn Xuân Khánh ở nhiều phương diện, đặc biệt ông nhấn mạnh: "Nói đến cách tạo nhân vật, ta sẽ không thể nào quên công lao của Nguyễn Xuân Khánh trong việc tạo ra nhân vật chính Hồ Quý Ly. Đó là mét con người có nhiều phẩm chất ...". Nhà nghiên cứu Hán Nôm, tiến sỹ Đinh Công Vỹ trong bài: Hồ Quý Ly – cuốn tiểu thuyết lịch sử đặc sắc nhận xét: "Nguyễn Xuân Khánh không hề đơn giản hoá, không hề bị chi phối bởi cách xây dựng nhân vật một chiều. Nhân vật của ông tập trung nhiều mâu thuẫn, giằng xé nội tâm". Nhà văn Nguyễn Kiên phát biểu: "Mọi nhân vật đều có thể chất riêng, đồng thời đÒu tham dự vào sự va đập của lịch sử. Mỗi nhân vật đều có vấn đề của mình, có sự sống riêng của mình, không bị giật dây...". Nhà văn Phạm Xuân Nguyên trong bài Đọc Hồ Quý Ly cũng thừa nhận: "cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Xuân Khánh là ở thế lưỡng tính, phân thân không chỉ với một nhân vật Hồ Quý Ly mà còn với các nhân vật khác như Trần Khát Chân, Hồ Nguyên Trừng ... Từ đó, ông có lời đánh giá chung: nhân vật lịch sử của ông là những cá nhân mâu thuẫn, giằng xé, một bên là thúc bách (tất yếu) lịch sử, một bên là đòi hỏi (tất yếu) con người trước thử thách vận mạng của đất nước, chúng dân" [37-19]. Còn Nguyên Ân trong bài: Hồ Quý Ly - Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh, cũng đã phát hiện ra những cách tân của Nguyễn Xuân Khánh trong cách xây dựng nhân vật lịch sử: "Nhân vật trung tâm Hồ Quý Ly được mô tả từ nhiều điểm nhìn khác nhau ..."[1-9]. 6 Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã chỉ ra một số hạn chế của Nguyễn Xuân Khánh trong việc xây dựng nhân vật. Tiến sỹ Đinh Công Vỹ, bên cạnh những lời khen, cũng đã nhận ra nét hạn chế trong cách sử dụng ngôn ngữ ở các nhân vật lịch sử: "Đối thoại của các nhân vật lịch sử còn quá hiện đại: cha con Hồ Quý Ly nói chuyện với nhau mà xưng hô như gia đình quan chức thời nay" [57-1128]. Nhà văn Trịnh Đình Khôi thì thấy hạn chế của Nguyễn Xuân Khánh trong cách xây dựng nhân vật ở chỗ: "các sự kiện, nhân vật chưa được đẩy ở mức cao" [60-6]. Và còn rất nhiều ý kiến, đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình khác nữa. Nhìn chung các tác giả đều đã chỉ ra được nét đặc sắc của Nguyễn Xuân Khánh trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, tạo nên thế giới nhân vật vô cùng chân thực, sống động, hấp dẫn. Tuy nhiên, các bài báo, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu khái quát hoặc bước đầu đánh giá thành công hay hạn chế ở một khía cạnh nào đó của cuốn tiểu thuyết mà thôi. Những ý kiến đó là xác đáng nhưng chưa hệ thống và chưa minh chứng rạch ròi. Đã có một số luận văn Thạc sỹ khoa học Ngữ văn đi chuyên sâu về một số khía cạnh của cuốn tiểu thuyết như: luận văn Tiểu thuyết lịch sử Hồ Quý Ly - 2004 của Lê Thị Chung đã nghiên cứu và chỉ ra những thành công của cuốn tiểu thuyết ở góc độ đặc điểm thể loại tiểu thuyết lịch sử; khẳng định vị trí của Hồ Quý Ly trong tiến trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam. Lê Thị Chung còng rất quan tâm đến vấn đề nhân vật của cuốn tiểu thuyết. Luận văn đã có cách đánh giá một cách khá hệ thống về đặc điểm thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly; nhân vật lịch sử, nhân vật hư cấu, nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân vật trung gian,... cho ta hình dung về sự đa dạng, phong phú của hệ thống nhân vật trong tác phẩm. 7 Đỗ Hải Ninh trong luận văn Tiểu thuyết Hồ Quý Ly trong sự vận động của tiểu thuyết lịch sử nước ta nửa sau thể kỷ XX (2003), đã đề cập và chỉ ra một số nét đặc sắc của thế giới nhân vật trong cuốn tiểu thuyết: nhân vật đầy sức sống, nhân vật tư tưởng ... Trong luận văn: Nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1995 đến nay (2005) của Phạm Thị Thu Thuỷ đã khẳng định: Nguyễn Xuân Khánh có thành tựu trong việc xây dựng nhân vật tiểu thuyết, đặc biệt xây dựng nhân vật chính Hồ Quý Ly. Tiếp nối những người đi trước, Luận văn của chúng tôi sẽ tiếp tục phát hiện những nét độc đáo của Nguyễn Xuân Khánh trong nghệ thuật xây dựng thế giới nhân vật ở tác phẩm của ông. Về cuốn Mẫu Thượng Ngàn : Mẫu Thượng Ngàn còn dày dặn, bề thế, phong phú hơn cả cuốn Hồ Quý Ly từng gây xôn xao mấy năm trước. Khi nói về nhân vật trong Mẫu Thượng Ngàn, nhà văn Nguyên Ngọc đã khen ngợi: "Trong cuốn tiểu thuyết này, đông đúc nhất, và cũng đẹp nhất, hay nhất, đậm nhất, mê nhất là những nhân vật nữ, có cảm giác vô số như vậy, từ bà Tổ Cô bí Èn, bà Ba Váy đa tình ...cho đến cô đồng Mùi, cô mỡ Hoa khốn khổ, cô trinh nữ Nhô tinh khiết. Hàng chục, hàng chục nhân vật nữ hết sức gần gũi, hiện thực, mơn mởn, sần sùi, dào dạt, trễ tràng, trữ tình, thừa mứa, khát khao cho và nhận, nhận và cho... và đến cả bà Đà của ông Đùng huyền thoại nữa..., tất cả đều tràn trề sinh lực, đầm đìa phồn thực ..." [35-1]. Nhà văn Đỗ Ngọc Yên nhận xét: "có thể nói rằng, chỉ có tài năng và tâm huyết, kinh nghiệm và trí tuệ, tình cảm và bút lực của lớp nhà văn cao niên như Nguyễn Xuân Khánh mới có thể sáng tạo nên một mẫu hình nhân vật trung tâm đa thanh và nhiều cung sắc đến như vậy". "Nhân vật trung tâm của cuốn tiểu thuyết có một tầm khái quát lớn lao hơn, vừa thánh thiện lại vừa gần gũi thân quen, mộc mạc, dân dã; vừa đầy ắp nhân tâm, nhưng cũng 8 không kém phần táo tợn; long lanh dễ vỡ nhưng cũng lì lợm như sỏi đá và ngời sáng hơn gấp bội lần những nhân vật trung tâm mà chúng ta vẫn gặp ở thể loại tiểu thuyết truyền thống" [59-12]. Nhà văn Phạm Xuân Nguyên nhận xét: "lối viết của Nguyễn Xuân Khánh đúng là cổ điển nhưng vẫn mang đậm hơi thở cuộc sống hiện đại. Tôi thích nhất là những trường đoạn viết về bản thể tự nhiên, tính phồn thực của nhân vật nữ. Rất sum suê, phì nhiêu kiểu Nguyễn Xuân Khánh" [3-2]. Nhà văn Nguyễn Sỹ Đại trong Đọc sách Mẫu Thượng Ngàn viết: "Sự kiện, nhân vật được soi chiếu trong hệ thống: nhỏ hơn, rõ hơn và làm nổi bật được ý tưởng của nhà văn" ."Biết bao nhiêu nhân vật, bao nhiêu sự kiện nhưng người đọc không bị cuốn hút và đánh mất mình trong đó" [12-13]. Nhà văn Châu Diên nhận xét: "Nhà văn đã tìm được một bố cục để vô số nhân vật nhỏ của nhân vật cộng đồng người Việt có dịp đối chất nhau về những quan niệm khác nhau" [36-43]. Nói về kết cấu tiểu thuyết, nhà văn Đỗ Ngọc Yên nhận xét: "Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã tạo lập được một kiểu kết cấu mới, chặt chẽ và hoàn chỉnh xoay quanh việc miêu tả đối thoại và quá trình tiếp biến giữa các nền văn hoá để tìm ra đâu là bản sắc văn hoá Việt" [59-12]. Bên cạnh đó, tác phẩm cũng còn chưa tránh khỏi một sè "tì vết". Hội đồng xét giải của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nội đã chỉ ra hạn chế của tác phẩm "ở mét số chương đoạn, sự dông dài tỉ mỉ làm chùng lại dòng chảy của câu chuyện". Nhưng hạn chế là rất Ýt, rất nhỏ so với những thành công của cuốn tiểu thuyết. Và “Mẫu Thượng Ngàn vẫn là cuốn tiểu thuyết nổi bật trong những ứng cử viên của giải thưởng năm nay" (Nhận xét của Hội đồng xét giải Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội năm 2006). Gần đây nhất là kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Thu Trang trong Khoá luận tốt nghiệp Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn -5/2007, đã phát hiện ra và bước đầu khái quát thành một số đặc điểm của thế 9 giới nhân vật trong tác phẩm: thế giới nhân vật phong phó, sinh động, có nhiều tính cách ... Hoàng Thị Thu Trang cũng đã chỉ ra: trong Mẫu Thượng Ngàn, Nguyễn Xuân Khánh sử dụng khá đa dạng các biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật ... Tuy nhiên, với khuôn khổ của một Khoá luận tốt nghiệp, tác giả luận văn cũng chưa triển khai vấn đề một cách hệ thống, sâu sắc. Nh vậy, những ý kiến nhận xét, đánh giá về cuốn Mẫu Thượng Ngàn mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, sơ lược. Và vì mới ra đời, nên cũng chưa có những công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về nó. Trong luận văn của mình, chúng tôi sẽ đi sâu vào tìm hiểu tác phẩm để rót ra những kết luận, những ý kiến xác đáng, mới mẻ về cuốn tiểu thuyết. Đặc biệt là những phát hiện về thế giới nhân vật tác phẩm mà đề tài đi sâu. 3. Nhiệm vô, đối tượng nghiên cứu Ở luận văn này, chúng tôi sẽ tìm hiểu, hệ thống, phân tích, đánh giá các nhân vật trong hai cuốn tiểu thuyết: cố gắng chỉ ra những đặc điểm chung của thế giới nhân vật ở đây đã được chỉ đạo bởi quan niệm nghệ thuật nào, bởi sức sáng tạo, tài năng nghệ thuật nào ở bút lực nhà văn đã vào tuổi "tri thiên mệnh". (nhà văn năm nay đã 74 tuổi). Từ đó, luận văn sẽ dựng lên và khái quát thành những đặc điểm của thế giới nhân vật trong hai tác phẩm. Qua đó, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn trong hai tác phẩm và khái quát hơn, luận văn sẽ góp phần chỉ ra quan niệm nghệ thuật nói chung của Nguyễn Xuân Khánh về cái đẹp, về cuộc sống, về nghệ thuật và mối quan hệ giữa nó với đời sống xã hội... Đồng thời, luận văn cố gắng đào sâu những kiến thức lý luận về đặc điểm nhân vật, nghệ thuật xây dựng thế giới nhân vật của thể loại tiểu thuyết. 4. Đóng góp của đề tài 10 Trên cơ sở tìm hiểu tác phẩm, luận văn góp phần phát hiện những đặc sắc của Nguyễn Xuân Khánh trong nghệ thuật xây dựng thế giới nhân vật tiểu thuyết; sự đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh trong nền tiểu thuyết đương đại. Luận văn cũng sẽ tiến tới khẳng định quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn và tư tưởng nghệ thuật nhà văn Nguyễn Xuân Khánh. 5. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở vận dụng những kiến thức lý luận khái quát, chúng tôi sử dụng một số phương pháp cơ bản sau: - Phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp: chúng tôi sẽ dựng lại toàn bộ thế giới nhân vật trong hai cuốn tiểu thuyết rồi phân tích ,đánh giá, tìm ra mối liên hệ chặt chẽ giữa các nhân vật trong hai cuốn tiểu thuyết. Đồng thời đưa ra những ý kiến đánh giá chủ quan của người viết trong việc xây dựng thế giới nhân vật của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh ở đó. - Phương pháp so sánh, đối chiếu: trên cả hai bình diện đồng đại và lịch đại. Chúng tôi sẽ tiến hành so sánh thế giới nhân vật của hai cuốn tiểu thuyết với thế giới nhân vật trong một số sáng tác của nhà văn trước đó và với một số tác giả tiêu biểu khác để làm nổi bật sức hấp dẫn của thế giới nhân vật trong hai cuốn tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn. Những phương pháp này chúng tôi sử dụng có khi tách biệt, nhưng hầu nh là đan xen, kết hợp trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn này. 6. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Đôi nét khái quát lý thuyết về nhân vật văn học, nhân vật trong thể loại tiểu thuyết và việc xây dựng thế giới nhân vật. 11 Chương 2: Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn . Chương 3: Nghệ thuật xây dựng thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly và Mẫu Thượng Ngàn. 12 PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 ĐÔI NÉT KHÁI QUÁT LÝ THUYẾT VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC, NHÂN VẬT TRONG THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT VÀ VIỆC XÂY DỰNG THẾ GIỚI NHÂN VẬT. 1.1. Nhân vật văn học 1.1.1. Khái niệm: "Nhân vật văn học là con người được miêu tả thể hiện trong văn học bằng phương tiện văn học [64 - 277]. Nói cách khác, nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, có ý nghĩa con người. Nhân vật là con đẻ của nhà văn, là sản phẩm của của tư duy nghệ thuật, sự sáng tạo của nhà văn, nhằm thể hiện một tư tưởng cụ thể. Nhân vật văn học có thể là những con người giống như thật hoặc có nguyên mẫu ở ngoài đời như Mẹ La, ông Dâng, cụ Cam, mẹ Nghĩa, Đơ Vanhxi, ThySan, Giáng Hương trong Cửa Biển của Nguyên Hồng; là Quang Trung – Nguyễn Huệ trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí của nhóm Ngô Gia Văn Phái; là chị Dậu, Nghị Quế ... trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố ... Hoặc có khi là những nhân vật do nhà văn hư cấu tưởng tượng ra như Thạch Sanh, Sọ Dừa, Tiên, Bụt ... trong các câu chuyện cổ dân gian. Nhân vật văn học còn có thể là các sự vật, hiện tượng nh Biển trong bài thơ của Biển của Xuân Diệu; Sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, Trăng trong thơ Hàn Mạc Tử ... Nhân vật văn học có khi hiện ra với đầy đủ ngoại hình, tính cách, hành động, suy nghĩ như các nhân vật trong tác phẩm tự sự; có khi lại chỉ tồn tại dưới dạng những cảm xúc, tâm trạng, nỗi niềm như những nhân vật trong thơ trữ tình; Có lúc là những tưởng tượng hư cấu kỳ lạ như trường hợp Sọ Dừa, Tôn Ngộ Không ... nhưng đều mang dáng dấp, tâm hồn những con người được miêu tả cụ thể hoặc khái quát và rất sinh động như những con người có thật ngoài cuộc đời. 13 Nhân vật là yếu tố quan trọng cấu thành tác phẩm, là yếu tố nghệ thuật mang ý nghĩa tư tưởng, thể hiện ý đồ sáng tạo của nhà văn. Nhân vật là hình thức nghệ thuật ước lệ để qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng. Vì thế, ta không nên đồng nhất nhân vật văn học với con người thật ngoài đời; cũng không nên đồng nhất nó với nguyên mẫu, mà chỉ coi nhân vật trong văn học như là một yếu tố hình thức mang tính nội dung: đó là những ước lệ nghệ thuật có những quy ước chung và sáng tạo riêng của tác giả. Chính điều này tạo nên sự đa dạng của nhân vật trong văn học. 1.1.2. Ý nghĩa, chức năng của nhân vật trong tác phẩm văn học Nhân vật là hình thức hạt nhân của tác phẩm nghệ thuật. Nó là yếu tố không thể thiếu trong tác phẩm văn học. Nhân vật là căn cứ rõ nhất để ta nắm bắt tư tưởng nghệ thuật của nhà văn cũng nh điều người nghệ sỹ muốn gửi gắm tới độc giả. Thông qua thế giới hình tượng trong tác phẩm, cụ thể là thông qua thế giới nhân vật, ta có thể dễ dàng tiếp cận nội dung ý nghĩa của một tác phẩm văn học. Nhân vật là phương tiện khái quát hiện thực, "chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, ước ao, kỳ vọng về con người. Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân nhất định và quan niệm về các nhân vật đó" [64-278]. Thông qua các nhân vật, nhà văn có thể khái quát các tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng. Tính cách là một hiện tượng lịch sử , xã hội xuất hiện trong hiện thực khách quan. Chức năng khái quát của nhân vật cũng mang tính lịch sử. Tức là, mỗi nhân vật thường mang ý nghĩa tiêu biểu cho một thời đại nhất định. Ví dụ những nhân vật Kiều, Đạm Tiên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du là hiện thân cho nỗi bất hạnh của người phụ nữ dưới thời phong kiến - những số phận "tài hoa mà bạc mệnh"; nhân vật chị Dậu trong Tắt Đèn của Ngô Tất Tố là tiêu biểu cho nỗi khổ của người phụ nữ nông dân Việt Nam trước cách mạng ... 14 Nhưng ý nghĩa của nhân vật không chỉ là thể hiện tính cách. Vì mỗi tính cách là kết tinh của một môi trường cho nên nhân vật còn là người dẫn dắt ta vào một thế giới đời sống. Ví dụ: nhân vật Lão Hạc, nhân vật Chí Phèo trong các tác phẩm cùng tên của Nam Cao dẫn ta vào thế giới đời sống đói nghèo, túng quẫn của những người nông dân Việt Nam trước cách mạng: Họ bị đẩy vào bước đường cùng không lối thoát (Lão Hạc); bị biến dạng cả nhân hình, nhân tính (Chí Phèo). Hay những nhân vật cụ Cố Hồng, Xuân Tóc đỏ, cô Tuyết, bà Phó Đoan, Tuypn ... trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, lại dẫn ta vào thế giới đời sống của tầng lớp tiểu tư sản thành thị Việt Nam những năm 1936 - 1939 thế kỷ XX khi mà xã hội đang rộ lên phong trào "cải cách, Âu hoá" với tất cả sự nhố nhăng, đồi bại ... cái xã hội mà Vũ Trọng Phụng gọi là "Xã hội chó đểu". .. Một chức năng quan trọng khác của nhân vật là thể hiện những quan niệm nghệ thuật và tư tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người, cuộc đời. Nhà văn xây dựng nhân vật không chỉ để phản ánh hiện thực mà để phản ánh tư tưởng, ý đồ nghệ thuật, sự sáng tạo của mình về đời sống, con người. Vì thế, ở một khía cạnh khác, nhân vật chính là cách nêu vấn đề và khêu gợi người đọc đồng sáng tạo. Ví dụ, khi xây dựng nhân vật Quan Công, Lưu Bị, Tào Tháo ... trong Tam Quốc diễn nghĩa là La Quán Trung muốn gửi gắm quan niệm nghệ thuật của mình về hình ảnh những con người ngay thẳng, cương quyết (Quan Công); anh hùng chính trực (Lưu Bị); con người gian giảo, mưu kế (Tào Tháo) ... Nhân vật có ý nghĩa quyết định nội dung tư tưởng tác phẩm, thể hiện sự sáng tạo của nhà văn và là nhân tố rất quan trọng làm nên sự thành công của tác phẩm văn học. VÒ đại thể, nhiều nhà văn, nhà lý luận đều khẳng định không có nhân vật sẽ không có tác phẩm văn chương. 1.1.3. Loại hình nhân vật văn học 15 Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng. Các nhân vật thành công thường là những sáng tạo độc đáo, không lặp lại. Tuy nhiên, khi sáng tác, các nhà văn thường dựa trên những tiêu chí nhất định. Do vậy, dựa trên những tiêu chí khác nhau, ta có thể phân loại nhân vật thành các loại hình nhân vật khác nhau. 1.1.3.1. Xét về mặt kết cấu Căn cứ vào kết cấu hình tượng trong tác phẩm, ta có thể phân loại nhân vật thành: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm... Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều, giữ vị trí then chốt của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện. Đó là con người liên quan đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ bản của mình. Ví dụ nh những nhân vật Pie, Anđây, Natasa ... trong Chiến tranh và Hoà bình; nhân vật Tào Tháo, Lưu Bị, Quan Công, Khổng Minh,.. trong Tam Quốc diễn nghĩa. Nhân vật chính là những nhân vật được khắc hoạ đầy đặn, có tiểu sử, có nhiều tình tiết và là nhân vật tập trung thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm. Nhân vật trung tâm: là nhân vật nổi bật trong các nhân vật chính. Nó xuyên suốt tác phẩm về mặt ý nghĩa, là nơi quy tụ các mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác phẩm như Xuân Tóc Đỏ trong Số Đỏ, nhân vật Khắc trong Vỡ Bê của Nguyễn Đình Thi, nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao ... Nhân vật phụ: là nhân vật mang các tình tiết, sự kiện, tư tưởng có tính chất phụ trợ, bổ sung, làm nổi bật nhân vật chính. Tuy vậy, các nhân vật phụ cũng là một bộ phận không thể thiếu góp phần làm nên diện mạo tác phẩm. Mỗi nhân vật phụ được nhà văn tạo ra đều hàm chứa những tư tưởng nhất định trong tác phẩm. Trong mối quan hệ với nhân vật chính, nhân vật phụ đôi khi rất năng động, nó thúc đẩy, làm cho nhân vật chính bộc lộ: Ví dụ sự xuất hiện của Năm Thọ, Binh Chức trong tác phẩm Chí Phèo, làm nổi bật nhân vật 16 Chí Phèo; nhân vật Binh Tư và nhân vật ông Giáo trong tác phẩm Lão Hạc cũng có tác dụng làm hoàn thiện con người Lão Hạc ... 1.1.3.2. Xét về phương diện hệ tư tưởng Nhân vật văn học xét trong quan hệ tư tưởng lại có thể chia ra thành nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân vật tích cực, tiêu cực. Cách phân loại nhân vật này, gắn liền với những mâu thuẫn đối kháng trong xã hội, hình thành trên cơ sở đối lập giai cấp và quan điểm tư tưởng. Nhân vật chính diện: là những nhân vật mang lý tưởng, quan điểm tư tưởng, đạo đức tốt đẹp của tác giả và của thời đại. đó là người mà tác phẩm khẳng định và đề cao nh những tấm gương về phẩm chất cao đẹp của con người một thời. Ví dụ nh nhân vật Kiều, Từ Hải ... là nhân vật chính diện, tích cực trong Truyện Kiều, là những nhân vật mang vẻ đẹp đạo đức, lý tưởng của con người trong thời đại phong kiến ... Nhân vật chính diện là nhân vật thể hiện lý tưởng xã hội và lý tưởng thẩm mỹ của thời đại mình. Đó là các khuynh hướng tư tưởng tiến bộ. Các phẩm chất chính diện của nhân vật chính diện phản ánh các phẩm chất tốt đẹp có thật của con người trong đời sống, bộc lộ trong thực tế, được nhà văn khái quát, nâng cao, chứ không bịa đặt ra. Nhân vật phản diện hay tiêu cực là những con người mang những phẩm chất xấu xa trái với đạo đức và lý tưởng, đáng lên án và phủ định. Ví dụ nhân vật Bá Kiến, Nghị Quế, Nghị Hách, Quan Huyện Hinh,.. là những nhân vật phản diện tiêu biểu cho bộ mặt xấu xa của giai cấp thống trị phong kiến Việt Nam đương thời. 1.1.3.3. Xét về cấu trúc hình tượng Ta có nhân vật chức năng (nhân vật mặt nạ), nhân vật tính cách, nhân vật loại hình, nhân vật tư tưởng ... 17 Nhân vật chức năng: là nhân vật mang những phẩm chất nhất định, không thay đổi từ đầu đến cuối tác phẩm. Chúng tồn tại và hoạt động chỉ nhằm thực hiện một số chức năng nhất định, đóng một vai trò nhất định. Các nhân vật này không có đời sống nội tâm, thường xuất hiện trong văn học cổ đại và trung đại: ông bụt, bà tiên ... Nhân vật loại hình: là nhân vật tập trung thể hiện các phẩm chất xã hội, đạo đức của một loại người nhất định của một thời. Đó là loại nhân vật nhằm khái quát một kiểu tính cách của một số nhân vật trở thành nhân vật mang tính điển hình, kiểu như nhân vật Acpagông của Môlie tượng trưng cho thãi keo kiệt; nhân vật Tác tuyp thể hiện cho thói đạo đức giả ... Nhân vật tính cách: là một kiểu nhân vật phức tạp. Nhân vật tính cách được miêu tả là những cá nhân với đầy đủ những nét ngoại hình, hành động cũng như đời sống nội tâm nhân vật và mối quan hệ với các nhân vật khác. Nhân vật tính cách là những nhân vật được miêu tả cụ thể, sinh động và có tính khái quát cao. Ví dụ các nhân vật Tào Tháo, Giăng Văn Giăng, Anđrrây, Thuý Kiều, Bá Kiến ... là những tính cách đa dạng. Nhân vật tư tưởng: là loại nhân vật tập trung thể hiện một tư tưởng, một ý thức tồn tại trong đời sống tinh thần của xã hội. Mỗi nhân vật tư tưởng ra đời đều mang trong đó ý đồ tư tưởng của nhà văn. Qua nhân vật, nhà văn gửi gắm những quan niệm nghệ thuật về đời sống. Ví dụ nhân vật Hămlét là tư tưởng của Sechxipia, Raxcônnhicốp là tư tưởng của Đôxtôievski ... Những cách phân chia này chỉ là một cách tư duy phân loại cho dễ hiểu, nhiều khi cứng nhắc; không thực sự khái quát được bản chất con người xét về tổng thể. Mỗi nhân vật - con người trong đời sống cũng như trong nghệ thuật thường rất đa dạng mang nhiều tư tưởng, hành động, tính cách phức tạp vừa tốt vừa xấu, tích cực lẫn tiêu cực ... và được nhìn nhận trong sự tiếp thụ của tác giả cũng như bạn đọc từ nhiều quan niệm, góc độ khác nhau. Vì vậy rất cần mềm dẻo trong nhìn nhận phân loại nhân vật. 18 1.1.3.4. Xét về đặc điểm thể loại Ta có nhân vật kịch, nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình ... - Nhân vật kịch là những nhân vật không được khắc hoạ cụ thể, tỉ mỉ, nhưng tính cách lại nổi bật nhằm gây Ên tượng mạnh và thể hiện là những nhân vật sinh động. Đặc trưng của thể loại kịch là tái hiện những xung đột đời sống. Do vậy nhân vật kịch thường chứa đựng trong nó những cuộc đấu tranh với những mâu thuẫn bên ngoài và bên trong nhân vật. Đặc điểm này giúp ta cảm nhận nhân vật kịch là những con người được miêu tả vừa sinh động vừa đa dạng. Đó là những con người vừa biết hành động suy nghĩ bên ngoài, vừa có những trăn trở dằn vặt bên trong đời sống tâm hồn. Nhân vật tự sự: là những nhân vật có tất cả các phương diện cho sự tồn tại một con người. Là những nhân vật có ngoại hình, quan hệ, hành động, nội tâm ... Nó là những nhân vật luôn hành động thể hiện nội dung tư tưởng tác phẩm. Nó không bị giới hạn về số lượng nhân vật, không giới hạn hoạt động, không gian, thời gian,... Nhân vật trữ tình: là những nhân vật thường được thể hiện trong tác phẩm trữ tình. Đó là những nhân vật không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự hay nhân vật kịch. Nhân vật trữ tình thường được cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, tâm trạng, trong cách cảm, cách nghĩ ... và qua đó, ta có thể nhận ra những tâm hồn, những con người. 1.1.4. Các phương thức, phương tiện và biện pháp thể hiện nhân vật Sự thể hiện nhân vật văn học bao giờ cũng nhằm khái quát một nội dung đời sống xã hội và một quan niệm về cuộc đời, con người của nhà văn. Vì vậy, sự thể hiện của nhân vật phải được xem xét trong sự phù hợp với nội dung nhân vật, đồng thời, phải phù hợp với mỗi kiểu loại nhân vật. Với mỗi tác phẩm, mỗi nhà văn, mỗi nhân vật sẽ có cách thể hiện khác nhau, tương ứng với việc sử dụng các phương thức, phương tiện khác nhau để miêu tả nhân vật, nhằm tạo nên những nhân vật sinh động, đa dạng, hấp dẫn. 19 Văn học truyền thống thường sử dụng một số biện pháp sau để miêu tả nhân vật: - Miêu tả ngoại hình, nội tâm nhân vật. - Miêu tả hành động, cách ứng xử. - Miêu tả nhân vật thông qua những mâu thuẫn, xung đột, sự kiện. - Miêu tả qua lời nói, đối thoại , giọng điệu. - Miêu tả nhân vật trực tiếp hoặc gián tiếp qua sự cảm nhận của mọi người xung quanh đối với nhân vật, qua đồ vật, môi trường mà nhân vật sống. - Dùng chi tiết để miêu tả nhân vật - Miêu tả nhân vật bằng các phương tiện kết cấu, bằng các phương tiện ngôn ngữ, bằng các phương tiện miêu tả riêng của từng thể loại. - Miêu tả các nhân vật qua cảm nhận riêng của chính nhà văn bằng thái độ yêu, ghét, ủng hộ, phản đối, chăm chút, từ bỏ ... Ngoài những phương tiện, biện pháp xây dựng nhân vật trên, trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, các nhà văn luôn tìm cho mình những cách thức xây dựng nhân vật mới mẻ, hữu hiệu, để thể hiện được rõ nhất tư tưởng tác phẩm; vì thế, các biện pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật luôn luôn được đổi mới và thể hiện ngày càng phong phú hơn 1.2. Nhân vật trong thể loại tiểu thuyết 1.2.1. Khái niệm Nhân vật tiểu thuyết thuộc loại hình nhân vật tự sự. Đó là những nhân vật được khắc hoạ đầy đặn, rõ nét, nhiều mặt, rất sinh động và đa dạng. Nhân vật tiểu thuyết là kết quả năng động của quá trình sáng tạo mang tính cá nhân của nhà văn. Nhân vật tiểu thuyết có thể được hư cấu hoàn toàn, có thể bắt nguồn từ một nguyên mẫu ngoài cuộc đời, nhưng nó đều là những “nhân vật sống”. Nó không chỉ có các yếu tố ngoại hình, ngôn ngữ, hành động… mà còn có đời sống nội tâm phong phú và bản thân nhân vật luôn có 20
- Xem thêm -