Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ

  • Số trang: 69 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34173 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN: Thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ Chương I Những vấn đề cơ bản về thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ I. thanh toán Quốc tế nhiệp vụ quan trọng của ngân hàng thương mại trong phục vụ kinh tế đối ngoại 1. Tầm quan trọng của kinh tế đối ngoại trong sự nghiệp đổi mới nền kinh tế nước ta Sự hợp tác và tham gia phân công lao động quốc tế tăng lên không những làm cho trao đổi hàng hoá trong nước gia tăng mà còn làm cho trao đổi hang hoá và dịch vụ giữa các nước phát triển.Xu hướng chung hiện nay là sự liên kết kinh tế giữa các nước ngày càng chặt chẽ và hình thành một thị trường thống nhất. Các quốc gia có vai trò như một chủ thể kinh tế trên thị trường và cạnh tranh nhau để phát triển. Tuy nhiên, sự cạnh tranh để phát triển tự nó lại phát sinh nhu cầu hợp tác và phân công lao động quốc tế nhằm giải quyết những nhu cầu về tiền vốn, công nghệ, nhân lực, tài nguyên và thị trường tiêu thụ... Trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta thực chất là một nền kinh tế tự cung tự cấp, khép kín với thị trường thế giới và chia cắt giữa các địa phương trong nước. Cơ chế hoạt động kinh tế đối ngoại trong thời kỳ này là kế hoạch hóa cứng nhắc theo Nghị định thư và nhà nước độc quyền ngoại thương cả về phươg diện quản lý nhà nước XHCN, dưới các hình thức: Viện trợ nhân đạo, hoặc giá cả tượng trưng, hữu nghị... Cho nên các được các đơn vị, các ngành sản xuất khẩu có chất lượng, nhập khẩu cũng không được chú trọng đúng mức. Với tính chất và đặc điểm của hoạt động kinh tế đối ngoại như vậy, thực chất chúng ta đã duy trì quá lâu một hệ thống kinh tế lạc hậu cứng nhắc, trong đó có hệ thống thanh toán quốc tế của Ngân hàng. Để điều tiết lợi ích kinh tế, nhà nước áp dụng lấy thu bù chênh lệch ngoại thương trên cơ sở một tỷ gía được ấn định trong một thời gian dài, nếu chi phí thực tế thấp hơn hoặc cao hơn tỷ giá quy định sẽ được Ngân Hàng Nhà Nước cấp bù hoặc thu về. Do vậy cũng không khuyến khích được các công ty hạch toán theo đúng thực chất mà còn mang tính thụ động trông chờ vào Nhà Nước. Trong khi đó nền kinh tế hàng hoá tạo ra cái gọi là “ lợi thế so sánh ”, trong quan hệ buôn bán và hợp tác tái sản xuất giữa các vùng, các quốc gia với nhau. Mỗi nước đều có thể tìm ra thế mạnh tương đối của mình trong phân công lao động quốc tế và mở rộng trao đổi với các nước khác trên phạm vi toàn cầu. Với quan điểm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước’, chiến lược ‘ cùng cất cánh ’ (Theo Kinh Tế-Xã Hội Việt Nam Năm 2000 : Mục tiêu, phương hướng và biện pháp chủ yếu - Uỷ ban khoa học nhà nước 12/1990), sự hoà nhập của Việt Nam vào cộng đồng thế giới văn minh trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết, phù hợp với xu thế chung của thời đại. Vì vậy mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là một chiến lược không thể thiếu được trong thời kỳ đổi mới, là con đường thực hiện các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phát huy lợi thế của đất nước, đưa đất nước vào một thời kỳ phát triển nhanh hơn, toàn diện hơn. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, thực hiện chính sách mở cửa, tổ chức tốt công tác thanh toán quốc tế sẽ thúc đẩy hoạt động nhập khẩu, không ngừng thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại. 2. Ngân Hàng Thương Mại quốc Doanh với Tăng Trưởng kinh Tế Đối Ngoại Trong điều kiện nhà nước áp dụng chính sách mở cửa và vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường, các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và ngoại thương nói riêng của nước ta đã có nhiều vận hội để phát triển nhanh chóng và thu được những thành tựu đáng khích lệ. Tốc độ xuất khẩu hàng năm trong những năm qua cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế của những năm trước gấp nhiều lần. Tình trạng nhập siêu giảm dần, mối quan hệ thị trường trong nước và thị trường ngoài nước gắn bó chặt chẽ với nhau hơn. Không những thế chính sách đổi mới của Đảng và Nhà Nước ta trong việc điều hành nền kinh tế đã tạo ra những thuận lợi cơ bản cho việc đổi mơí hoạt động Ngân Hàng, trước hết là đổi mới hệ thống Ngân Hàng thương mại quốc doanh. Ngân hàng với tư cách là một tổ chức kinh tế đặc biệt đảm nhận vai trò ba trung tâm lớn: trung tâm tiền mặt, trung tâm tín dụng, và trung tâm thanh toán. Vì vậy, các tổ chức Ngân Hàng cũng là bạn hàng của các tổ chức sản xuất kinh doanh khác, là trợ thủ đắc lực của các nhà kinh doanh. Bản thân Ngân hàng cũng phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển nên cũng cần tính đến việc mở rộng quan hệ đối ngoại, sử dụng có hiêụ quả công cụ thanh toán quốc tế góp phần đáng kể vào việc tăng trưởng kinh tế đối ngoại của đất nước. Hiện nay, theo cơ chế thị trường các Ngân hàng thương mại quốc doanh hoạt động trong bối cảnh có nhiều ngân hàng cổ phần, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, phải vừa thực hiên tốt chính sách quản lý của Nhà Nước, vừa là cầu nối giữa vốn nước ngòai và vốn trong nước phục vụ cho nền kinh tế quốc dân, cho hoạt của các đơn vị kinh tế, lại vừa phải kinh doanh có hiệu quả, rõ ràng không phải là vấn đề đơn giản. Vì vậy việc tăng cường quan hệ đối ngoại và thanh toán quốc tế của các Ngân Hàng được đặt ra không chỉ cho những năm vừa qua mà còn nhiều năm tới. Mở rộng thêm quan hệ với các ngân hàng trên thế giới, phục vụ yêu cầu đầu tư quốc tế vào đất nước ta ngày một tăng lên. Các ngân hàng đang rất quan tâm đến việc mở rộng mạng lưới, đại lý của các Ngân Hàng nước ngoài, cải tiến công nghệ Ngân hàng, thực hiện tốt thanh toán quốc tế với phương châm: “ nhanh chóng - chính xác - an toàn ”. Bên cạnh đó nâng cao trình độ của cán bộ nhân viên Ngân hàng để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và quan hệ ngoại thương là một vấn đề hết sức cấp bách. Xử lý thuần thục kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán quốc tế, thực hiện đúng đắn thông lệ quốc tế về thanh toán, thông thạo ngoại ngữ không những giúp cho việc thanh toán chính xác, nhanh chóng mà còn góp phần nâng cao uy tín của Ngân Hàng. 3. Thanh toán quốc tế với việc phục vụ thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ trong quan hệ thương mại quốc tế. Các hoạt động xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ không bao giờ tách rời nhau mà chúng thường có mối liên quan với nhau. Việc mua hàng xuất bán hàng nhập bằng nội tệ trên thị trường trong nước là khâu mở đầu và kết thúc cho việc bán hàng xuất và mua hàng nhập bằng ngoại tệ trên thị trường trong nước là khâu mở đầu và kết thúc cho việc bán hàng xuất và mua hàng nhập bằng ngoại tệ trên thị trường thế giới. Xuất khẩu là hành vi nội tệ biến thành hàng xuất khẩu lấy ngoại tệ và nhập khẩu là hành vi ngoại tệ chuyển hóa thành hàng nhập khẩu. Toàn bộ xuất nhập khẩu của một nước ký kết với nhau trong một hu kỳ khép kín, chu kỳ có dạng “ Nội tệ- Hàng xuất khẩuNgoại tệ- Hàng nhập khẩu”. Đó là một quan hệ giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hoá xuất khẩu, giữa giá ngoại tệ và giá ngoại tệ. Các quan hệ hàng hoá và tiền tệ nói trên chỉ có thể thực hiện được thông qua trao đổi quốc tế. Trong chu kỳ này, khâu thu chi đối với xuất khẩu có ý nghĩa rất quan trọng, vì hàng hóa không thu được ngoại tệ và ngược lại chi ngoại tệ nhưng không nhập khẩu được hàng hoá đã dẫn đến thiệt hại trong hoạt động thương mại. Để đảm bảo việc thu chi ngoại tệ có kết quả tốt, các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu đều phải thành thạo công tác thanh toán quốc tế, thanh toán quốc tế là việc chi trả tiền tệ giữa các đối tác thuộc các nước khác nhau trong quan hệ kinh tế quốc tế, thực hiện theo đúng các điều kiện và phương thức thanh toán đã được các bên thoả thuận ghi trong hợp đồng ngoại thương, được tiến hành thông qua Ngân hàng giữa các nước có liên quan có khách hàng buôn bán với nhau. Cụ thể các điều kiện đó là: Điều kiện về địa điểm, về tiền tệ, thơì gian, và về phương thức thanh toán. Trong đó phương thức thanh toán là điều kiện quan trọng nhất. Phương thức thanh toán là người áp dụng cách nào đó để thu tiền về, người mua dùng cách nào đó để trả tiền. Trong buôn bán người ta có thể chọn nhiều phương thức thanh toán khác nhau nhưng xét cho đến cùng việc lựa chọn phương thức nào cũng xuất phát từ yêu cầu của người mua là nhận hàng kịp thời, đúng số lượng và chất lượng.Nhìn chung, các thể thức thanh toán quốc tế thường tách rời với sự di chuyển từ người bán tới người mua. Nó phản ánh sự vận dộng có tính chất độc lập tương đối của giá trị trong quá trình chu chuyển hàng hoá và tiền tệ của các quốc gia do sự không đồng thời giữa sản xuất và tiêu thụ, đầu tư tín dụng giữa các bên tại thời điểm nhất định. thanh toán quốc tế có quan hệ trực tiếp đén lợi ích cả bên mua và bên bán. Vì vậy nó thường là một trong những đối tượng quan trọng trong việc đàm phán và ký kết các hợp đồng mua bán thương mại. Nếu công tác thanh toán quốc tế làm tốt sẽ góp phần thúc đẩy thương mại phát triển, nếu làm không tốt sẽ làm kìm hãm sự phát triển của thương mại 4. Sự cần thiết của thanh thanh toán quốc tế trong nền kinh tế thị trường Trong hoạt động thương mại Quốc tế, việc thanh toán có thể diễn ra dưới các hình thức như hàng đổi hàng hay chi trả bằng tiền tệ. Khi chế độ tiền tệ, tín dụng phát triển thành một hệ thống thanh toán hoàn chỉnh và dựa trên cơ sở hệ thống các Ngân hàng thương mại thì các Ngân hàng thương mại đảm nhiệm toàn bộ quá trình thanh toán này. Thanh toán Quốc tế phản ánh sự vận động có tính chất độc lập tương đối của giá trị hàng hoá trong quá trình chu chuyển Tư bản giữa các Quốc gia và sự không cân bằng giữa sản xuất, tiêu thụ, đầu tư tín dụng giữa các bên tại một thời điểm nhất định. 5. Vai trò của thanh toán quốc tế đối với việc phát triển kinh tế đối ngoại ở Việt Nam Với sự tham gia mạnh mẽ của giao lưu kinh tế Quốc tế, mối liên hệ giữa các Quốc gia ngày càng mật thiết và dần dần hình thành một thị trường thế giới thống nhất. Các Quốc gia có vai trò như một chủ thể kinh tế trên thị trường cạnh tranh với nhau để phát triển. Tham gia vào quá trình phân công lao động Quốc tế các Quốc gia có điều kiện tốt nhất để phát triển kinh tế do khả năng tận dụng được các thành quả kỹ thuật công nghệ tiên tiến trên thế giới, giải quyết được những khó khăn về tiền vốn, nhân lực, tài nguyên và thị trường tiêu thụ hàng hoá. Thực tế cho thấy các nước phát triển đều là nước tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động Quốc tế. Việt Nam xây dựng đất nước từ một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất nghèo nàn. Để bổ sung những yếu kém đó, chúng ta phải tranh thủ nền khoa học kỹ thuật tiên tiến của các nước phát triển. Chúng ta đang trên con đường cải cách và mở cửa nền kinh tế với tinh thần muốn làm bạn với tất cả các nước trên nguyên tắc hợp tác cùng có lợi. Chúng ta đang nỗ lực tạo lập một môi trường thuận lợi cho quá trình hợp tác và phân công lao động Quốc tế trong đó tập trung vào việc cải tạo cơ sở hạ tầng, dịch vụ thông tin, dịch vụ Ngân hàng và thanh toán Quốc tế. Về hoạt động Ngân hàng sau khi có Pháp lệnh Ngân hàng và Công ty tài chính, Hợp tác xã tín dụng ra đời. Chúng ta có hệ thống Ngân hàng hoạt động theo cơ chế thị trường, đáp ứng tốt hơn quá trình lưu thông tiền tệ tín dụng vì thông qua nó thì giá trị hàng hoá Xuất Nhập khẩu mới được thực hiện qua các khoản tín dụng, đầu tư hay mọi giao dịch đối ngoại. Với chính sách mở cửa hướng ngoại đòi hỏi chúng ta phải tổ chức tốt hoạt động ngân hàng đối ngoại, đặc biệt là khâu thanh toán Quốc tế để đảm bảo mọi điều kiện thuận lợi cho quá trình hợp tác và phân công lao động Quốc tế của Việt Nam ngày càng phát triển. Thanh toán Quốc tế là khâu cuối cùng của quá trình lưu thông hàng hoá và dịch vụ. Do ảnh hưởng của các yếu tố tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, sự khác biệt về ngôn ngữ, tập quán cũng như khả năng kiểm soát toàn bộ quá trình sản xuất cho đến việc lưu thông hàng hoá mà thanh toán Quốc tế còn gặp khó khăn và phức tạp. Nếu nghiệp vụ thanh toán không đáp ứng và theo kịp với nhu cầu phát triển kinh tế thì nó sẽ là nhân tố kìm hãm sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. II/ Các phương thức thanh toán chủ yếu được áp dụng trong thanh toán Quốc tế. 1. Phương thức chuyển tiền (Remittance): a/ Khái niệm: Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu Ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền. Các bên tham gia: - Người trả tiền (Người mua, người mắc nợ) hoặc người chuyển tiền (người đầu tư, kiều bào chuyển tiền về nước, người chuyển kinh phí ra ngoài nước) là người yêu cầu Ngân hàng chuyển tiền ra nước ngoài. - Người hưởng lợi (người bán, chủ nợ, người tiếp nhận vốn đầu tư) hoặc là người nào đó do người chuyển tiền chỉ định. - Ngân hàng chuyển tiền là Ngân hàng ở nước Người chuyển tiền. - Ngân hàng đại lý của ngân hàng chuyển tiền là ngân hàng ở nước người hưởng lợi. b./ Trình tự tiến hành nghiệp vụ: (3) Ngân hàng chuyển tiền (2) Người chuyển tiền (3) Ngân hàng đại lý (4) Người hưởng lợi (1) (1) Giao dịch thương mại (2) Viết đơn yêu cầu chuyển tiền (bằng thư hoặc bằng điện) cùng với ủy nhiệm chi (nếu có tài khoản mở tại Ngân hàng) (3) Chuyển tiền ra nước ngoài qua Ngân hàng (4) Ngân hàng chuyển tiền cho Người hưởng lợi. c. Trường hợp áp dụng: * Trả tiền hàng nhập khẩu với nước ngoài cần chú ý: + Lúc nào thì chuyển tiền: thường là sau khi nhận xong hàng hoá hoặc là sau khi nhận được chứng từ gửi hàng. + Số tiền được chuyển dựa vào: Trị giá của hoá đơn thương mại hoặc kết quả của việc nhận hàng về số lượng và chất lượng để quy ra số tiền phải chuyển. + Chuyển tiền bằng thư chậm hơn chuyển tiền bằng điện. + Nên hạn chế áp dụng trong thanh toán hàng xuất khẩu với nước ngoài vì dễ bị người mua chiếm dụng vốn. * Thanh toán trong lĩnh vực thương mại và các chi phí có liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hoá. * Chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư hoặc chi tiêu phi thương mại.  Chuyển kiều hối. d. Các yêu cầu về chuyển tiền : * Muốn chuyển tiền phải có giấy phép của Bộ chủ quản hoặc bộ tài chính. Chuyển tiền thanh toán trong ngoại thương phải có: + Hợp đồng mua bán ngoại thương + Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu + Uỷ nhiệm chi ngoại tệ và phí chuyển tiền. + Đơn xin chuyển tiền. Trên đơn chuyển tiền gửi đến Vietcombank hoặc một ngân hàng thương mại được phép thanh toán Quốc tế cần ghi đủ: - Tên, địa chỉ của người hưởng lợi, số tài khoản nếu người hưởng lợi yêu cầu. - Số ngoại tệ xin chuyển cần ghi rõ bằng số và bằng chữ, loại ngoại tệ. - Lý do chuyển tiền - Những yêu cầu khác - Ký tên đóng dấu. 2. Phương thức nhờ thu (Collecection of payment): a. Khái niệm : Phương thức nhờ thu là một phương thức thanh toán trong đó người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng uỷ thác cho ngân hàng của mình thu hộ số tiền ở người mua trên cơ sở hối phiếu của người bán lập ra. Các bên tham gia phương thức nhờ thu gồm có: - Người bán tức là người hưởng lợi - Ngân hàng bên bán tức là Ngân hàng nhận uỷ thác của người bán - Ngân hàng đại lý của ngân hàng bên bán là Ngân hàng ở nước người mua - Người mua tức là người trả tiền b. Các loại nhờ thu: b.1 Nhờ thu phiếu trơn (clean collection) Là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho Ngân hàng thu hộ tiền ở người mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra, còn chứng từ gửi hàng thì gửi thẳng cho người mua không qua Ngân hàng. Trình tự tiến hành nghiệp vụ của nhờ thu phiếu trơn phải trải qua các bước sau : (1) Người bán sau khi gửi hàng và chứng từ gửi hàng cho người mua, lập một hối phiếu đòi tiền người mua và uỷ thác cho ngân hàng của mình đòi tiền hộ bằng chỉ thị nhờ thu. (2) Ngân hàng phục vụ bên bán gưỉ chỉ thị nhờ thu kèm hối phiếu cho Ngân hàng đại lý của mình ở nước người mua nhờ thu tiền. (3) Ngân hàng đại lý yêu cầu người mua trả tiền hối phiếu nếu trả tiền ngay hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu (nếu mua chịu). (4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho người bán, nếu chỉ là chấp nhận hối phiếu thì Ngân hàng giữ hối phiếu hoặc chuyển giao lại cho người bán. Khi đến hạn thanh toán, ngân hàng sẽ đòi tiền ở nước người mua và thực hiện việc chuyển tiền như trên. Sơ đồ trình tự nghiệp vụ nhờ thu phiếu trơn (2) Ngân hàng Ngân hàng phục phục vụ vụ bên bán bên mua (4) (1) (4) (4) (3) Gửi hàngvà chứng từ Người bán Người mua (1). Nhờ thu hối phiếu (2,3) Đòi tiền người mua (4) Người mua trả tiền cho người bán * Phương thức nhờ thu phiếu trơn thường được áp dụng trong những trong những trường hợp sau: - Người bán và người mua tin cậy lẫn nhau hoặc là có quan hệ liên doanh với nhau giữa các công ty mẹ, công ty con hoặc chi nhánh của nhau; - Thanh toán về các dịch vụ có liên quan tới xuất nhập khẩu hàng hoá vì việc thanh toán này không nhất thiết phải kèm theo chứng từ như tiền cước phí vận tải, bảo hiểm, phạt bồi thường v.v... * Phương thức nhờ thu phiếu trơn không được áp dụng nhiều trong thanh toán về mậu dịch, vì nó không bảo đảm quyền lợi cho người bán, việc nhận hàng của người mua hoàn toàn tách rời khỏi khâu thanh toán, do đó người mua có thể nhận hàng và không trả tiền hoặc chậm trễ việc trả tiền. Đối với người mua áp dụng phương thức này có nhiều bất lợi, vì nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, người mua phải trả tiền ngay trong khi không biết việc giao hàng của người bán có đúng hợp đồng hay không. b.2/ Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection): Sơ đồ trình tự nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ: Ngân hàng Ngân hàng phục vụ (3) phục vụ bên bán bên mua (6) (7) (2) (5) (4) Gửi hàng Người bán Người mua (1) Là phương thức trong đó người bán uỷ thác cho Ngân hàng thu hộ tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo với điều kiện là nếu người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền hối phiếu thì Ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để nhận hàng. Trình tự tiến hành nghiệp vụ nhờ thu kèm chứng từ : (1) Người bán giao hàng cho Người mua. (2) lập một bộ chứng từ nhờ Ngân hàng thu hộ tiền. Bộ chứng từ gồm có hối phiếu và các chứng từ gửi hàng kèm theo. (3) Ngân hàng phục vụ bên bán gửi chỉ thị nhờ thu kèm hối phiếu và chứng từ cho Ngân hàng đại lý của mình ở nước người mua nhờ thu tiền. (4) Ngân hàng đại lý chỉ trao chứng từ gửi hàng cho người mua khi người mua trả tiền (D/P) hoặc chấp nhân trả tiền hối phiếu (D/P) (nếu hối phiếu trả chậm) (5) Người mua trả tiền nhờ thu (trả tiền ngay hoặc trả tiền khi đến hạn) (6) Nhận được tiền từ Người mua, Ngân hàng đại lý phục vụ bên mua trả tiền cho Ngân hàng nhờ thu (Ngân hàng bên bán) theo chỉ thị của Ngân hàng này. (7) Nhận được tiền từ Ngân hàng phục vụ bên mua Ngân hàng nhờ thu phục vụ bên bán trả tiền cho bên bán (Người hưởng lợi). Trong nhờ thu kèm chứng từ, người bán uỷ thác cho ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn có việc nhờ Ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng đối với người mua. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn. Với cách khống chế chứng từ này, quyền lợi người bán được bảo đảm hơn, tức là chỉ khi trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền mới được nhận chứng từ đi nhận hàng. 3. Phuơng thức thanh toán bằng séc Hình thức thanh toán sec là hình thức trong đó người mua (nhập khẩu) phát hành một tờ séc cho người bán khi người bán (xuất khẩu) hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ Tờ séc là một chỉ thị thanh toán bằng mẫu in sẵn của người phát hành cho ngân hàng của họđể thanh toán một số tiền như lệnh cho người hưởn dược chỉ định rõ tên trên sec hoặc người câm séc Các bên tham gia thanh toán séc - Người phát hành séc là người nhập khẩu hoặc người mắc nợ - Người thụ hưởng là nguời có tên trên tờ séc hoặc người cầm séc - Ngân hàng thanh toán séc là ngân hàng giữ tài khảon của người phát hành séc - Ngân hàng trung gian là ngân hàng phục vụ người thụ hưởng và là ngân hàng có quan hệ đại lý với ngân hàng thanh toán. 4. Phương thức tín dụng chứng từ Là phương thức thanh toán thông dụng nhất hiện nay, khối lượng thanh toán ngày càng lớn, do đó phòng thương mại Quốc tế tại Paris đã ban hành quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ để các bên Xuất và Nhập khẩu, các Ngân hàng liên quan áp dụng, nhằm tránh những sự hiểu lầm đáng tiếc có thể xảy ra, do khác nhau về địa lý, tập quán, tiếng nói... Trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng không chỉ là người trung gian thu hộ - chi hộ mà còn là người đại diện bên nhập khấu thanh toán tiâen hàng cho bên xuất khẩu đảmbảo cho bên xuất khẩu được khoản tiền tuơng ứng với hàng hoá mà họ cung ứng, đồng thời đảm bảo cho tổ chức nhập khẩu nhận được số lượng, chất lượng hàng hoá tương ứng với số tiền mà mình phải thanh toán. III. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (documentary credit) Định nghĩa tín dụng chứng từ Thư tín dụng (Letter of credit - L/C) là một chứng thư (điện hoặc ấn chỉ), trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình được bộ chứng từ phù hợp vớ nội dung cuả L/C. Thư tín dụng có tính chất quan trọng nó hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua bán, nhưng sau khi dược thiết lập, nó lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán. 1. Khái niệm phương thức thanh toán tín dụng chứng từ a. Khái niệm Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một Người khác (Người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do Người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi Người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng. Các bên tham gia trong phương thức tín dụng chứng từ gồm có: - Người xin mở thư tín dụng là người mua, người nhập khẩu hàng hoá, hoặc là Người mua uỷ thác cho một người khác. - Ngân hàng mở thư tín dụng là Ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu cấp tín dụng cho Người nhập khẩu. - Người hưởng lợi thư tín dụng là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định. - Ngân hàng thông báo thư tín dụng là ngân hàng ở nước người hưởng lợi. - Ngân hàng thương lượng là Ngân hàng được phép thương lượng bộ chứng từ do Người xuất khẩu xuất trình. - Ngoài ra có thể có Ngân hàng hoàn trả tức là Ngân hàng được Ngân hàng mở L/C uỷ quyền trả tiền cho Ngân hàng thương lượng. b. Trình tự tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ : Sơ đồ trình tự nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ : (2) Ngân hàng mở L/C (6) Ngân hàng thông báo L/C (8) (7) Người nhập khẩu (1) 6) (5) (3) (4) Người xuất khẩu (1) Người nhập khẩu làm đơn xin mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng của mình yêu cầu mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng; (2) Căn cứ vào lá đơn xin mở thư tín dụng, ngân hàng mở thư tín dụng sẽ lập một thư tín dụng và thông qua ngân hàng đại lý của mình ở nước người xuất khẩu thông báo việc mở thư tín dụng và chuyển thư tín dụng đến người xuất khẩu. (3) Khi ngân hàng nhận được thư tín dụng từ ngân hàng mở, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung thư tín dụng. (4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng, nếu không thì tiến hành đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung tín dụng cho phù hợp với hợp dồng; (5) Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập một bộ chứng từ giao hàng theo các điều kiện quy định trong L/C, xuất trình bộ chứng từ đó tới ngân hàng thương lượng (Negotiationg - Bank) để yêu cầu thanh toán (Ngân hàng thương lượng có thể là Ngân hàng thông báo, cũng có thể là một Ngân hàng bất kỳ theo L/C quy định). Trên sơ đồ trên để đơn giản, Ngân hàng thương lượng chính là Ngân hàng thông báo. (6) Ngân hàng thương lượng nhận được bộ chứng từ do Người bán (Người hưởng lợi xuất trình, kiểm tra sự phù hợp của chứng từ và gửi tới Ngân hàng mở L/C để đòi tiền và đòi tiền (Ngân hàng trả tiền có thể chính Ngân hàng mở L/C, có thể một Ngân hàng nào đó do Ngân hàng mở L/C uỷ quyền). Sơ đồ trên, Ngân hàng trả tiền cũng là Ngân hàng mở L/C. (7) Ngân hàng mở L/C nhận được chứng từ đòi tiền từ Ngân hàng thương lượng, tiến hành kiểm tra chứng từ so với các điều kiện của L/C. Nếu chứng từ phù hợp, tiến hành trả tiền cho Ngân hàng thương lượng, theo chỉ dẫn của họ. - Nếu chứng từ không phù hợp phải báo cho ngân hàng thương lượng trong vòng 7 ngày làm việc về những sai sót của chứng từ và xin chỉ thị của Ngân hàng thương lượng về việc định đoạt của chứng từ và đồng thời giao chứng từ cho người nhập khẩu để nhận hàng. (8) Ngân hàng nhập khẩu trả tiền cho Ngân hàng thương lượng theo chỉ dẫn của Ngân hàng thương lượng. (9) Nhận được tiền từ Ngân hàng trả tiền Ngân hàng thương lượng tiến hành trả tiền cho người hưởng lợi. 2. Những nội dung chủ yếu của L/C : a. Số hiệu, địa điểm ngày mở L/C: * Số hiệu: Tất cả các thư tín dụng đều phải phải có số hiệu riêng của nó. Tác dụng của số hiệu là để trao đổi thư từ, điện tín có liên quan đến L/C. * Địa điểm mở L/C : Là nơi mà ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, địa điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp nếu có xung đột pháp luật về L/C đó. * Ngày mở L/C: Là ngày bắt đầu phát sinh cam kết của ngân hàng mở L/C với người xuất khẩu, là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C và cuối cùng là căn cứ để người xuất khẩu kiểm tra xem người nhập khẩu thực hiện việc mở L/C có đúng hạn như trong hợp đồng không b. Tên, địa chỉ những người liên quan đến L/C : Những người có liên quan đến L/C nói chung được chia làm hai loại : Các thương nhân : Bao gồm người nhập khẩu (người mở L/C), người xuất khẩu (người hưởng lợi) Các Ngân hàng liên quan đến L/C : ngân hàng mở L/C, Ngân hàng thông báo, Ngân hàng trả tiền, Ngân hàng xác nhận, Ngân hàng chiết khấu. 1. Ngân hàng mở L/C (opening Bank): Là ngân hàng thường được hai bên mua bán thoả thuận lựa chọn và quy định trong hợp đồng, nếu chưa có quy định trước, người nhập khẩu có quyền lựa chọn. + Căn cứ vào đơn mở L/C của Người nhập khẩu để mở L/C và tìm cách thông báo nội dung L/C đó cho người xuất khẩu. + Sửa đổi, bổ xung những yêu cầu của người xin mở L/C, của người xuất khẩu đối với L/C đã được mở nếu có sự đồng ý của họ. + Kiểm tra chứng từ thanh toán của người xuất khẩu gửi đến, nếu thấy các chứng từ phù hợp với những điều quy định trong L/C và không mâu thuẫn nhau thì trả tiền cho người xuất khẩu và đòi lại tiền của. Việc từ chối phải thực hiện trong vòng 7 ngày làm việc. + Khi kiểm tra chứng từ thanh toán của người xuất khẩu gửi đến, Ngân hàng chịu trách nhiệm kiểm tra " bề ngoài " của chứng từ xem có phù hợp với L/C hay không, chứ không chịu trách nhiệm về kiểm tra tính chất Pháp lý của chứng từ, tính xác thực của chứng từ... Mọi tính chất về " Thực chất bên trong " của chứng từ là do người nhập và người xuất khẩu tự giải quyết. + Ngân hàng được miễn trách nhiệm trong trường hợp Ngân hàng rơi vào đúng các trường hợp bất khả kháng như chiến tranh, đình công, nổi loạn, khởi nghĩa, lụt lội, động đất, hoả hoạn... + Nếu L/C hết hạn giữa lúc đó, Ngân hàng cũng không chịu trách nhiệm thanh toán những bộ chứng từ gửi đến vào dịp đó, trừ khi có những quy định dự phòng. + Mọi hậu quả gây ra do lỗi của mình, Ngân hàng mở L/C phải chịu trách nhiệm, Ngân hàng được hưởng một khoản thủ tục phí mở L/C tuỳ theo chế độ phí của Ngân hàng mình. 2. Ngân hàng thông báo(Advising Bank) Thường là Ngân hàng đại lý của Ngân hàng mở L/C về nước người xuất khẩu. Quyền lợi và nghiữa vụ chủ yếu của Ngân hàng thông báo như sau: + Khi nhận được điện thông báo của Ngân hàng mở L/C về việc mở L/C, Ngân hàng nay sẽ chuyển toàn bộ nội dung L/C đã nhận được cho người xuất khẩu dưới hình thức văn bản. + Ngân hàng thông báo chỉ chịu trách nhiệm chuyển nguyên văn bức điện đó, chứ không chịu trách nhiệm phải dịch, diễn giải, các từ chuyên môn ra tiếng địa phương. Nếu Ngân hàng thông báo sai thì phải chịu trách nhiệm. Chính vì vậy cuối bức thư xác báo điện mở L/C thường có câu " Please note that we assume no responsibility for any error/or omission in the transmission/or translation of the cable ".Tức là : " xin lưu ý, chúng tôi không chịu trách nhiệm về bất cứ sự lỗi lầm hay thiếu sót trong khi chuyển và dịch bức điện này". 3. Ngân hàng xác nhận : Là Ngân hàng đứng ra xác nhận cho Ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của nó. Ngân hàng xác nhận thường là Ngân hàng lớn, có uy tín lớn trên thị trường tín dụng và tài chính Quốc tế. Ngân hàng mở L/C phải yêu cầu một Ngân hàng khác xác nhận cho mình sẽ làm giảm uy tín của mình. Mặt khác muốn được xác nhận Ngân hàng mở L/C phải trả thủ tục phí (Confirming cherges) rất cao và đôi khi phải đặt cọc trước (Cash cover), mức tiền đặt cọc có thể đạt tới 100% giá trị của thư tín dụng. 4. Ngân hàng thanh toán hay còn gọi là Ngân hàng thương lượng(Negotiating Bank): - Ngân hàng này có thể là Ngân hàng thông báo, cũng có thể là Ngân hàn bbất kỳ nào đó do Ngân hàng mở L/C chỉ định trong L/C. Người xuất khẩu chỉ được xuất trình chứng từ giao hàng thuộc L/C đó tới Ngân hàng chí định hoặc bất cứ một Ngân hàng nào. Ngân hàng đó khi đã nhận chứng từ phải kiểm tra một cách hợp lý trong vòng 7 ngày làm việc,kiểm tra sự phù hợp của các chứng từ so với L/C, kiểm tra sự phù hợp giũa các chứngd từ với nhau Ngân hàng này phải có trách nhiệm phát hiện ra các sai sót để có thể báo người xuất khẩu chỉnh sửa. Nếu thấy có thể chiết khấu được, có thể mua bộ chứng từ của đon vị với tỷ suất chiết khấu khoản 90-95% trị giá hoá đơn -sau đó giành quyền tiền đòi Ngân hàng mở L/C. Nêu thấy không đảm boả chắc chắn việc đòi tiền, Ngân hàng này chỉ tuyên bố chứng hợp lệ hay không hợp lệ, chỉ thị cho Ngân hàng trả tiền - chứ không chiết khấu chứng từ. 5. Ngân hàng hoàn trả: (reimbursing Bank): - Có thể là ngân hàng mở L/C, cũng có thể là Ngân hàng khác ngoài ngân hàng mở L/C. - Ngân hàng này có trách nhiệm phải trả tiền khi bộ chứng từ hàng nhập hoàn hảo với L/C. - Có quyền từ chối trong vòng 7 ngày làm việc khi kiểm tra và phát hiện bộ chứng từ không hoàn hảo. c. Số tiền của L/C : - Số tiền của L/C phải được ghi bằng số và bằng chữ và phải thống nhất với nhau, không thể chấp nhận một L/C có số tiền ghi bằng chữ và bằng số mâu thuẫn với nhau. - Tên của đơn vị tiền tệ phải được ghi rõ ràng, vì cùng một tên gọi đôla nhưng trên thế giới có nhiều loại đôla khác nhau. - Không nên ghi số tiền dưới dạng một số tuyệt đối vì ghi như thế người xuất khó có thể giao hàng có giá trị hoàn toàn đúng như L/C quy định, đặc biệt là đối với những mặt hàng rời (Quặng, Than, Ngô,...) Một khi giá trị hàng giao không khớp với giá trị trên L/C thì không thể được thanh toán, vì Ngân hàng sẽ đưa ra lý do chứng từ thanh toán không phù hợp với những điều kiện quy định trong L/C. Cách ghi tiền tốt nhất là ghi một số giới hạn mà người xuất khẩu có thể đạt được dù là giao hàng có tính chất là nguyên cái hay là cái rời. d. Thời hạn hiệu lực, thời hạn trả tiền và thời hạn giao hàng ghi trong L/C: + Thời hạn hiệu lực của L/C là thời hạn mà Ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho người xuất khẩu, nếu người xuất khẩu trình bộ chứng từ thanh toán trong thời hạn đó và phù hợp với những điều kiện quy định trong L/C. - Thời hạn hiệu lực của L/C bắt đầu tính từ ngày mở L/C (Date of issue) đến ngày hết hiệu lực (Date of expiry) - Thời hạn trả tiền trả tiền của L/C (date of payment) Là thời hạn trả tiền ngay hay trả tiền sau, điều này hoàn toàn phụ thuộc vào quy định của hợp đồng. Nếu việc đòi tiền bằng hối phiếu thì thời hạn trả tiền được quy địnhở yêu cầu ký phát hối phiếu. Ví dụ "Available against presentation with you by draft at sight on bank Tokyo" (Thanh toán khi xuất trình hối phiếu trả tiền ngay tại các Ông, đòi tiền Ngân hàng Bank Tokyo). Thời hạn trả có thể nằm trong thời hạn hiệu lực của L/C, nếu như trả tiền ngay hoặc có thể nằm ngoài thời hạn hiệu lực của L/C nếu như trả tiền có kỳ hạn. Song có điều quan trọng là những hối phiếu có kỳ hạn phải được xuất trình để chấp nhận trong thời hạn hiệu lực của L/C. + Thời hạn giao hàng: (Date of delivery) Thời hạn này cũng được ghi trong L/C và do hợp đồng mua bán quy định, như đã phân tích ở trên, thời hạn giao hàng có quan hệ chặt chẽ với thời hạn hiệu lực của L/C. Trong trường hợp vì lý do nào đó, hai bên thoả thuận phải kéo dài thời hạn giao hàng thêm x ngày mà không đề cập đến việc kéo dài thời hạn hiệu lực của L/C, thì đương nhiên Ngân hàng mở L/C cũng phải hiểu rằng thời hạn hiệu lực cũng mặc nhiên kéo dài thêm x ngày sau đó. Song để tránh tranh chấp, trong điện đề nghị điều chỉnh thời hạn giao hàng, người xuất khẩu cũng đề nghị kéo dài thời hạn hiệu lực của L/C. Ngược lại nếu hai bên thoả thuận kéo dài thời hạn hiệu lực của L/C mà không nói đến kéo dài thời hạn giao hàng thì không được hiểu là thời hạn giao hàng cũng được tự động kéo dài. e. Những nội dung về hàng hoá Như tên hàng, số lượng, trọng lượng, quy cách phẩm chất bao bì, ký mã hiệu... cũng được ghi vào L/C. g. Những nội dung về vận tải, giao hàng nhận hàng hoá Như điều kiện cơ sở giao hàng (FOB, CIF, CFR), nơi gửi hàng và nơi giao hàng, cách vận chuyển và cách giao hàng,... cũng được ghi vào L/C. h. Những chứng từ mà người xuất khẩu phải xuất trình là nội dung then chốt của L/C, bởi những bộ chứng từ thanh toán quy định trong L/C là một bằng chứng của người xuất khẩu, chứng minh rằng Mình đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và làm đúng những điều quy định trong L/C, do vậy Ngân hàng mở L/C phải dựa vào đó để tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu, nếu bộ chứng từ thanh toán phù hợp với quy định trong L/C.
- Xem thêm -