Thanh lý tài sản phá sản theo pháp luật việt nam

  • Số trang: 71 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 26 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT QUÁCH THỊ MINH PHƢỢNG THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM Chuyên ngành : Luật kinh tế Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐỒNG NGỌC BA HÀ NỘI - 2009 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN 7 1.1. Khái niệm tình trạng phá sản 7 1.2. Thủ tục thanh lý tài sản phá sản 10 1.3. Mối quan hệ giữa thủ tục thanh lý tài sản với các thủ tục khác 1.4. trong thủ tục giải quyết phá sản 16 Lược sử phát triển của quy định về thủ tục thanh lý tài sản phá sản 18 Chƣơng 2: THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT 22 VIỆT NAM HIỆN HÀNH 2.1. Điều kiện ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản phá sản 2.2. Giải quyết khiếu nại, kháng nghị đối với quyết định mở thủ tục 22 thanh lý tài sản phá sản 25 2.3. Xử lý tài sản phá sản 25 2.4. Thanh lý tài sản phá sản 33 Chƣơng 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ ĐẢM BẢO HIỆU QUẢ THỰC THI QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN 3.1. Giải pháp hoàn thiện quy định về thủ tục thanh lý tài sản phá sản 3.2. Giải pháp đảm bảo hiệu quả thực thi quy định về thủ tục thanh lý tài sản phá sản 43 43 55 KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự chủ trong kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Quyền tự chủ trong kinh doanh hay nói cách khác là quyền tự do kinh doanh được thể hiện ở: quyền tự do thành lập doanh nghiệp; quyền được lựa chọn lĩnh vực ngành nghề, quy mô và phạm vi kinh doanh; quyền lựa chọn sản phẩm, hàng hoá dịch vụ để sản xuất, cung ứng; quyền lựa chọn phương thức huy động vốn, lựa chọn đối tác trong kinh doanh; quyền tự do lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp; quyền tự do cạnh tranh… Tuy nhiên, đi kèm với quyền tự chủ rộng rãi trong kinh doanh là nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, hàng hoá; dịch vụ và độc lập thực hiện các nghĩa vụ tài sản phát sinh như nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ thanh toán nợ. Quyền tự chủ trong kinh doanh, một mặt tạo ra nhiều cơ hội để doanh nghiệp phát triển, mặt khác cũng là một thách thức lớn. Quyền tự chủ trong kinh doanh tạo cho doanh nghiệp quyền tự do cạnh tranh hợp pháp. Sự cạnh tranh khốc liệt trên thương trường đã làm không ít doanh nghiệp phải điêu đứng, thua lỗ triền miên, không đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ tài chính, buộc phải chấm dứt hoạt động dẫn đến nguy cơ đối diện với phá sản. Như vậy, phá sản là một hệ quả tất yếu của một doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả kéo dài, là quá trình sàng lọc tự nhiên mang tính quy luật trong nền kinh tế thị trường. Qua đó, loại bỏ những doanh nghiệp yếu kém, làm ăn không hiệu quả góp phần làm lành mạnh hoá môi trường kinh doanh, cơ cấu lại nền kinh tế. Phá sản diễn ra theo một cơ chế đặc biệt và làm phát sinh rất nhiều mối quan hệ không chỉ giữa doanh nghiệp có nguy cơ phá sản với Nhà nước mà còn với các khách hàng có giao dịch làm ăn với doanh nghiệp, với những nhân viên là người lao động làm việc tại doanh nghiệp... 2 Pháp luật là những quy phạm do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng chính quyền lực nhà nước để điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh. Cơ chế phá sản làm phát sinh các mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan và đòi hỏi pháp luật phải điều chỉnh. Tại Việt Nam, Luật Phá sản doanh nghiệp được ban hành ngày 30/12/1993, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/1994 đã đánh dấu sự ra đời của hệ thống pháp luật phá sản với tư cách là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật kinh doanh trong bối cảnh nước ta thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, do được xây dựng trong giai đoạn đầu chuyển sang cơ chế quản lý kinh tế mới nên Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 cũng bộc lộ rõ những hạn chế, bất cập, làm cản trở việc giải quyết phá sản doanh nghiệp ở nước ta. Vì vậy, Luật Phá sản năm 2004 được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/10/2004, thay thế cho Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 là một sự thay thế cần thiết và đáp ứng sự thay đổi của nền kinh tế nước nhà. So với tình hình thực hiện Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, tình hình thụ lý và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp theo Luật Phá sản năm 2004 đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều khó khăn; hiệu quả giải quyết việc phá sản ở các cấp Tòa án vẫn chưa đạt được kết quả đáng kể. Theo báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao, từ khi Luật Phá sản có hiệu lực cho đến cuối năm 2008, đã có 195 vụ phá sản đuợc thụ lý. Tình hình thụ lý và giải quyết đơn yêu cầu giải quyết phá sản như sau: - Năm 2005, toàn ngành tòa án thụ lý mới 11 vụ. Năm 2004 chuyển qua 3 vụ, tổng cộng 14 vụ. Tòa án đã giải quyết được 01 vụ (chiếm 7,14%); - Năm 2006, toàn ngành tòa án thụ lý mới 40 vụ. Năm 2005 chuyển qua 13 vụ, tổng cộng 53 vụ. Tòa án đã giải quyết được 16 vụ (chiếm 30,2%); - Năm 2007, toàn ngành tòa án đã thụ lý mới 144 vụ, trong đó, Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý 120 vụ, Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý 24 vụ; 31 vụ chuyển qua từ năm 2006, tổng cộng là 175 vụ. Trong đó, Tòa án đã ra 3 quyết định mở thủ tục phá sản 164 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định trả lại đơn 01 vụ. Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết xong tất cả 24 vụ đã thụ lý (đều ra quyết định tuyên bố phá sản), đạt 100%. Còn lại 151 vụ phá sản do Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý được giải quyết cụ thể: quyết định trả lại đơn 01 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định tuyên bố phá sản theo thủ tục đặc biệt 40 vụ, quyết định đình chỉ thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản 75 vụ, còn tồn lại 51 vụ chuyển qua năm 2008 và đang được giải quyết. Theo phản ánh của Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự địa phương thì việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp còn gặp khó khăn, kéo dài là do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là xuất phát từ không chỉ những hạn chế của Luật Phá sản năm 2004 mà còn từ các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản liên quan [2, tr.3, 4]. Việc chấp hành các quy định của pháp luật về giải quyết phá sản của doanh nghiệp và các bên liên quan cũng chưa được tuân thủ một cách nghiêm túc (vi phạm về thời hạn tố tụng, vi phạm về nghĩa vụ nộp tài liệu, báo cáo về tình hình kinh doanh, báo cáo kiểm kê, tài chính của doanh nghiệp...). Thực tế hiện nay đang có khoảng hơn nửa triệu doanh nghiệp, hợp tác xã (trong giới hạn luận văn này xin được gọi chung là doanh nghiệp) đang hoạt động kinh doanh, tỷ lệ doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản là rất nhỏ, chưa phản ánh đúng tình trạng tài chính thực tế của các doanh nghiệp. Tình trạng nhiều doanh nghiệp hoạt động thua lỗ nhưng không được xử lý bằng thủ tục phá sản mà lại xử lý bằng thủ tục thu hồi nợ dân sự, thủ tục hành chính và các thủ tục khác vẫn phổ biến. Tính kém hiệu quả của pháp luật về phá sản đã làm ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh doanh của nước ta. Theo kết quả công bố trong Doing Business 2008, về thủ tục chấm dứt hoạt động kinh doanh (trong đó có thủ tục phá sản), Việt Nam xếp thứ 124 trên tổng số 178 nền kinh tế thế giới; thủ tục phá sản vẫn còn bị kéo dài (trung bình là 5 năm), hiệu quả thu 4 hồi nợ thấp (thường chủ nợ chỉ thu hồi được khoảng 18% số nợ). Trong kết quả công bố tại Doing Business 2009 mới đây, tình hình này cũng không được cải thiện hơn. Luật Phá sản năm 2004 đã đa dạng hóa các loại thủ tục áp dụng đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, bao gồm: thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, thủ tục thanh lý tài sản, thủ tục tuyên bố phá sản. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu và ra quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án sẽ xem xét, phân tích tình trạng tài chính và khả năng phục hồi hoạt động của doanh nghiệp để quyết định áp dụng thủ tục nào cho phù hợp với tình hình cụ thể của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trên thực tế ở hầu hết các Tòa án địa phương, việc giải quyết phá sản mới chỉ tiến hành đến việc ra quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản, còn việc ra quyết định tuyên bố phá sản rất ít, chủ yếu là quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản trong trường hợp đặc biệt. Phải chăng còn nhiều vướng mắc liên quan đến các quy định của pháp luật phá sản về thủ tục thanh lý tài sản phá sản? Đó cũng chính là lý do khiến tác giả lựa chọn đề tài: "Thanh lý tài sản phá sản theo pháp luật Việt Nam" với hy vọng sẽ phần nào làm rõ và định hướng cụ thể để tháo gỡ những vướng mắc do các quy định pháp luật hiện hành mang lại, góp phần đưa thủ tục phá sản doanh nghiệp đi vào đời sống kinh doanh của các doanh nghiệp như một thủ tục “khai tử” cho những doanh nghiệp yếu kém, tạo cơ hội “khai sinh” những doanh nghiệp mới với tiềm lực mới, góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế của Việt Nam, thay vì thực tế các doanh nghiệp muốn “chết” mà cũng không “chết” nổi như hiện nay. 2. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu là những vấn đề khái quát nhất về thủ tục thanh lý tài sản phá sản - một trong ba thủ tục của quá trình phá sản doanh nghiệp. Những khái niệm về tình trạng phá sản theo quan niệm của một số nước trên thế giới cũng như pháp luật Việt Nam; nghiên cứu các bước cần có khi tiến 5 hành thủ tục thanh lý tài sản phá sản và mối quan hệ của thủ tục thanh lý tài sản phá sản với các thủ tục khác trong thủ tục phá sản nói chung. Từ đó, phân tích những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về thủ tục thanh lý tài sản phá sản về điều kiện; về cách thức xử lý tài sản; thanh lý tài sản đến quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản phá sản; trên cơ sở đó đưa ra những tác động của thủ tục này tới toàn bộ quá trình giải quyết phá sản cho một doanh nghiệp. Đưa ra các yêu cầu để hiện thực hóa các quy định pháp luật về vấn đề này vào cuộc sống – hướng tới những giải pháp cụ thể để góp phần thực thi có hiệu quả quy định pháp luật Việt Nam về thủ tục thanh lý tài sản phá sản nói riêng, khả thi hóa các quy định về phá sản nhằm tạo môi trường kinh doanh và động lực mới cho phát triển kinh tế. 3. Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về thanh lý tài sản phá sản, những vướng mắc, khó khăn trong hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản: từ việc thành lập, chất lượng hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu; sự phối hợp với Thẩm phán, chấp hành viên; chế độ làm việc, lưu giữ tài liệu hoạt động của tổ đến vấn đề nhạy cảm là tiền thù lao cho thành viên của Tổ. Những vướng mắc khác liên quan đến việc thực hiện quản lý và bảo toàn tài sản phá sản: kiểm kê tài sản doanh nghiệp, xác định giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp; vấn đề thu hồi tài sản phá sản. Quan trọng hơn cả là vấn đề xử lý tài sản phá sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản với các vấn đề: thẩm quyền của Thẩm phán trong việc ra quyết định bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý; trong hoạt động bán đấu giá tài sản phá sản; giải quyết quyền sử dụng đất của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản; xử lý các tài sản bảo đảm để thanh toán cho các chủ nợ có bảo đảm; xử lý tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản nằm rải rác ở nhiều nơi; vấn đề phân chia tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. 6 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn được viết dựa trên các phương pháp phân tích, tổng hợp các chế định pháp lý về thủ tục phá sản nói chung, về thủ tục thanh lý tài sản phá sản nói riêng trên phương diện lý luận và phân tích thực tiễn để nhận định, đánh giá những vướng mắc, khó khăn dẫn đến hạn chế tính khả thi của các quy định pháp luật. Phương pháp phân tích so sánh những tiến bộ qua các lần sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của pháp luật Việt Nam. Tìm hiểu thêm cách thức quy định từng vấn đề pháp lý trong giới hạn nghiên cứu của pháp luật một số quốc gia có điều kiện nền kinh tế tương đồng để rút ra được kinh nghiệm khi đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục thanh lý tài sản phá sản. 5. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục thành 3 chương như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục thanh lý tài sản phá sản Chương 2: Thanh lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và đảm bảo hiệu quả thực thi quy định về thủ tục thanh lý tài sản phá sản 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN 1.1. KHÁI NIỆM TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN Về mặt ngữ nghĩa, từ “phá sản” bắt nguồn từ chữ “ruin” trong tiếng Latin để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một doanh nghiệp mà biểu hiện trực tiếp là không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Tại Việt Nam, từ thời xa xưa, người dân quen dùng từ “vỡ nợ”, “khánh tận” để chỉ tình trạng làm ăn thua lỗ của chủ thể kinh doanh. Mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới đều có các tiêu chí khác nhau về điều kiện cũng như thời điểm xác định tình trạng phá sản của một doanh nghiệp. Việc xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có ý nghĩa quan trọng vì nó xác định sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình phá sản sớm hay muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của ai nhiều hơn: chủ nợ hay con nợ [32]. Nghiên cứu pháp luật nhiều nước cho thấy, hiện nay có hai loại tiêu chí để xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản: tiêu chí về định lượng và tiêu chí về định tính. Kinh nghiệm của một số nước khi xây dựng khái niệm phá sản theo trường phái định lượng, thường có quy định về số nợ cụ thể, về thời hạn chậm thanh toán nợ từ phía doanh nghiệp mắc nợ sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ. Ví dụ: Điều 6 Luật Phá sản của Liên bang Nga quy định số nợ không thấp hơn 100.000 rúp với chủ nợ là pháp nhân và 10.000 rúp với chủ nợ là cá nhân. Theo Luật Công ty của Úc thì chủ nợ có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định bắt đầu thủ tục thanh toán tài sản của một công ty vì lý do “vỡ nợ” nếu Công ty đó có một khoản nợ đến hạn ít nhất là 2.000 AUD và Công ty không chứng minh được khả năng trả khoản nợ đến hạn đó [14]; Luật phá sản của Singapore thì quy định con nợ sẽ bị áp dụng thủ tục phá sản 8 khi không trả được số nợ đến hạn ít nhất là 5.000 đô la Singapore; ở Mỹ, số tiền này là không dưới 10.000 USD. Đối với pháp luật Việt Nam, các nhà lập pháp ở các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng có cùng một quan điểm về tình trạng phá sản như nhiều nước trên thế giới. Bộ luật thương mại Sài Gòn năm 1972 đã quy định tại Điều 864: “Thương gia ngưng trả nợ có thể, đương nhiên hoặc theo đơn xin của trái chủ, bị Tòa tuyên án khánh tận”[41]. Trong Luật Phá sản doanh nghiệp Việt Nam năm 1993, Điều 2 quy định: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn”. Như vậy, khái niệm tình trạng phá sản đã được xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa hai tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính. Tính định lượng thể hiện ở quy định về việc chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản nếu con nợ không trả nợ sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày đòi nợ, quy định về thời hạn 3 tháng nợ lương liên tiếp với người lao động. Tính định tính còn thể hiện ở quy định về những tài liệu cần thiết mà con nợ phải gửi cho Tòa án sau khi Tòa án thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản để Tòa án đánh giá tổng số nợ và tổng tài sản của con nợ như danh sách chủ nợ kèm theo số nợ, báo cáo về tình trạng tài chính, tài sản và khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp mắc nợ... Khái niệm phá sản trong Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 còn gắn với lý do khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc lý do bất khả kháng. Với việc đưa ra khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản như vậy đã gây không ít khó khăn cho các chủ nợ trong việc chứng minh tình trạng thua lỗ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ. Vì chủ nợ chỉ có thể chứng minh là con nợ đã chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, còn vì sao con nợ chậm thanh toán thì chủ nợ có thể không biết mà cũng không cần phải biết. Những thông tin này thuộc phạm vi bí mật kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ và chỉ có thể xác định trên cơ sở sổ sách kế toán của doanh nghiệp. Điều này hoàn toàn ngoài khả năng của chủ nợ. 9 Luật Phá sản năm 2004 quy định tại Điều 3: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu”. Như vậy, để bị xem là lâm vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp phải đồng thời hội đủ hai điều kiện cơ bản: điều kiện cần là mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và điều kiện đủ là khi chủ nợ chính thức có đơn yêu cầu thanh toán khoản nợ đó, bất luận giá trị khoản nợ đó là bao nhiêu. Tình trạng phá sản là tình trạng không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn, do đó có thể dẫn tới một hệ quả rằng bản án phá sản là bản án xác nhận một tình trạng đã có sẵn. Khi xét một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, pháp luật Việt Nam đã không xét đến lý do không thanh toán được các khoản nợ đến hạn; không xét đến thời hạn quá hạn thanh toán là bao lâu; không yêu cầu giá trị khoản nợ không có khả năng thanh toán là bao nhiêu; không yêu cầu có bao nhiêu chủ nợ; mà chỉ cần doanh nghiệp đó có khoản nợ đến hạn phải thanh toán; có việc chủ nợ yêu cầu thanh toán khoản nợ đó nhưng lại không có khả năng thanh toán được; thậm chí doanh nghiệp có văn bản xin khất nợ nhưng chủ nợ không đồng ý hoặc không trả lời. Với khái niệm như quy định tại Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 của Việt Nam thì khái niệm “tình trạng phá sản” dù hoàn thiện hơn so với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 nhưng vẫn còn hạn chế ở tính thiếu triệt để của nó. Khái niệm này đã không quy định rõ số nợ và thời gian quá hạn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán của con nợ. Về hình thức, con nợ chỉ cần mắc nợ số tiền là 1.000 đồng và quá hạn thanh toán 01 ngày sau khi chủ nợ có đơn yêu cầu thanh toán khoản nợ đó thì có thể cũng bị xem là lâm vào tình trạng phá sản. Hệ quả dẫn tới sự lạm dụng quyền nộp đơn yêu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ. Thuật ngữ “các khoản nợ” nêu trong Điều 3 Luật Phá sản năm 2004 nếu hiểu theo quy định tại Điều 37 Luật này thì đó là các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp hình thành từ các hợp đồng dân sự, thương 10 mại và lao động. Còn các khoản nợ thuế, các nghĩa vụ tài sản khác như nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nghĩa vụ thanh toán các khoản phạt hành chính... của doanh nghiệp không được đề cập đến. 1.2. THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN Bản chất của thủ tục thanh lý là việc Tòa án ra quyết định chấm dứt hoạt động của con nợ và nhân cơ hội đó mà thu hồi tài sản còn lại của con nợ, bán đi và chia cho các chủ nợ theo một thứ tự ưu tiên nhất định. Như vậy, thủ tục thanh lý liên quan đến ba hoạt động: thu hồi tài sản, bán đấu giá tài sản và thanh toán tiền cho các chủ nợ [19, tr.38]. 1.2.1. Thu hồi tài sản phá sản Bắt đầu thủ tục thanh lý tài sản phá sản, chủ thể đảm nhận nhiệm vụ này sẽ phải có nghĩa vụ thông báo cho các chủ nợ, rồi tiến hành kê biên tài sản để thu hồi tài sản phá sản. Việc xác định cụ thể tài sản phá sản góp phần làm căn cứ xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản đã đến mức có thể tuyên phá sản ngay hay còn cần áp dụng thủ tục pháp lý khác đồng thời nó xác định việc áp dụng các biện pháp bảo toàn, quản lý tài sản có lợi nhất cho chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ. Tài sản phá sản bao gồm tài sản có và tài sản nợ của doanh nghiệp (tài sản phát sinh trong quá trình doanh nghiệp thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tài sản phát sinh trong giai đoạn thanh lý tài sản; tài sản thu hồi được từ các giao dịch vô hiệu do doanh nghiệp thực hiện trong khoảng thời gian nhất định trước ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản). Với mỗi quốc gia khác nhau thì nguyên tắc và cách thức để xác định khối tài sản phá sản lại mang những nét riêng biệt. Pháp luật về phá sản của Cộng hòa Liên bang Nga đã quy định về việc định giá khối tài sản phá sản như sau: “1. Tất cả các tài sản (phần có) của người mắc nợ thể hiện trong bảng cân đối kế toán hoặc các tài liệu kế toán thay thế là cơ sở để xác định tài sản 11 phá sản. Trong tài sản phá sản còn bao gồm các đối tượng thuộc lĩnh vực công cộng và xã hội nằm trong bảng cân đối của người mắc nợ, trừ quỹ nhà ở, các trường mẫu giáo và các công trình sản xuất và hạ tầng quan trọng đối với đời sống của khu vực, cần được đưa vào bảng cân đối của các cơ quan tự quản ở địa phương hoặc cơ quan quyền lực nhà nước hữu quan, nếu pháp luật của Liên bang Nga không có quy định khác; 2. Trong quá trình thanh lý tài sản, nhân viên thanh lý tài sản, với sự giúp đỡ của các giám định viên được trưng cầu, tiến hành kiểm kê và định giá tài sản (phần có) của người mắc nợ và nghĩa vụ (phần nợ) của người mắc nợ...; 3. Việc định giá tài sản (phần có) của người mắc nợ cấu thành tài sản phá sản được tiến hành theo trình tự do pháp luật Liên bang Nga quy định. 4. Tài sản phá sản không bao gồm tài sản (phần có) là vật bảo đảm. 5. Tài sản phá sản không bao gồm tài sản không thuộc quyền sở hữu của người mắc nợ, trong đó có tài sản do người mắc nợ thuê; tài sản mà người mắc nợ có trách nhiệm bảo quản; tài sản riêng của công nhân viên doanh nghiệp mắc nợ, trừ tài sản mà theo quy định của pháp luật hoặc điều lệ doanh nghiệp có thể được thu hồi để thực hiện nghĩa vụ của người mắc nợ” [26, tr. 25]. Theo đó, tài sản phá sản là tài sản của người mắc nợ mà có thể bị thu hồi trong quá trình thanh lý tài sản. Trong pháp luật về phá sản của Nhật Bản thì tài sản phá sản gồm tất cả tài sản còn lại của con nợ. Điều 6 Luật Phá sản của Nhật Bản quy định: “Bất kỳ tài sản nào và tất cả những tài sản do bên bị phá sản giữ tại thời điểm tuyên bố phá sản đều thuộc tài sản phá sản”, nhưng lại có quy định đặc biệt ở chỗ: Những tài sản nào ở ngoài phạm vi lãnh thổ Nhật Bản không được coi là một bộ phận của khối tài sản phá sản vì họ quan niệm rằng tài sản này khó có khả năng giám sát, đánh giá, thu hồi. Đồng thời quan niệm rằng tài sản con nợ có được trong giai đoạn giữa thời điểm nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản đối với con nợ và ngày ban hành quyết định 12 giải quyết đơn thuộc tài sản phá sản, còn tài sản con nợ có được sau khi bắt đầu vụ kiện thì được miễn trừ khỏi tài sản phá sản. Những tài sản mà người được ủy thác thu hồi được thông qua quyền phủ nhận cũng thuộc về khối tài sản phá sản. Tài sản cầm cố cũng là tài sản phá sản [25]. Với Pháp luật Hoa Kỳ lại ghi nhận: Tài sản phá sản là khối sản nghiệp của doanh nghiệp, bao gồm: tất cả số tài sản của con nợ mà không được miễn trừ tại thời điểm bắt đầu vụ phá sản đó; tài sản còn bao gồm những tài sản mà con nợ có được trong vòng 180 ngày sau khi vụ án bắt đầu bằng việc thừa kế những lợi ích từ chính sách bảo hiểm và bất kỳ một lợi ích nào đối với tài sản có được sau khi vụ án bắt đầu và những tài sản thu hồi được trong các trường hợp quy định xiết nợ; tài sản có được từ những giao dịch ưu tiên trả nợ bị vô hiệu [42]. Xác định phạm vi tài sản phá sản để từ đó tiến hành thu hồi tài sản phá sản để bắt đầu thủ tục thanh lý là quan trọng và cần thiết. Tài sản phá sản là những tài sản nợ và tài sản có của doanh nghiệp. Tài sản nợ gồm những nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp với các chủ nợ khác trong quá trình giải quyết phá sản phát sinh trong các giao dịch của doanh nghiệp với khách hàng, với nhà nước, với người lao động... Tài sản có của doanh nghiệp gồm tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (tài sản nằm rải rác ở nhiều phạm vi lãnh thổ khác nhau); các tài sản mà doanh nghiệp sẽ có do việc thực hiện giao dịch xác lập trong quá trình Tòa án tiến hành các thủ tục phá sản doanh nghiệp; các tài sản là vật bảo đảm các khoản nợ của doanh nghiệp; tài sản dân sự của chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của Công ty hợp danh. Tài sản phá sản của doanh nghiệp có thể ở các dạng khác nhau như: tài sản hữu hình thuộc sở hữu của doanh nghiệp; các khoản nợ của các chủ thể khác mà doanh nghiệp phải thu hồi; các quyền về tài sản, phần sở hữu trong khối tài sản chung, các khoản 13 đầu tư, hợp tác liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân khác. Việc thu hồi tài sản phá sản là một nhiệm vụ quan trọng và có ý nghĩa lớn trong quá trình thanh lý tài sản phá sản. Thông thường, việc thu hồi tài sản thuộc về một cơ quan (Tổ quản lý, thanh lý tài sản). Việc thu hồi này chỉ diễn ra sau khi có quyết định áp dụng thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp. Bên cạnh việc thu hồi tài sản phá sản, pháp luật còn xác định việc thu hồi các tài liệu, sổ sách kế toán và con dấu của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Khi phát hiện tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản bị áp dụng thủ tục thanh lý tài sản đã bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp trong khi thực hiện các giao dịch bị coi là vô hiệu thì Tổ quan lý, thanh lý tài sản phải đề nghị Thẩm phán phụ trách vụ việc ra quyết định thu hồi lại. 1.2.2. Xử lý tài sản phá sản Xử lý tài sản phá sản là việc bán tài sản phá sản sau khi hoàn tất việc thu hồi tài sản phá sản của doanh nghiệp. Việc bán tài sản của doanh nghiệp mắc nợ phải tuân theo những thủ tục chặt chẽ để tránh rơi vào tình trạng bán rẻ, gây thiệt hại cho các chủ nợ. Để đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu này, pháp luật phá sản quy định chặt chẽ về trình độ chuyên môn, về vốn, về thủ tục cấp giấy phép hoạt động cũng như về nguyên tắc trả thù lao cho các thành viên tham gia việc quản lý, thanh lý tài sản. Xử lý tài sản phá sản là một thủ tục xử lý nợ mang tính chất tập thể cao, không mang tính cá nhân, riêng lẻ, thể hiện: trong khi giải quyết phá sản, tất cả các chủ nợ đều có quyền tham gia vào quá trình đòi nợ và thanh toán nợ, cho dù việc đệ đơn lên Tòa yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là do một cá nhân tiến hành. Nhưng sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án thì các chủ nợ khác đều có quyền gửi giấy đòi nợ đến Tòa án theo một thời hạn nhất định, dù là nợ đến hạn hay chưa và giấy tờ chứng minh khoản nợ đó. Nếu chủ nợ không gửi các giấy tờ đó thì coi 14 như đã từ bỏ quyền đòi nợ của mình. Việc xử lý tài sản phá sản cũng theo một thủ tục tư pháp nhất định. Kể từ khi có quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án, các chủ nợ không được đơn lẻ đi đòi nợ mà cùng hợp nhất lại thành một thiết chế, đó là Hội nghị chủ nợ. Việc thanh lý tài sản phá sản để thanh toán cho các chủ nợ phải được tiến hành tập thể để bảo đảm quyền lợi công bằng cho các chủ nợ. Công bằng thể hiện ở một thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các chủ nợ. Đảm bảo thông tin đến được với chủ nợ là như nhau; các chủ nợ trong những điều kiện như nhau thì được hưởng quyền lợi như nhau. Một chủ nợ có bảo đảm phải được giải quyết quyền lợi như những chủ nợ có bảo đảm khác. Một chủ nợ không có bảo đảm cũng phải được giải quyết quyền lợi như các chủ nợ không có bảo đảm khác [24, tr.6]. 1.2.3. Thanh toán cho các chủ nợ Đây là bước cuối cùng của thủ tục thanh lý tài sản phá sản. Thực chất của việc giải quyết phá sản là việc xử lý mối quan hệ về lợi ích tài sản giữa các chủ nợ với con nợ. Khi con nợ lâm vào tình trạng phá sản đồng nghĩa với việc món nợ phải trả nhiều hơn khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp. Trong hoàn cảnh như vậy, việc chủ nợ nào được ưu tiên thanh toán trước, chủ nợ nào phải xếp hàng sau là vấn đề mà pháp luật phá sản nước nào cũng phải quan tâm giải quyết. Các chủ nợ luôn luôn có mối quan tâm đặc biệt về vấn đề này vì thứ tự đó ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích chính đáng của họ. Về cơ bản, thứ tự thanh toán từ tài sản phá sản của con nợ được quy định như sau: - Các chủ nợ được ưu tiên trên hết. Nhóm này gồm có chủ nợ có bảo đảm là quan trọng nhất và do đó, được ưu tiên nhất trong quá trình phân chia tài sản. Theo thông lệ, các chủ nợ có bảo đảm được thanh toán đầy đủ khoản tiền mà doanh nghiệp phá sản còn thiếu. Trong trường hợp giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ để chi trả hết các khoản nợ của các chủ nợ có bảo đảm thì số tài sản này sẽ được chia cho các chủ nợ có đảm bảo theo tỷ lệ 15 giữa khoản nợ của họ và tổng số tiền mà doanh nghiệp phá sản nợ các chủ nợ có đảm bảo; - Các chủ nợ được ưu tiên khác bao gồm tổ chức và cá nhân được hưởng các chi phí giải quyết phá sản; thuế, tiền công, tiền lương cho người lao động và các chi phí khác; - Các chủ nợ được thanh toán theo tỷ lệ. Thông thường, nhóm chủ nợ này bao gồm các chủ nợ không có đảm bảo của doanh nghiệp phá sản; - Các chủ nợ được trả chậm, bao gồm người cho vay có thứ tự thanh toán sau cùng trong một hợp đồng vay hợp vốn (syndicated loan); - Cổ đông của công ty cổ phần bị phá sản; Luật phá sản ở một số nước, trong đó có Việt Nam có xu hướng ưu tiên bảo vệ chủ nợ là người lao động. Thể hiện ở chỗ pháp luật phá sản đã xếp người lao động vào hàng ưu tiên đứng trên các loại chủ nợ thông thường khác, kể cả chủ nợ là Nhà nước. Đối với pháp luật ở các nước này, thứ tự về việc phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản như sau: - Các khoản lệ phí, các chi phí theo quy định của pháp luật cho việc giải quyết phá sản; - Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết; - Các khoản nợ thuế; - Các khoản nợ cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ. Dù có sự sắp xếp theo thứ tự ưu tiên thanh toán khác nhau nhưng việc thanh toán ở các nước luôn được thực hiện theo nguyên tắc thanh toán hết cho đối tượng này, nếu còn thừa thì mới thanh toán cho đối tượng kế tiếp. Nếu trong cùng loại đối tượng mà tài sản của doanh nghiệp phá sản không đủ thanh toán thì thực hiện việc chi trả theo tỷ lệ tương ứng [19, tr.58-60]. 16 1.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN VỚI CÁC THỦ TỤC KHÁC TRONG THỦ TỤC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN Pháp luật phá sản đã có sự đa dạng hóa các loại thủ tục áp dụng đối với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, bao gồm: thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; thủ tục thanh lý tài sản; thủ tục tuyên bố phá sản. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu và ra quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án sẽ xem xét, phân tích tình trạng tài chính và khả năng phục hồi hoạt động của doanh nghiệp để quyết định áp dụng thủ tục nào cho phù hợp với tình hình cụ thể của doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bị thua lỗ đã được Nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt để phục hồi nhưng vẫn không phục hồi được và không thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì Tòa án ra quyết định áp dụng ngay thủ tục thanh lý tài sản mà không cần phải triệu tập Hội nghị chủ nợ để xem xét áp dụng thủ tục phục hồi (Điều 78 Luật Phá sản năm 2004). Trong trường hợp đặc biệt, sau khi mở thủ tục phá sản mà Tòa án xác định được rằng, doanh nghiệp không còn tài sản để nộp tiền tạm ứng phí phá sản hoặc tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ để thanh toán phí phá sản thì Tòa án có thể tuyên bố phá sản ngay mà không cần phải tiến hành bất cứ một thủ tục nào khác (Điều 87 Luật Phá sản năm 2004). Căn cứ để Tòa án ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi là nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về việc Hội nghị chủ nợ đã đồng ý với các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các chủ nợ mà doanh nghiệp đề xuất (khoản 1 Điều 68 Luật Phá sản năm 2004). Thủ tục phục hồi chính thức được thực hiện nếu Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp hoặc bất kỳ chủ nợ, người nhận nghĩa vụ phục hồi đệ trình và phương án này đã được Thẩm phán ra quyết định công nhận (Điều 71 và Điều 72 Luật Phá sản năm 2004). Trong quá trình áp dụng thủ tục phục hồi, nếu doanh nghiệp thực hiện không 17 đúng hoặc không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì Tòa án cũng có thể quyết định chuyển từ thủ tục phục hồi sang áp dụng thủ tục thanh lý tài sản (khoản 3 Điều 80 Luật Phá sản năm 2004). Ngoài ra, thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp có thể được áp dụng trong trường hợp Hội nghị chủ nợ không thành (Điều 79 Luật Phá sản năm 2004); hoặc doanh nghiệp không xây dựng được phương án phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh (khoản 1 Điều 80 Luật Phá sản năm 2004); hoặc trong trường hợp Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (khoản 2 Điều 80 Luật Phá sản năm 2004). Theo truyền thống, tuyên bố doanh nghiệp phá sản là tiền đề pháp lý cho việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Có nghĩa là phải tuyên bố phá sản với doanh nghiệp sau đó mới có lý do để thanh lý tài sản của doanh nghiệp – chuyển hóa khối tài sản thành tiền và thực hiện việc phân chia số tiền thu được theo thứ tự do luật định để bảo đảm sự công bằng. Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 đã đi theo truyền thống đó. Còn Luật Phá sản năm 2004 lại thừa nhận thủ tục thanh lý tài sản là thủ tục độc lập với thủ tục tuyên bố phá sản. Thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản trước sau đó mới tuyên bố doanh nghiệp đó bị phá sản. Thẩm phán ra quyết định tuyên bố con nợ bị phá sản đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản (Điều 86 Luật Phá sản năm 2004). Như vậy, việc thanh lý tài sản của con nợ mà thực chất là việc định đoạt tài sản trái với ý chí của con nợ dựa trên cơ sở pháp lý nào? Trong quyết định mở thủ tục thanh lý quy định tại Điều 81 Luật Phá sản năm 2004 chỉ nói về căn cứ của việc áp dụng thủ tục thanh lý - nghĩa là khi nào Thẩm phán có thể áp dụng thủ tục này chứ không nói đến lý do, cơ sở của việc Tòa án có thể định đoạt tài sản của một doanh nghiệp đang tồn tại hợp pháp trái với ý muốn của nó. Điều này có thể hình dung như trong lĩnh vực dân sự, người ta có thể tiến hành bán tài sản của bị 18 đơn trước rồi sau đó mới tuyên bản án xác định nghĩa vụ trả nợ của bị đơn hay trong thủ tục giải thể doanh nghiệp thì người ta chỉ tiến hành thủ tục thanh lý tài sản và thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp sau khi có quyết định giải thể. Với trình tự như quy định trong Luật Phá sản năm 2004, dễ bị lầm tưởng việc thanh lý tài sản của con nợ là nội dung quan trọng hơn việc tuyên bố phá sản. Nhưng về mặt lý luận thì tuyên bố phá sản đối với con nợ là một cách thức pháp lý thu hồi nợ của các chủ nợ. Các chủ nợ thu hồi nợ bằng yêu cầu Tòa án tuyên bố phá sản với con nợ. Tuyên bố con nợ phá sản phải là cái có trước. Với trình tự như vậy thì thủ tục giải quyết phá sản trở nên rườm rà và bị kéo dài bởi vì có hai quyết định của Tòa án: quyết định mở thủ tục thanh lý và quyết định tuyên bố phá sản. Cả hai quyết định này đều có thể bị khiếu nại, kháng nghị và đòi hỏi thời gian giải quyết. Nếu coi thanh lý tài sản phá sản chỉ là một nội dung của thủ tục tuyên bố phá sản, dựa trên quyết định tuyên bố phá sản thì thủ tục phá sản sẽ gọn nhẹ và hợp logic hơn. Thanh lý tài sản có thể có hoặc có thể không nhưng tuyên bố phá sản là một trong những mục tiêu chính của thủ tục phá sản (khi doanh nghiệp không thể phục hồi). 1.4. LƢỢC SỬ PHÁT TRIỂN CỦA QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN Trước hết phải khẳng định rằng, phá sản ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Chỉ khi phá sản trở thành hiện tượng bình thường, phổ biến thì pháp luật mới điều chỉnh tới. Và chính điều kiện của một nền kinh tế thị trường với những đặc trưng của nó đã tạo ra tính phổ biến của phá sản. Nền kinh tế thị trường công nhận quyền tự do kinh doanh của mỗi công dân và coi đó là một trong số các quyền cơ bản của công dân. Nội dung cơ bản nhất của quyền này là quyền tự do cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh (trong khuôn khổ pháp luật) nhằm giành dật thị trường, khách hàng hướng tới lợi nhuận cho bản thân trong cuộc cạnh tranh khốc liệt. 19
- Xem thêm -