Tăng cường thu hút vốn fdi của mỹ vào việt nam

  • Số trang: 56 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 13 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Đã đăng 24608 tài liệu

Mô tả:

LỜI NÓI ĐẦU Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ - quốc gia hùng mạnh nhất với tiềm lực kinh tế và quân sự số một thế giới,được coi là đất nước “lãnh đạo” toàn cầu. Tuy rằng cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ vừa qua đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế Mỹ, đã gây ra những cuộc suy thoái tác động không nhỏ đến kinh tế Thế giới, khiến cho vị thế cường quốc số một của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhưng không thể phủ nhận những nỗ lực vượt bậc của Chính phủ Mỹ đã lèo lái thành công con thuyền kinh tế Mỹ về cơ bản thoát ra khỏi vũng lầy suy thoái, trực tiếp tạo ra những tiền đề quan trọng giúp cho nền kinh tế Thế giới phục hồi và tăng trưởng. Việt Nam chúng ta cũng được hưởng lợi từ sự phục hồi đó. Dẫu biết rằng, quá khứ vẫn mãi là quá khứ. Việt Nam và Mỹ đã từng là kẻ thù, đều đã từng dấn thân vào cuộc chiến khốc liệt và kéo dài nhất thế kỷ XX, đã mất 20 năm để có “bình thường hóa quan hệ” và thêm 5 năm nữa để có được “Hiệp định thương mại song phương”. Nhưng tất cả đã là lịch sử. Hiện tại, Hoa Kỳ đã là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, dòng vốn đầu tư có xuất xứ từ nước Mỹ vẫn đang đổ về Việt Nam từng ngày và không ngừng tăng lên cả về số lượng lẫn chất lượng. Và tương lai, Hoa Kỳ sẽ là đối tác quan trọng nhất với nước ta về phương diện kinh tế. FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài) từ Mỹ sẽ dần trở thành một trong những nguồn lực quan trọng nhất, thúc đẩy kinh tế Việt Nam tăng trưởng và phát triển. Khi tôi chọn Cục Đầu Tư Nước Ngoài – Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư làm địa điểm thực tập thì mối quan tâm hàng đầu của tôi chính là về vấn đề này. Tình hình vốn FDI từ Mỹ đổ về Việt Nam có sức thu hút rất lớn. Chính sức thu hút đó đã thôi thúc tôi chọn đề tài: “ Tăng cường thu hút vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam ”, với mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé cũng như những cảm nhận của riêng tôi vào sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Mục đích của đề tài là nhằm cung cấp thêm một kênh thông tin bổ ích, mang đến cho các bạn một góc nhìn khác về việc thu hút FDI từ Hoa Kỳ và những ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế Việt Nam cũng như những phương hướng, hoạch định cho sự thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực quan trọng này trong tương lai. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Hoa Kỳ trong các thời kỳ, ảnh hưởng của nó đến toàn bộ nền kinh tế Việt Nam và đưa ra một số giải pháp cũng như kiến nghị nhằm mục đích thu hút ngày càng nhiều hơn nữa nguồn vốn quan trọng này cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Đề tài nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích hoạt động kinh tế tài chính, phân tổ thống kê, phương pháp ngoại suy, phương pháp tương quan. Để khảo sát, phân tích thực tiễn trong đề tài sử dụng số liệu thống kê chính thức của các Bộ, Ban, Ngành liên quan. Như vậy, bố cục đề tài gồm có 3 chương:  Chương 1: Giới thiệu chung về Cục Đầu Tư Nước Ngoài  Chương 2: Thực trạng thu hút đầu tư FDI của Mỹ vào Việt Nam.  Chương 3: Triển vọng đầu tư và các giải pháp thu hút vốn đầu tư FDI của Mỹ vào Việt Nam. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀIBỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ 1.1. Cục Đầu Tư Nước Ngoài – Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư. Cục Đầu Tư Nước Ngoài – FIA (Foreign Investment Agency) là một trong 30 đơn vị trực thuộc Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư (6B – Hoàng Diệu – Q.Ba Đình – Hà Nội), thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài. Trụ sở Bộ Kế hoạch và Đầu tư (số 6B Hoàng Diệu, quận Ba Đình, Hà Nội) 1.1.1.Cơ cấu tổ chức. 1.1.1.1.Lãnh đạo:  Cục trưởng: Phan Hữu Thắng  Các Phó Cục trưởng: Nguyễn Xuân Trung, Bùi Quốc Trung, Nguyễn Nội, Nguyễn Thị Bích Vân, Đặng Xuân Quang 1.1.1.2.Bộ máy giúp việc Cục trưởng  Phòng Tổng hợp và Thông tin  Phòng Xúc tiến đầu tư  Phòng Đầu tư nước ngoài  Phòng Đầu tư ra nước ngoài  Phòng Chính sách  Văn Phòng 1.1.1.3.Các đơn vị trực thuộc Cục  Trung tâm Xúc tiến đầu tư phía Bắc  Trung tâm Xúc tiến đầu tư miền Trung  Trung tâm Xúc tiến đầu tư phía Nam 1.1.2.Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. 1.1.2.1.Làm đầu mối giúp Bộ trưởng quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài; chủ trì, phối hợp với các đơn vị trong Bộ và các Bộ, ngành, địa phương soạn thảo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, danh mục các dự án kêu gọi vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong từng thời kỳ phù hợp với quy hoạch, kế hoạch đầu tư phát triển chung của cả nước để trình cấp có thẩm quyền quyết định; kiến nghị việc điều chỉnh trong trường hợp cần thiết. 1.1.2.2.Về công tác tổng hợp, đánh giá tình hình đầu tư:  Làm đầu mối tổng hợp kết quả về đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài phục vụ công tác tổng hợp kế hoạch kinh tế quốc dân.  Tổng hợp, kiến nghị xử lý các vấn đề liên quan đến chủ trương chung về đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài.  Theo dõi, tổng kết, đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế - xã hội của hoạt động đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài gắn với đánh giá hiệu quả đầu tư chung.  Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài; cung cấp thông tin về đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài theo quy chế của Bộ.  Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thống kê, tổng hợp, đánh giá về tình hình đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài. 1.1.2.3.Về công tác xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật, chính sách  Chủ trì xây dựng, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách về đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài.  Phối hợp với Vụ Pháp chế và các đơn vị liên quan xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật.  Chủ trì hoặc tham gia đàm phán các điều ước quốc tế liên quan đến đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài theo phân công của Bộ.  Tham gia các chương trình hợp tác liên Chính phủ, các nhóm công tác với các nước, các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài theo sự phân công của Bộ.  Làm đầu mối theo dõi, hướng dẫn thực hiện các các quy định của pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài theo sự phân công của Bộ. 1.1.2.4.Về quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài.  Chủ trì hoặc phối hợp với các đơn vị liên quan theo dõi, kiểm tra, thanh tra, tổng hợp, kiến nghị xử lý các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài.  Chủ trì hoặc phối hợp với các đơn vị có liên quan hướng dẫn thực hiện thủ tục về đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài.  Phối hợp với các đơn vị, cơ quan liên quan quy định thống nhất chế độ báo cáo thống kê về đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài.  Đối với dự án BOT, BTO, BT: Thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ và tham gia thẩm tra các dự án BOT, BTO, BT; chủ trì thực hiện thủ tục điều chỉnh các dự án BOT, BTO, BT.  Đối với dự án đầu tư ra nước ngoài (bao gồm cả các dự án trong lĩnh vực dầu khí): Thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ các dự án đầu tư ra nước ngoài; tham gia thẩm tra các dự án đầu tư ra nước ngoài; chủ trì thực hiện thủ tục đăng ký và điều chỉnh đối với các dự án đầu tư ra nước ngoài. 1.1.2.5.Về xúc tiến đầu tư  Làm đầu mối thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động xúc tiến đầu tư; phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng chiến lược, kế hoạch, chính sách, định hướng đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài.  Làm đầu mối tổng hợp, thẩm tra, xây dựng chương trình, kế hoạch xúc tiến đầu tư của Bộ.  Tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư; chủ trì chuẩn bị và tổ chức các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc với các nhà đầu tư theo sự phân công của Bộ.  Làm đầu mối hỗ trợ các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội và hình thành dự án đầu tư, vận động xúc tiến đầu tư theo các chương trình, dự án trọng điểm.  Làm đầu mối quản lý, phối hợp với Vụ Kinh tế đối ngoại, hướng dẫn, theo dõi và phối hợp hoạt động của bộ phận xúc tiến đầu tư ở nước ngoài. 1.1.2.6.Phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ và các đơn vị liên quan tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác đầu tư nước ngoài; phối hợp thực hiện công tác thi đua khen thưởng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc thẩm quyền. 1.1.2.7.Quản lý tổ chức, biên chế, tài sản được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ. 1.1.2.8.Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao. 1.1.3.Website chính thức của Cục: http://fia.mpi.gov.vn/ Website cung cấp các thông tin tổng quan về môi trường đầu tư của Việt Nam tới các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nước và nước ngoài muốn tìm hiểu hệ thống quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng như mô hình các cơ quan xúc tiến đầu tư của Việt Nam. Cụ thể, Website của Cục Đầu Tư Nước Ngoài có thể cung cấp những thông tin hữu ích như: - Quản lý nhà nước về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài - Quản lý nhà nước và các mô hình hoạt động của các cơ quan xúc tiến đầu tư - Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài - Thủ tục và chính sách đầu tư - Hệ thống văn bản chính sách pháp luật liên quan - Cơ hội đầu tư tại Việt Nam - Tin tức và sự kiện liên quan đến đầu tư Thông qua đó giúp các nhà đầu tư trong và ngoài nước nắm bắt được các thủ tục hành chính và chính sách đầu tư của Việt Nam để việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư và hình thành dự án đầu tư tại Việt Nam có hiệu quả cao nhất trong thời gian tới. 1.2.Các hoạt động thu hút vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam. Trong cơ cấu nền kinh tế của bất kì quốc gia nào, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế, đặc biệt là ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Đó luôn là nguồn lực to lớn, cả về ý nghĩa vật chất lẫn tinh thần. Vật chất thể hiện ở những con số cụ thể, đang tăng dần theo từng năm. Còn ý nghĩa tinh thần, đó chính là niềm tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, niềm tin của tất cả mọi người vào tương lai của đất nước. Nền kinh tế Việt Nam mới đang ở thời kì sơ khai của “kinh tế thị trường”, nguồn vốn tích lũy là rất hạn chế, việc nhận viện trợ ODA luôn đi kèm với rất nhiều thủ tục hành chính rắc rối, phiền hà và hiệu quả sử dụng thì không ổn định và ít minh bạch. Khi đó, FDI chính là một trong những động lực quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển của kinh tế nước ta những năm qua. Với hướng nhận định như vậy, tôi đã đi vào nghiên cứu đề tài này với mục tiêu chính là: chủ yếu xét tới tình hình đầu tư FDI của Mỹ vào Việt Nam trên bình diện tổng thể nền kinh tế quốc dân, trọng tâm là nằm ở số lượng vốn FDI thuộc sự quản lý và giám sát của Cục Đầu Tư Nước Ngoài – Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư. Kèm với đó là tìm hiểu về thực trạng đầu tư vốn FDI của Mỹ theo vùng, miền và ở các địa phương (tổng hợp số liệu, nhận định…). Ở đây, do yếu tố thời gian không cho phép và năng lực cá nhân có hạn, tôi xin phép không đề cập đến vấn đề đầu tư vốn FDI của Mỹ tại các bộ ngành khác mà tập trung chủ yếu vào nguồn vốn FDI do Cục Đầu Tư Nước Ngoài quản lý. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG ĐẦU TƯ FDI CỦA MỸ VÀO VIỆT NAM 2.1. Thực trạng và xu hướng đầu tư của Hoa Kỳ ở nước ngoài. 2.1.1. Thực trạng nền kinh tế Hoa Kỳ thời gian qua. Thời gian vừa qua có thể coi là một trong những trang tăm tối nhất trong lịch sử nền kinh tế Hoa Kỳ cũng như là của cả nền kinh tế Thế giới. Dường như cái chu kì 10 năm nghiệt ngã của thế giới tư bản đang ngày một trở thành một chu kì hiển nhiên và không thể cưỡng lại. Các cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra như một sự tất yếu và chúng ta ko thể làm gì để chống lại nó. Nền kinh tế Mỹ đã suy thoái trầm trọng. Các định chế tài chính lao đao, nhiều ngân hàng và các quỹ đầu tư mạo hiểm đã sụp đổ (Bear Sterns, Lehman Brothers…), bong bóng nhà ở vỡ, nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả 3 nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Hoa Kỳ là General Motors, Ford Motor và Chrysler LLC. Tuy nhiên, nhờ những nỗ lực của Chính phủ Obama cùng với gói kích cầu kỉ lục (hơn 700 tỷ USD) đã vực dậy phần nào nền kinh tế khổng lồ này. Kinh tế Mỹ có dấu hiệu phục hồi, dù chưa hẳn đã thoát ra khỏi suy thoái.Điều này đã có những ảnh hưởng tích cực đến nguồn vốn FDI đầu tư ở Việt Nam. Dòng vốn FDI từ Mỹ nhiều năm qua vẫn đổ về Việt Nam đều đặn và ngày một nhiều hơn. Sự khởi sắc của kinh tế Mỹ đã phần nào giúp cho niềm tin trở lại nơi các nhà đầu tư Hoa Kỳ, dòng vốn FDI đổ về Việt Nam đang có dấu hiệu hồi phục. Bên cạnh đó, các chuyên gia kinh tế Mỹ luôn đánh giá khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực năng động, có một thị trường rộng lớn đầy tiềm năng trong đó Việt Nam là một thị trường mới và đầy triển vọng. điều này cũng đã thúc đẩy hoạt động đầu tư của Mỹ vào Việt Nam. 2.1.2. Tình hình đầu tư của Hoa Kỳ ở nước ngoài nói chung. Là một nước vừa tiếp nhận đầu tư nước ngoài, vừa đầu tư ra nước ngoài với số lượng lớn, Hoa Kỳ luôn giữ vị trí quan trọng trong dịch chuyển luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới. Trong thời gian gần đây, do ảnh hưởng của tình trạng suy thoái kinh tế, đầu tư của Hoa Kỳ giảm sút so với Nhật Bản và các nước Tây Âu, nhưng nhìn chung Hoa Kỳ vẫn là nước đứng đầu thế giới về giá trị đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Các nước và khu vực tiếp nhận vốn đầu tư nhiều nhất của Hoa Kỳ gồm: Canada thu hút 126,4 tỷ USD chiếm 10%; Châu Âu thu hút 60,4 tỷ USD, chiếm 47%; Châu Mỹ La Tinh thu hút 18,7 tỷ USD, chiếm 14%; Châu á Thái Bình Dương thu hút 17,7 tỷ USD chiếm 13,6%. Trong các nước và khu vực nói trên, Vương quốc Anh luôn là nước thu hút đầu tư lớn nhất của Hoa Kỳ ( 233,4 tỷ USD, chiếm tới 19% ) (Số liệu cập nhật năm 2007). Phần lớn dòng đầu tư của Hoa Kỳ ở các nước đang phát triển đổ vào khu vực Châu Mỹ La Tinh, Đông Á và các nước công nghiệp mới Châu Á (ANIEs). Hồng Kông và Singapore cũng là những địa điểm thu hút đầu tư lớn nhất của Hoa Kỳ. Các đối thủ cạnh tranh chính của ASEAN là Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Mexico, Brazil, Argentina và mới đây là Trung Quốc. Đầu tư của Hoa Kỳ vào khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dầu khí, các ngành sản xuất ( gồm chế biến thực phẩm, hoá dầu, cơ khí chế tạo, điện tử…) và các ngành dịch vụ ( gồm bán buôn, ngân hàng, bảo hiểm và các dịch vụ tài chính khác). Trong đó, dịch vụ là khu vực thu hút đầu tư của Hoa Kỳ với tỷ trọng cao nhất, chiếm tới trên 50% tổng giá trị đầu tư của Hoa Kỳ trong toàn khu vực; tiếp đến là ngành sản xuất, chiếm 34%; dầu khí, chiếm 16,4%. 2.1.2.1. Một số đặc điểm và xu hướng cùa đầu tư Hoa Kỳ: - Với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, ngày nay các công ty Hoa Kỳ hầu như coi địa bàn đầu tư cũng như các ưu đãi về thuế chỉ là yếu tố thứ yếu trong quyết định đầu tư của họ. Điều mà các nhà đầu tư Hoa Kỳ thực sự quan tâm là những lợi thế so sánh về tiếp cận thị trường, chi phí lao động, điều kiện về kết cấu hạ tầng, tính minh bạch của hệ thống pháp luật và cơ chế quản lý… Trong các yếu tố nói trên, tiếp cận thị trường hàng hóa là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định đầu tư ra nước ngoài của các công ty Hoa Kỳ. Thực tế cho thấy, hàng hoá xuất khẩu của Hoa Kỳ có khả năng tiếp cận nhất vào những thị trường mà Hoa Kỳ có đầu tư lớn. Chính nguồn vốn này đã tạo ra gần 60% giá trị xuất khẩu, góp phần đáng kể vào việc tăng năng lực xuất khẩu của Hoa Kỳ. - Tiến trình nhất thể hoá của liên minh Châu Âu, đặc biệt là việc sử dụng hoàn toàn đồng tiền chung EURO vào năm 2002 đã góp phần thúc đẩy hoạt động mua lại và sáp nhập qua biên giới ( Cross Border M&A ) giữa các tập đoàn Hoa Kỳ và Châu Âu nhằm duy trì sức cạnh tranh ở khu vực này. - Ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ có ảnh hưởng quan trọng, thậm chí chi phối nhiều ngành kinh tế then chốt như: khai thác khoáng sản, năng lượng, cơ khí, xây dựng cơ sở hạ tầng… Ví dụ, Công ty Caltex kiểm soát trên 80% dầu mỏ khai thác ở Indonexia, đồng thời chi phối luôn tới việc xuất khẩu; đại bộ phận công nghiệp lọc hoá dầu ở Singapore cũng do công ty này chi phối : ở Philippin và Malaixia, đầu tư của Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng lớn trong các ngành công nghiệp chủ chốt như cơ khí chế tạo, sản xuất, lắp ráp hàng điện tử… - Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hoa Kỳ cũng tác động đáng kể đến cơ cấu công nghiệp của các nước ASEAN, tạo đIều kiện để ngành này dịch chuyển theo hướng phù hợp cơ cấu kinh tế của Hoa Kỳ và bổ trợ cho ngành công nghiệp Hoa Kỳ. Điều này thể hiện ở chỗ, các công ty Hoa Kỳ chỉ đầu tư vào những ngành sản xuất ra sản phẩm mà Hoa Kỳ không có hoặc sản xuất không có hiệu quả. Các công ty Hoa Kỳ cũng đặc biệt chú ý đến việc đầu tư vào các ngành khai thác khoáng sản và chế biến nông sản nhằm tạo nguồn nguyên liệu năng lượng chiến lược phục vụ cho các ngành công nghiệp của Hoa Kỳ. Trên thực tế, mặc dù rất giàu có về tài nguyên và nguyên liệu cho sản xuất nhưng để tiết kiệm Hoa Kỳ vẫn muốn sử dụng nguồn từ bên ngoài thay vì khai thác ở trong nước. - Khác với đầu tư của Nhật Bản thường ở quy mô vừa phải, áp dụng quy trình công nghệ tương đối đơn giản, đầu tư của Hoa Kỳ tuy ít hơn Nhật Bản về số lượng dự án nhưng quy mô khá lớn, sử dụng công nghệ sản xuất hiện đại và trình độ quản lý tiên tiến. Xu hướng đầu tư của Nhật Bản là tập trung vào những ngành công nghiệp truyền thống như dệt, vải sợi, chế biến nguyên liệu thô, lắp ráp hàng điện tử, trong khi đó Hoa Kỳ lại chú ý đến các ngành khai khoáng và dịch vụ; các ngành cơ khí chế tạo ít được quan tâm. 2.1.2.2.Chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Có thể nói, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Xuất phát từ chính lợi ích của chính bản thân nước Mỹ, mà Mỹ đã chủ động đẩy mạnh quan hệ hợp tác kinh tế giữa 2 quốc gia. Chính điều này sẽ càng thúc đẩy hoạt động đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Như ta biết kể từ khi Việt Nam thống nhất đất nước (5/1975) cho đến năm 1995, chính phủ Mỹ đã thi hành chính sách bao vây cấm vận kinh tế chống Việt Nam. Lệnh cấm vận này đã cắt đứt mối quan hệ giữa 2 nước và trở thành vật cản đối với sừ hình thành và mở rộng các quan hệ kinh tế của các nước khác trong khu vực đối với Việt Nam. Các nước như Nhật Bản, ASEAN, EU đều chậm hưởng ứng chính sách mở cửa của Việt Nam, vì chính sách kinh tế của họ đối với Việt Nam phải lệ thuộc đáng kể vào chính sách cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam. Đối với Mỹ, là một nước có nền kinh tế lớn nhất thế giới, tuy không phải lệ thuộc nhiều vào bên ngoài như các nền kinh tế công nghiệp hoá mới Đông á hay Nhật Bản, nhưng các quan hệ kinh tế quốc tế cũng đóng góp tới trên 30% cho tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội của mình. Do vậy, Mỹ cũng rất cọi trọng các quan hệ kinh tế quốc tế. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương luôn chiếm vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Châu Á - Thái Bình Dương chiếm tới 49% ngoại thương của Mỹ, trong đó có các đối tác quan trọng nhất như Nhật Bản, Trung Quốc, các nền kinh tế mới công nghiệp hoá và các nước ASEAN. Các lợi ích kinh tế ở khu vực này cũng ngày càng trở nên thúc bách hơn đối với Mỹ. Trong khi đó, phẩn lớn các hoạt động thương mại và đầu tư ở Châu á là do các công ty xuyên quốc gia của Nhật Bản và Hoa Kiều nắm giữ hoặc chi phối. Các nền kinh tế khác như Hàn Quốc, Đài Loan và ASEAN trước đây từng dựa vào Mỹ thì nay đã và đang trỗi dậy và trở thành những địch thủ cạnh tranh thay dần các vị trí kinh tế của Mỹ trong khu vực. Trung Quốc với tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới liên tục trong thời gian gần đây cùng với Hồng Kông, Đài Loan, Singapore cũng đang tạo ra “ một vành đai kinh tế Trung Hoa” có phạm vi ảnh hưởng rộng khắp các nước Châu Á. Tất cả những điều này đã làm cho Mỹ rất lo ngại và buộc Mỹ phải tăng cường sự có mặt ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vì những lợi ích kinh tế của mình ở khu vực này. Đồng thời, Mỹ cũng hy vọng một thị trường năng động và đầy tiềm năng của khu vực Châu Á- Thái Bình Dương có khả năng giúp Mỹ khôi phục địa vị cường quốc kinh tế của mình. Trong bối cảnh đó, tăng cường thúc đẩy quan hệ với Việt Nam trở thành một khâu quan trọng trong chiến lược của Mỹ đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Các công ty đa quốc gia dù lớn hay nhỏ đều mong đợi tham gia xây dựng các cơ sở hạ tầng ở Việt Nam do ngân hàng thế giới tài trợ. Những công ty nhìn xa hơn đã thấy được Việt Nam là một thị trường tiềm năng, có thể hỗ trợ cho các thị trường Châu Á khác, một thị trường có tiềm năng tiêu thụ lớn gấp 2 lần một số nước mà Bộ Thương mại Mỹ coi là “ những thị trường lớn đang xuất hiện” để tiêu thụ các hàng hoá của Mỹ, và là một cơ hội để di chuyển ít nhất là ngành công nghiệp chế tạo “ kỹ thuật tầm trung” đến đây nhằm giảm chi phí nhân công đang gia tăng liên tục ở Hồng Kông, Hàn Quốc và Singapore. Đối với các doanh nghiệp Mỹ gốc Việt, đây cũng là dịp để họ làm ăn trong một môi trường văn hoá quen thuộc. Và khi Việt Nam đã thực sự hội nhập vào khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nếu Mỹ không có quan hệ đối với Việt Nam tức là Mỹ đã mất đi vai trò của mình ở một thị trường quan trọng ở ĐNÁ. Hơn nữa, nếu không đẩy mạnh quan hệ kinh tế – thương mại với Việt Nam, việc thi hành chiến lược kinh tế được coi là ưu tiên số một trong điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thời kỳ sau chiến tranh lạnh sẽ không đạt kết quả mong muốn. Vì vậy, Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia Mỹ cho thế kỷ 21 đã xác định, lợi ích chiến lược của Mỹ ở ĐNÁ là phát triển hợp tác khu vực và song phương cùng các quan hệ kinh tế nhằm ngăn chặn và giải quyết các xung đột và nâng cao mức độ tham gia của Mỹ trong nền kinh tế khu vực. Trong lĩnh vực kinh tế, việc duy trì và tăng cường các quan hệ kinh tế ngày càng có hiệu quả với ASEAN là một định hướng ưu tiên trong chính sách của Mỹ trong chiến tranh lạnh. Mỹ rất quan tâm đến thị trường ASEAN. Các nhà chiến lược Mỹ cho rằng ASEAN có tiềm năng phát triển thành một thị trường lớn, năng động trong khu vực. Theo dự báo, khu vực này đến năm 2010 sẽ bao trùm 686 triệu dân, tổng sản phẩm lên đến 1,1 ngàn tỷ USD và thu nhập từ các dự án hạ tầng cơ sở bao gồm cả các nước ASEAN có thể lên đến 1000 tỷ USD. Chính vì vậy, Mỹ đã mở rộng danh sách “ các thị trưởng đang nổi lên” sang cả các nước thành viên khối ASEAN. Danh sách này thể hiện sự đánh giá lại của Mỹ đối với các thị trường bên ngoài, xem đây là đIều kiện hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Mỹ. Do đó, việc Mỹ chủ trương cộng tác chặt chẽ với các nước ASEAN không phải là ngẫu nhiên, khi tính đến tiềm năng của khu vực này. Một định hướng quan trọng khác trong chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực ASEAN là xúc tiến tự do hoá hơn nữa chế độ thương mại của các nước này nhằm thúc đẩy những lợi ích kinh tế từ sự tăng trưởng kinh tế của khu vực này. Dưới tác động của Mỹ và theo xu thế chung của thời đại, quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư trong khối ASEAN và trong các nước này đã được đẩy nhanh. Phương hướng chính trong hoạt động của Mỹ ở đây trong những năm tới là thực hiện chính sách tự do hoá các luồng vốn trong nội bộ các nước thành viên của ASEAN. Chính sách kinh tế của Mỹ còn trù định việc tiến hành các sáng kiến song phương cùng với một số nước ASEAN nhằm tạo đIều kiện cho phát triển kinh tế, ổn định chính trị và cải cách thị trường vì lợi ích của chính bản thân nước Mỹ. Về cơ bản, chính sách kinh tế của Mỹ đối với Việt Nam cũng bao hàm 3 định hướng chủ yếu trên. Việc tăng cường hợp tác kinh tế đối với Việt Nam xuất phát từ chính bản thân nước Mỹ và nó cũng phù hợp với xu thế toàn cầu hiện nay: hoà bình, hợp tác cùng phát triển. Việt Nam ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDI của Hoa Kỳ với những lợi thế về nguồn nguyên liệu phong phú, nguồn lao động dồi dào với chi phí lao động thấp , lại là một nước có nhiều cảng biển sẽ góp phần thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá. Vì vậy, Việt Nam sẽ là một địa điểm quan trọng thu hút các doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào đây. 2.2.Thực trạng thu hút và sử dụng vốn đầu tư FDI của Mỹ vào Việt Nam. 2.2.1. Giai đoạn trước 1986. Như chúng ta đều đã biết, trong quá khứ, Việt Nam và Mỹ đã có những kỉ niệm đau thương, và luôn ở thế đối đầu suốt nhiều năm dài. Suốt trong những năm 1975-1986, khi nước ta vừa giành được độc lập và đang trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Việt Nam gần như coi Hoa Kỳ là kẻ thù số một, và gần như không có quan hệ kinh tế. Do vậy, thời kì này là thời kì FDI của Mỹ vào Việt Nam gần như là con số “0” tròn trĩnh. 2.2.2. Giai đoạn 1986 – 2000. Năm 1986 được coi là năm đánh dấu một bước ngoặt lớn lao trong lịch sử dân tộc. Đất nước ta chính thức mở cửa nền kinh tế, gửi tới toàn thế giới thông điệp hòa bình, hữu nghị và hợp tác, “Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Và đến đầu năm 1995, Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, mở ra một trang sử mới trong hợp tác kinh tế giữa hai dân tộc. Từ đây, Việt Nam đã bắt đầu tiếp cận với nguồn vốn FDI từ quốc gia lớn nhất Thế giới. Tuy nhiên, trong những năm 90 của thế kỷ XX, nền kinh tế cũng như các chính sách của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, rủi ro lớn, và còn tồn tại quá nhiều vấn đề của chế độ cũ khiến cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ chưa thể an tâm đầu tư. Điều đó lí giải phần nào việc nguồn vốn FDI của Hoa Kỳ đầu tư vào Việt nam giai đoạn này vẫn còn rất khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng hai quốc gia. Như chúng ta thấy trong bảng dưới đây: BẢNG 1 ĐẦU TƯ FDI VÀO VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1988 – 2006 (Số dự án, tỉ lệ phần trăm và giá trị dự án tính bằng triệu USD) Trong giai đoạn từ 1988 đến 2006, tổng số dự án có nguồn vốn FDI mà Mỹ (và cả Canada) đầu tư tại Việt Nam chỉ là 459/8237 dự án, chiếm chỉ 5.6%. Và tổng số vốn đăng kí cũng chỉ là 3,630 triệu USD, chỉ chiếm 4.6% tổng số vốn FDI đầu tư vào Việt Nam. Những con số thật sự là quá nhỏ bé so với tiềm năng của hai nước. Tuy nhiên, vào cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng cao, cơ chế dần trở nên thông thoáng và rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Nguồn vốn FDI ào ạt đổ về Việt Nam. Và Hoa Kỳ cũng không ngoại lệ. Niềm tin nơi các nhà đầu tư Hoa Kỳ đã trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nguồn vốn FDI khổng lồ từ siêu cường số một thế giới bắt đầu chảy về Việt Nam và vẫn đang tăng lên từng ngày. Tôi sẽ phân tích tình hình đầu tư FDI của Mỹ vào Việt Nam trong giai đoạn 1986 – 2000 theo 3 ý chính sau: *Theo lĩnh vực đầu tư: Với trên 100 dự án và tổng vốn đăng ký là 1.094.829.771 USD, FDI từ Hoa Kỳ chiếm 3,05% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có đóng góp tích cực trong việc giải quyết nhu cầu vốn cho nền kinh tế nước ta, là nguồn bổ sung quan trọng cho tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế của nước ta. Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, các dự án đầu tư của Mỹ chủ yếu tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng (gồm công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, tin học và dịch vụ tin học, công nghiệp chế biến dầu khí...) với 60 dự án, tổng vốn đăng ký đạt 660 triệu USD, chiếm 59% về số dự án nhưng chiếm 62% về vốn đàu tư.
- Xem thêm -