Tăng cường thu hút và sử dụng vốn ODA của WB vào tỉnh Hòa Bình

  • Số trang: 64 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 23 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung LỜI MỞ ĐẦU Kể từ lần đầu tiên vào Việt Nam năm 1993, tính đến nay sau gần 20 năm có mặt tại Việt Nam, ODA luôn chứng tỏ vai trò là một nguồn vốn hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội. Việt Nam là một nước đang phát triển, thu nhập bình quân đầu người vừa mới bước sang ngưỡng mức thu nhấp trung bình thấp, nền kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, đời sống nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn. Chúng ta thực sự rất cần có các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội. Để phát triển kinh tế - xã hội ngoài các nguồn lực huy động trong nước, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có vai trò rất quan trọng. Vì vậy trong những năm qua Đảng nhà nước ta đang tìm cách để thu hút nguồn vốn ODA cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hòa Bình nguồn vốn ODA nói chung và ODA của WB nói riêng góp phần cực kỳ quan trọng đối với công cuộc tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo... Tính đến nay trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có 4 chương trình và dự án do WB tài trợ với tổng số vốn đầu tư là 935,181 tỷ đồng,số vốn này được thực hiện với mục tiêu góp phần phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo...và đã đạt được những hiệu quả nhất định. Nhận thấy vai trò quan trọng của nguồn vốn ODA đối với sự phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Hòa Bình nói riêng nên em chọn đề tài : “Tăng cường thu hút và sử dụng vốn ODA của WB vào tỉnh Hòa Bình”, Mục đích nghiên cứu: - Làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về viện trợ phát triển chính thức ODA, vai trò của nguồn vốn ODA nói chung và ODA của WB đối với tỉnh Hòa Bình nói riêng. SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung - Để qua đó đánh giá tình hình cam kết, ký kết tình hình giải ngân của nguồn vốn ODA vào tỉnh Hòa Bình để tìm ra những khó khăn và nguyên nhân trong quá trình sử dụng vốn. - Đề xuất các giải pháp chung và riêng nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng ODA nói chung và ODA của WB vào tỉnh Hòa Bình nói riêng. Kết cấu bài viết gồm 3 chương : Chương I: ODA và nguồn vốn ODA của WB Chương II: Thực trạng thu hút ODA của WB vào tỉnh Hòa Bình thời gian qua Chương III: Giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng ODA của WB vào tỉnh Hòa Bình Để hoàn thành chuyên đề này em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn là CN. Bùi Thị Nguyệt Dung, giảng viên khoa tài chính quốc tế, cô đã giúp đỡ em nhiều trong quá trình thực hiện đề tài này. SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung CHƯƠNG 1: ODA VÀ NGUỒN VỐN ODA CỦA WB 1.1. Tổng quan về ODA 1.1.1. Khái niệm về ODA Tháng 4 năm 1944, trước tình hình đại chiến thế giới sắp kết thúc, 44 nước đã tham gia vào hội nghị tài chính quốc tế tại Bretton Wood (Mỹ) thành lập ra quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng tái thiết và phát triển (IBRD). IBRD chính thức đi vào hoạt động ngày 25/6/1946, còn IMF chính thức đi vào hoạt động tháng 3/1947. Sau khi chiến tranh kết thúc năm (1945), các nước Châu Âu, Châu Á đều bị chiến tranh tàn phá. Riêng Mỹ ít bị thiệt hại thậm chí cò phất lên nhờ chiến tranh. GDP năm 1945 của Mỹ là 213,5 tỷ USD, bằng khoảng 48% tổng GDP của thế giới, tăng gần 2 lân so với 125,8 tỷ USD năm 1942. Để giúp đỡ các đồng minh Tây Âu khôi phục kinh tế, phát huy ảnh hưởng chính trị, đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Mỹ đã triển khai “kế hoạch Marsahall” thông qua ngân hàng thế giới chủ yếu là IBRD. Thông qua kế hoạch này Mỹ đã thực hiện tài trợ vốn ồ ạt được ví là “ trận mưa dollar” khổng lồ cho Tây Âu với tên gọi là khoản “Hỗ trợ phát triển chính thức ODA”. Từ đó đến nay theo sự phát triển của mối quan hệ quốc tế, nguồn vốn ODA liên tục được đưa vào các nước đang phát triển. Nghiên cứu về nguồn vốn này có rất nhiều quan điểm, trong bài viết này xin đưa ra một số quan điểm về khái niệm nguồn vốn ODA như sau: ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development Assistance, có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức. Khái niệm ODA được ủy ban viện trợ phát triển DAC (Development Assistance Committee) của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đề cập SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung vào năm 1969. Theo DAC thì ODA là nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn được dành cho các nước đang và kém phát triển được các cơ quan chính thức của chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của chính phủ các tổ chức liên chính phủ và các tổ chức phi chính phủ tài trợ. Vốn ODA phát sinh từ nhu cầu tất yếu của một quốc gia, một địa phương một ngành được tổ chức quốc tế hay nước bạn xem xét và tổ chức tài trợ thông qua một hiệp định quốc tế được đại diện có thẩm quyền hai bên (bên nhận vốn và bên hỗ trợ vốn) kí kết hiệp định quốc tế này được chi phối bởi Công Pháp Quốc Tế. Theo quan điểm của chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) thì nguồn vốn hỗ trợ phát triền chính thức gồm cả khoản cho không và các khoản vay đối với các nước đang phát triển dó là nguồn vốn do các bộ phận chính thức cam kết (nhà tài trợ chính thức), nhằm mục đích cơ bản là phát triển kinh tề và phúc lợi xã hội được cung cấp bằng các điều khoản tài chính ưu đãi (nếu lá các khoản vay sẽ có yếu tố cho không ít nhất là 25%). Theo định nghĩa của ngân hàng thề giới WB thì ODA là khoản tài trợ hoặc giải ngân vốn vay ưu đãi (sau khi đã trừ phần trả nợ) được cung cấp bởi các cơ quan chính thức của các nước thuộc ủy ban phát triển OECD một số quốc gia và tổ chức đa phương khác như ngân hàng thế giới vơi mục đích phát triển. Viện trợ quân sự không được tính vào khái niệm này. Hình thức cung cấp ODA chủ yếu là ODA không hoàn lai và ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại ít nhất 25%. SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung Phương thức cung cấp ODA bao gồm: Hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ chương trình và hỗ trợ theo dự án. Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là một nguồn vốn phát triển quan trọng đối với các nước đang phát triển để tăng cường quản lý kinh tế, phúc lợi xã hội, tái thiết, xây dung đất nước và phát triển kinh tế, hỗ trợ cán cân thanh toán, xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội. 1.1.2. Đặc điểm của ODA Thứ nhất, Vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi của các nước phát triển, các tổ chức quốc tế đối với các nước đang và chậm phát triển. Với mục tiêu trợ giúp các nước đang và chậm phát triển, vốn ODA mang tính ưu đãi hơn bất cứ nguồn tài trợ nào khác. Được thể hiện như sau: - Ưu đãi về lãi suất: lãi suất phải trả thấp hơn lãi suất thị trường, phổ biến dưới 3%. Nhiều khoản từ 0,25%/năm – 1%/năm, thậm chí không phải trả lãi. Ví dụ lãi suất của ADB là 1%/năm; của WB là 0,75% /năm; Nhật thì tuỳ theo từng dự án cụ thể trong năm tài khoá. Ví dụ từ năm 1997-2000 thì lãi suất là 1,8%/năm. - Ưu đãi về thời hạn vay: Vốn ODA thường có thời hạn vay dài, thường từ 10 – 30 năm, thậm chí có thể 40 – 50 năm. - Ưu đãi về thời hạn trả nợ: các khoản vay từ nguồn vốn ODA đều có thời gian ân hạn (chưa phải trả nợ gốc) tương đối dài từ 3 – 10 năm. Hết thời gian ân hạn khoản vay sẽ được trả đần theo điều kiện trả nợ của bên cho vay đã được ghi trong hợp đồng vay. - Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD. - Thông thường vốn ODA có một phần viện trợ không hoàn lại, phần viện trợ không hoàn lại này lớn hơn 25% tổng số vốn vay. SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung - Những ưu đãi khác: các Chính phủ còn có thể hưởng các ưu đãi khác như: không phải cần cố, thế chấp tài sản, có thể được xem xét hoãn nợ, giảm nợ, thậm chí có thể xóa nợ khi không có điều kiện trả đúng hạn. Nhìn chung, các nước cung cấp vốn ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý). Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp vốn ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể. Thứ hai, vốn ODA thường kèm theo các điều kiện ràng buộc nhất định: Tuỳ theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể kèm theo những điều kiện ràng buộc nhất định. Những điều kiện ràng buộc này có thể là ràng buộc một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh tế, xã hội và thậm chí cả ràng buộc về chính trị. Thông thường, các ràng buộc kèm theo thường là các điều kiện về mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hoá và dịch vụ của nước tài trợ đối với nước nhận tài trợ. Ví dụ, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa và dịch vụ của nước mình… Canada yêu cầu cao nhất, tới 65%. Thụy Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%, Hà Lan 2,2%, hai nước này được coi là những nước có tỷ lệ ODA yêu cầu phải mua hàng hóa và dịch vụ của Nhà tài trợ thấp. Nhìn chung, 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hóa và dịch vụ của các quốc gia viện trợ. Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ. Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ. Thứ ba, ODA là nguồn vốn có khả năng để lại gánh năng nợ cho chính phủ: SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung Khi tiếp nhận và sử dụng vốn ODA, do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ nần thường chưa xuất hiện. Một số nước do sử dụng chưa hiệu quả ODA trong ngắn hạn có thể tại nên tăng trươngt nhấ thời nhưng sau một thời gian dài thì lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ, nguyên nhân chính là do vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, các nước nhận ODA phải sử dụng sao cho có hiệu quả, tránh lâm vào tình trạng không có khả năng trả nợ. Do đó khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng cường sứa mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu. 1.1.3. Vai trò của ODA đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. - ODA là nguồn bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. Hiện nay, nguồn vốn mà Việt Nam cần cho tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội là rất lớn mà nếu chỉ huy động trong nước thì không thể đáp ứng được. Do đó, ODA trở thành nguồn vốn từ bên ngoài quan trọng để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển. Với lãi suất thấp,thời hạn cho vay dài và các khoản vốn vay ODA đều có thời gian ân hạn từ 3 – 10 năm đây là điều kiện thuận lơi cho nước tiếp nhận vốn đầu tư phát triển kinh tế . - ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực. Thông qua các dự án ODA các nhà tài trợ có những hoạt động nhằm giúp Việt Nam nâng cao trình độ khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực như: cung cấp các tài liệu kỹ thuật, tổ chức các buổi hội thảo với sự tham gia của những chuyên gia nước ngoài, cử các cán bộ Việt Nam đi học ở nước ngoài, tổ chức các chương trình tham quan học tập kinh nghiệm ở những nước phát triển, cử trực tiếp chuyên gia sang Việt Nam hỗ trợ dự án và trực tiếp cung cấp những SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung thiết bị kỹ thuật, dây chuyền công nghệ hiện đại cho các chương trình, dự án. Thông qua những hoạt động này các nhà tài trợ sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam và đây mới chính là lợi ích căn bản, lâu dài đối với chúng ta. - ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế. Các dự án ODA mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thường ưu tiên vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả nước. Bên cạnh đó còn có một số dự án giúp Việt Nam thực hiện cải cách hành chính nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước. Tất cả những điều đó góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Việt Nam. - ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển. Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước, trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại nước đó. Do đó, một cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh, phương tiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống cung cấp năng lượng không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư vì những phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng các tiện nghi hạ tầng sẽ lên cao. Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là lý do làm cho các nhà đầu tư e ngại, vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sự thiếu thốn các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho đầu tư sẽ làm phí tổn đầu tư gia tăng dẫn tới hiệu quả đầu tư giảm sút. - Nguồn viện trợ ODA giúp các nước đang phát triển cải thiện thể chế và chính sách kinh tế. SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung Cải thiện thể chế và chính sách kinh tế ở những nước đang phát triển là chìa khoá để tạo bước nhảy vọt về lượng trong thúc đẩy tăng trưởng, tức là góp phần làm giảm đói nghèo. Mặt khác, viện trợ có thể nuôi dưỡng cải cách. Khi các nước mong muốn cải cách thì viện trợ nước ngoài có thể đóng góp những nỗ lực cần thiết như hỗ trợ thử ngiệm cải cách, trình diễn thíđiểm, tạo đà và phổ biến các bài học kinh nghiệm. Những nước mà ở đó chính phủ thực hiện những chính sách vững chắc phân bổ hợp lý các khoản chi tiêu và cung cấp dịch vụ có hiệu quả cao thì hiệu quả chung của viện trợ là lớn. Ngược lại, ở những nước mà chính phủ và nhà tài trợ không đồng nhất quan điểm trong việc chi tiêu, hiệu quả lại thấp thì các nhà tài trợ cho rằng cách tốt nhất là giảm viện trợ và tăng cường hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách và xây dựng thể chế cho đến khi các nhà tài trợ thấy rằng viện trợ của họ sẽ đóng góp cho sự phát triển. Qua đây ta cũng nhận thấy rằng giá trị thực của các dự án là ở chỗ thể chế và chính sách được củng cố, cải thiện việc cung cấp dịch vụ xã hội. Việc tạo ra được kiến thức với sự trợ giúp của viện trợ sẽ dẫn tới sự cải thiện trong một số ngành cụ thể trong khi một phần tài chính của viện trợ sẽ mở rộng các dịch vụ công cộng nói chung. Cơ chế quản lý tốt, ổn định kinh tế vĩ mô, Nhà nước pháp quyền và hạn chế tham nhũng sẽ dẫn đến tăng trưởng và giảm đói nghèo. Qua các nghiên cứu của các chuyên gia có thể thấy khó có thể nhận ra mối quan hệ giữa viện trợ mà các nước nhận được với trình độ chính sách của họ. Tuy không có mối quan hệ về lượng giữa viện trợ và chất lượng chính sách của nước nhận viện trợ nhưng trong một số trường hợp viện trợ vẫn có thể góp phần cải cách, thông qua các điều kiện đặt ra hoặc thông qua việc phổ biến ý tưởng mới. SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung 1.1.4. Phân loại ODA Căn cứ theo tính chất tài trợ: - Viện trợ không hoàn lại: người nhận không có nghĩa vụ phải hoàn trả. - Tài trợ có hoàn lại: là các khoản cho vay ưu đãi. Thường người ta phải tính được mức độ không hoàn lại (hoặc thành tố ưu đãi) lớn hơn 25% vốn vay mới được coi là ODA ưu đãi. - Tài trợ hỗn hợp: gồm một phần viện trợ không hoàn lại và một phần viện trợ cho vay (có thể có ưu đãi hoặc không ưu đãi), nhưng tổng các thành tố ưu đãi phải trên 25%. Căn cứ vào mục đích sử dụng: - Hỗ trợ cơ bản: là các khoản ODA dành cho thực hiện các nhiệm vụ chính của các chương trình dự án đầu tư xây dụng cơ sở hạ tầng kinh tề - xã hội và bảo vệ môi trường. Thường các khoản vay ưu đãi . - Hỗ trợ kỹ thuật: là khoản tài trợ dành cho chuyển giao tri thức, chuyển giao công nghệ, phát triển năng lực, phát triển thể chế, nghiên cứu đầu tu các chương trình, dự án, phát triển nguồn nhân lực… Thường là các khoản viện trợ không hoàn lại. Căn cứ vào các điều kiện để được nhận tài trợ: - ODA không ràng buộc: người nhận không phải chịu bất cứ ràng buộc nào. - ODA có ràng buộc: người hnận phải chịu một số ràng buộc nào đó như: ràng buộc nguồn sử dụng: chỉ được mua xắm hàng hóa, thuê chuyên gia, thuê thầu… theo chỉ định. Hoặc ràng buộc bởi mục đích sử dụng: chỉ được sử dụng cho một số mục đích nhất định nào dó qua chương trình, dự án… - ODA hỗn hợp: một phần có những ràng buộc, một phần không có ràng buộc nào. SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung Căn cứ vào hình thức thực hiện các khoản tài trợ - ODA hỗ trợ dự án: là hình thức chủ yếu của ODA nghĩa là ODA sẽ được xác định cho các dự án cụ thể. Có thể là hỗ trợ cơ bản, hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi. - ODA hỗ trợ phi dự án: không gắn với các dự án đầu tư cụ thể như: hỗ trợ cán cân thanh toán, hỗ trợ trả nợ… - ODA hỗ trợ chương trình: là khoản ODA dành cho một mục đích tổng quát nào đó trong một khoảng thời gian xá định. Thường là gắn với nhiều dự án chi tiết cụ thể trong một chương trình tổng thể. Căn cứ vào người cung cấp tài trợ: - ODA song phương: là ODA của một Chính phủ trực tiếp tài trợ cho một Chính phủ khác. - ODA đa phương: lá ODA của nhiều Chính phủ cùng đồng tài trợ cho một Chính phủ. Thường có ODA đa phương toàn cầu và ODA đa phương khu vực. - ODA của các tổ chức phi chính phủ (NGO): như hội chữ thập đỏ quốc tế, Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, Tổ chức hòa bình xanh… 1.2. Ngân hàng thế giới (WB) và nguồn vốn ODA của Ngân hàng thế giới (WB). 1.2.1. Giới thiệu về Ngân hàng thế giới (WB). WB là tên viết tắt tiếng anh của Ngân hàng thế giới được thành lập vào ngày 25/06/1946, đây là thời điểm mà WB chính thức bắt đầu hoạt động. Trước đó từ ngày 3 – 18 tháng 3 năm 1946 đã diễn ra cuộc họp cấp cao của WB và IMF vào tháng 3 năm 1946 được tổ chức ở Sanana, Georgia. Tại cuộc họp này đã quyết định bầu ra ban Giám đốc và lựa chọn Weshiston D.C làm trụ sở của WB và IMF lúc đó. Mức vồn khởi điểm là 7.67 tỷ USD. Vào tháng 7 cùng năm cuộc SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung họp đầu tiên của ban giám đốc được tổ chức, cho đến 18/6/1946 thì WB có tổng giám đốc đầu tiên Engenen Meyer. 1.2.1.1. Mục tiêu hoạt động của WB WB là một tổ chức Ngân hàng không nằm ngoài mục đích tiến hành hoạt động kinh doanh thu lợi trên thị trường tài chính quốc tế như cung cấp những khoản vay nhằm thúc đẩy kinh tế cho các nước đang phát triển thông qua các chương trình vay vốn. Tuy nhiên mục đích mà cả thế giới quan tâm và ủng hộ đó là giảm nghèo và cải thiện mức sống tiêu chuẩn thông qua tăng trưởng ổn định và đầu tư cho con người và tăng cường chất lượng phát triển. 1.2.1.2. Cơ cấu tổ chức của WB Tính đến tháng 8/2011, WB có 187 nước hội viên đồng thời cũng là các cổ đông góp vốn. Đại diện các cổ đông này là Hội đồng Thống đốc và là những người hoạch định chính sách của WB. Hội đồng Thống đốc của Nhóm WB và IMF định kỳ họp mỗi năm một lần. Do vậy, Hội đồng Thống đốc trao quyền điều hành công việc cụ thể cho Ban Giám đốc Điều hành gồm 25 thành viên làm việc tại trụ sở WB. Năm cổ đông lớn nhất là Pháp, Đức, Nhật, Anh và Mỹ. Hội đồng Thống đốc bầu ra Ban Giám đốc điều hành hỗ trợ công việc Hội đồng Thống đốc tại WB. Ban Giám đốc Điều hành họp ít nhất 2 lần một tuần để giám sát các hoạt động của WB, bao gồm phê duyệt các khoản vay và bảo lãnh, các chính sách mới, ngân sách quản trị, chiến lược hỗ trợ quốc gia và các quyết định tài chính và vay vốn. Các hoạt động hàng ngày của WB đặt dưới sự chỉ đạo và quản lý của Chủ tịch, Ban Giám đốc Điều hành và các Phó Chủ tịch phụ trách theo khu vực. Nhóm Ngân hàng Thế giới (WB) là tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp quốc được thành lập với cơ cấu gồm 5 cơ quan: SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung - Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Quốc tế (IBRD) có nhiệm vụ cung cấp hỗ trợ tài chính cho các nước thu nhập trung bình hoặc những nước đang phát triển có mức tín nhiệm tín dụng cao. Để trở thành hội viên của IBRD, một quốc gia trước hết phải là hội viên của IMF. - Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) được thành lập nhằm cung cấp hỗ trợ tài chính cho các nước đang phát triển và thu nhập thấp. - Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) có nhiệm vụ hỗ trợ phát triển khu vực tư nhân ở các nước đang phát triển. - Cơ quan Bảo lãnh Đầu tư Đa biên (MIGA) là cơ quan có nhiệm vụ thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển. - Trung tâm Quốc tế Giải quyết Tranh chấp Đầu tư (ICSID) Mục tiêu tôn chỉ hoạt động của Nhóm WB là hỗ trợ sự phát triển và nâng cao mức sống của người dân tại các quốc gia thành viên. 1.2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của WB Chức năng của WB được phân công cho các tổ chức thành viên thực hiện. IBRD và IDA đi vay (phát hành trái phiếu) và cho các nước thành viên vay lại (hiện WB có 186 nước thành viên). Không phải nước thành viên nào cũng được vay WB. Cá nhân và công ty không được WB cho vay. Chính phủ của những nước đang phát triển nhưng có thu nhập quốc dân trên đầu người trên 1305 USD/năm được vay của IBRD. Các khoản vay này có lãi suất chỉ cao hơn lãi suất mà WB đã đi vay một chút. Chính phủ của các nước nghèo, có thu nhập quốc dân trên đầu người dưới 1305 USD/năm (trong thực tế là dưới 805USD/năm) được vay của IDA. Các khoản vay sẽ không đòi lãi suất và có thời hạn lên tới 35-40 năm. SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung Trong hai thập kỳ đầu kể từ khi được thành lập, IBRD đã dành hơn 2/3 tổng giá trị các khoản cho vay của mình cho các dự án phát triển năng lượng và giao thông vận tải. Trong hai thập niên 1960 và 1970, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng vẫn quan trọng nhất, song hoạt động của IBRD và IDA đã rất đa dạng, từ hỗ trợ giáo dục, y tế, dinh dưỡng, kế hoạch hóa gia đình, đến hỗ trợ phát triển nông thôn và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ. Các hoạt động của IBRD và IDA đều trực tiếp liên quan đến giúp đỡ người nghèo và mang hình thức hỗ trợ tài chính lẫn kỹ thuật. Từ thập niên 1980, ngoài đầu tư vào vốn vật chất và vốn con người, IBRD và IDA bắt đầu cho vay để cải cách cơ cấu kinh tế và điều chỉnh chính sách ở các nước đang phát triển. Phản ứng nhạy bén và chú trọng xóa nghèo là các mục tiêu hiện này của IBRD và IDA. IFC cho các dự án tư nhân ở các nước đang phát triển vay theo giá thị trường nhưng là vay dài hạn hoặc cấp vốn cho họ. Sự tham gia của IFC như một sự bảo đảm đối với các nhà đầu tư khác quan tâm tới dự án và khuyến khích họ đầu tư vào dự án. MIGA cung cấp những bảo đảm trước các rủi ro chính trị (rủi ro phi thương mại) để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đầu tư trực tiếp vào các nước đang phát triển. 1.2.1.4. Hoạt động tài trợ của WB Cung cấp ODA cho các nước đang phát triển là một trong các chức năng nhiệm vụ cơ bản của WB nhằm trợ giúp cho các nước này phát triển kinh tế - xã hội. WB nằm trong số 3 nhà tài trợ ODA lớn nhất thế giới đó là Nhật Bản, WB và ADB. WB đứng ở vị trí số 2 sau Nhật Bản. SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung Với mục tiêu giảm ngheo, giữ vũng đà tăng trưởng và tăng cường chất lượng phát triển, WB trú trọng hỗ trợ cho các nước đang phát triển vào mội số lĩnh vực sau: - Đầu tư vào con người: đây là vấn đề quan trọng liên quan đến giáo dục, y tế cho mọi người. - Bảo vệ môi trường: WB là nhà tài trợ có quỹ lớn nhất cho các dự án về môi trường với tổng số 166 dự án giá trị hơn 11 tỷ USD. - Thúc đấy các chương trình cải tổ kinh tế: WB hỗ trợ cho các chính phủ cải tiến các chính sách kinh tế - xã hội để tăng hiệu quả ổn định tăng trưởng và phát triển thông qua cắt giảm thâm hụt ngân sách, giảm lạm phát, tự do hóa thương mại, thiết lập hệ thống tài chính lành mạnh, hỗ trợ cán cân thanh toán. 1.2.2. Nguồn vốn ODA của WB Các nguồn viện trợ ODA của WB cho các nước đang phát triển chủ yếu do quỹ IDA. Tính đến tháng 5/1998 đã có 80 nước thành viên đủ điều kiện nhận viện trợ của IDA như: Việt Nam, Lào, Campuchia… WB thưc hiện hỗ trợ thông qua các dự án và các chương trình phát triển, song chủ yếu vẫn là các dự án. SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT NGUỒN VỐN ODA CỦA WB VÀO TỈNH HÒA BÌNH TRONG THỜI GIAN QUA 2.1. Giới thiệu về tỉnh Hòa Bình và vai trò nguồn vốn ODA đối với phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình 2.1.1. Giới thiệu về tỉnh Hòa Bình Hoà Bình là tỉnh miền núi, cửa ngõ Tây - Bắc Việt Nam, phía bắc giáp tỉnh Phú Thọ; phía nam giáp tỉnh Thanh Hoá, Ninh Bình; phía đông giáp Thành Phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam; phía tây giáp tỉnh Sơn La; trục giao thông chính là quốc lộ 6 nối liền Hà Nội với Hoà Bình và các tỉnh miền núi Tây bắc. Trung tâm tỉnh cách Hà Nội 76 km. Hoà Bình là thủ phủ của người Mường, là nôi văn hoá của nền văn hoá Hoà Bình. Tháng 10 năm 2006, Hoà Bình được công nhận là Thành phố trực thuộc tỉnh. Thành phố Hoà Bình là đô thị loại 3, trung tâm đầu não về chính trị, hành chính của tỉnh, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế của miền Tây bắc và được Chính phủ phê chuẩn là đô thị cấp vùng của Vùng Thủ đô Hà nội, nơi tập trung các dịch vụ đô thị, du lịch, đào tạo, thương mại hỗ trợ trực tiếp cho Hà Nội. Toàn tỉnh có tổng diện tích 4.596 km 2 bao gồm 10 huyện và 1 thành phố với 210 xã phường, thị trấn trong đó có 107 xã khó khăn và 73 xã đặc biệt khó khăn; tính đến năm 2010 dân số tỉnh Hoà Bình là 778.274 người với 6 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Mường chiếm 60%, dân tộc kinh chiếm 30%, còn lại là các dân tộc Thái, Tày, Dao và H’mông. Hoà Bình có địa hình chia cắt phức tạp do có nhiều núi cao, độ dốc lớn theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Nền kinh tế chậm phát triển, cơ sở hạ tầng yếu kém, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí hạn chế, đặc biệt là vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn. Tỷ lệ dân số nông thôn chiếm 90%, chủ yếu là SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung lao động nông nghiệp thuần tuý, thu nhập chính dựa vào trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi gia súc, gia cầm nhỏ lẻ. Trong những năm qua, tỉnh Hoà Bình luôn quan tâm huy động các nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư vào tỉnh nhằm từng bước phát triển kinh tế - xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo. Giai đoạn 2007 – 2011, tỉnh Hoà Bình đã đạt được một số thành tựu đáng kể như tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 12%; thu nhập bình quân đầu người 14,1 triệu đồng/năm; sản lượng lương thực trên 33,7 vạn tấn/năm; tổng kim ngạch xuất khẩu 43,6 triệu USD/năm; tổng thu ngân sách nhà nước 787,8 tỷ đồng/năm; tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh từ 31% năm 2005, nay giảm còn 14% (theo chuẩn cũ); tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 24,3%; tỷ lệ hộ nông thôn dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 80%, tỷ lệ hộ được dùng điện lưới quốc gia 95%; Số bác sỹ/vạn dân 6,63. Những thành quả đạt được nêu trên có sự đóng góp hết sức to lớn của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). 2.1.2. Vai trò của nguồn vốn ODA đối với phát triển kinh tế - xã hội trên đại bàn tỉnh Hòa Bình. Hòa Bình là một trong những tỉnh được nhận nhiều nguồn vốn ODA của thế giới. Để tỉnh thoát khỏi nghèo đói, tăng trưởng và phát triển kinh tế thì nhu cấu vốn là hết sức cần thiết. Sau gần 20 năm tiếp nhận nguồn vốn ODA (từ năm 1993 đên nay) tỉnh Hòa Bình đã có những thay đổi đáng kể như tỷ lệ hộ nghèo năm 2002 là 36% đến năm 2008 là 18,98%, GDP bình quân đầu người năm 2002 là 2,556 triêu đồng/ người đến năm 2009 GDP binh quân đầu người là 7,709 triệu đồng/ người. Để đạt được những kết quả trên Tỉnh đã tích cực huy động các nguồn vốn bên trong cùng như các nguồn vốn bên ngoài, đặc biệt là nguồn vốn cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh đó là nguồn vốn ODA SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung Ngoài vai trò là phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Trong thời giam qua nguồn vốn ODA còn có nhũng vai trò sau: - Việc thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua góp phần quan trọng trong việc thực hiện thành công chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá, giữ vững độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia; - ODA đã bổ sung một nguồn vốn quan trọng góp phần cân đối nguồn vốn đầu tư phát triển trong các kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh; - Giai đoạn 2007 - 2011 nguồn vốn ODA đã bổ sung khoảng 11 % cho tổng vốn đầu tư toàn xã hội và trung bình khoảng 27% tổng đầu tư từ ngân sách; - Nguồn vốn ODA đã góp phần phát triển kinh tế- xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cải thiện các dịch vụ kinh tế - xã hội và xoá đói giảm nghèo; - Nguồn ODA góp phần phát triển cơ sở hạ tầng quy mô vừa và nhỏ (Điện, Đường, Trường, Trạm, Nước sạch...), nhờ vậy đã tăng cường khả năng tiếp cận với các dịch vụ cơ sở hạ tầng nông thôn, cải thiện cơ sở vật chất trường học, y tế và phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, đặc biệt ở các địa bàn khó khăn, vùng sâu, vùng xa của tỉnh; - Thông qua các chương trình và dự án ODA đã tiếp nhận được các thành tựu khoa học hiện đại, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tăng cường năng lực và phát triển thể chế. 2.2. Thực trạng thu hút và sử dụng ODA của WB vào tỉnh Hòa Bình thời gian qua 2.2.1. Tình hình thu hút và sử dụng ODA vào tỉnh Hòa Bình trong thời gian qua SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung Từ những thành tựu hết sức to lớn về kinh tế,văn hóa, chính trị và xã hội mà nguồn vốn ODA mang lại cho tỉnh Hòa Bình nói riêng và cho sự phát triển của đất nước nói chung. Chúng ta cần xem xét chi tiết và cụ thể trong thời gian qua tỉnh Hòa Bình đã thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA như thế nào. Nhận thức được tầm quan quan trọng của nguồn vốn ODA cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua, các cấp Lãnh đạo, Chính quyền và các Cơ quan chức năng tỉnh Hoà Bình luôn quan tâm đến công tác thu hút, vận động nguồn vốn ODA, tạo mọi điều kiện tốt nhất để các dự án ODA hoạt động, nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, xoá đói giảm nghèo, đặc biệt ở những vùng xâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn. Cùng với các dự án đầu tư bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước, các dự án sử dụng nguồn vốn ODA đã và đang góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống sinh hoạt cho người dân đặc biệt vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc của tỉnh Hoà Bình. Từ năm 1993 đến hết năm 2005 trên địa bàn tỉnh Hòa bình có tổng số 35 dự án ODA và 02 dự án đang trong quá trình đàm phán ký kết của 11 nhà tài trợ: Nhật Bản, Bỉ, Thụy Sỹ, Đức, Tây Ban Nha, Ngân hàng phát triển Châu á (ADB), Ngân hàng thế giới (WB), UNFPA, Pháp, Hàn Quốc và Quỹ UNICEF; Tổng giá trị vốn ODA được ký kết cho các chương trình, dự án là 80,186 triệu USD. Trong đó vốn vay 63,415 triệu USD và vốn viện trợ không hoàn lại 16,771 triệu USD; Tổng số vốn ODA giải ngân tính đến hết năm 2005 ước đạt 56,1302 triệu USD bằng 70% tổng vốn ODA đã ký kết. SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02 Luận văn cuối khóa GVHĐ: CN. Bùi Thị Nguyệt Dung Bảng 2.1: Tổng số vốn ODA và số vốn đã giải ngân trong giai đoạn 1993 2005 Đơn vị tính: triệu USD Chỉ tiêu Tổng vốn đầu tư Số vốn đã giải ngân WB 17 7.67 ADB JICA Các nhà đầu tư khác 14,572 23,508 25,106 10,25 18,8 19,4102 Nguồn: sở kế hoạch đầu tư tỉnh Hòa Bình Biểu đồ 2.1: Tổng số vốn ODA và số vốn đã giải ngân trong giai đoạn 1993 - 2005 Biểu đồ sinh viên tự vẽ theo số liệu sở kế hoạch đầu tư tỉnh Hòa Bình Nhìn vào bảng 2.2.1 có thể nhận thấy tổng nguồn vốn ODA đầu tư vào tỉnh Hòa Bình trong giao đoạn này còn thấp, với các nhà tài trợ ODA đa phương như: Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và nhà tài trợ SV: Dương Thị Yến Lớp: CQ46/08.02
- Xem thêm -