Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở việt nam hiện nay

  • Số trang: 77 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 33 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

LUẬN VĂN: Tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay Lời mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Xuất bản có vai trò quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội nói chung, văn hóa nói riêng. Các quan hệ xã hội về xuất bản rất đa dạng, phong phú và phức tạp. Nó đan xen giữa văn hóa - tư tưởng với kinh tế, giữa lao động sáng tạo của tư duy với lao động sản xuất vật chất, nó xuyên suốt quá trình sản xuất - lưu thông và tiêu dùng xuất bản phẩm. Hoạt động xuất bản là kênh thông tin quan trọng để tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, góp phần ổn định chính trị, phát triển văn hóa và kinh tế, nâng cao dân trí, đời sống tinh thần của nhân dân... Do đó, tăng cường quản lý nhà nước (QLNN) về xuất bản là vấn đề quan trọng luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, tháng 11 năm 1946 Quốc hội họp khóa thứ 2 đã thông qua Hiến pháp, bảo đảm các quyền tự do dân chủ cho nhân dân, trong đó có quyền tự do xuất bản: "Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản...". Kể từ đó, Đảng và Nhà nước ta luôn có những bổ sung, sửa đổi các chủ trương, đường lối QLNN đối với xuất bản nhằm phát triển kinh tế - xã hội. Hoạt động QLNN bằng pháp luật về xuất bản đã có những đổi mới đáng kể, mang lại những kết quả tích cực, đặc biệt là từ khi Luật xuất bản 1993 có hiệu lực thi hành và hiện nay là Luật xuất bản 2004. Tuy nhiên, QLNN đối với xuất bản ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế: Mô hình tổ chức và cơ chế chính sách cho hoạt động xuất bản còn nhiều bất cập, hoạt động xuất bản có những khó khăn, thách thức gay gắt, một số nhà xuất bản chỉ chú ý đến lợi ích kinh tế đơn thuần, coi nhẹ chức năng, nhiệm vụ chính trị, văn hóa; xuất hiện một số xuất bản phẩm có nội dung không lành mạnh, không phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam, bị dư luận phê phán; một bộ phận khác hoạt động kém hiệu quả, kém năng động, còn nặng về trông chờ, bao cấp. Nạn in lậu, in trái phép chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời, thị trường xuất bản phẩm chưa được quản lý chặt chẽ, hệ thống phát hành xuất bản phẩm Nhà nước không được quan tâm, củng cố đúng mức, đang có nguy cơ bị thu hẹp, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Nghị quyết Hội nghị lần thứ IX - Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã chỉ rõ: "Công tác quản lý báo chí, truyền hình, Internet, xuất bản vẫn còn nhiều lơi lỏng, kém hiệu lực". Từ những hạn chế trên đòi hỏi chúng ta phải tăng cường QLNN đối với xuất bản. Tăng cường QLNN đối với xuất bản được tiến hành trên nhiều phương diện. Pháp luật xuất bản là công cụ quan trọng nhất trong QLNN về xuất bản. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cho thấy: Bên cạnh những mặt ưu điểm, tích cực, pháp luật xuất bản còn chung chung, mang tính nguyên tắc, lạc hậu, không phù hợp với thực tiễn hoạt động xuất bản hiện nay. Văn bản pháp luật ban hành nhiều, nhưng một số quy định còn chồng chứo, khác biệt nhau;... Chính vì vậy, tăng cường QLNN bằng pháp luật về xuất bản là một đòi hỏi khách quan, vừa có ý nghĩa cấp thiết vừa mang ý nghĩa lâu dài. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: "Tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay" để nghiên cứu luận văn thạc sĩ. 2. Tình hình nghiên cứu Trong thời gian qua, số công trình nghiên cứu được công bố về quản lý xuất bản không nhiều. Hai đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ do Phân viện Báo chí và tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì tiếp cận từ góc độ quản lý chung. Đó là đề tài: "Đổi mới phương thức xuất bản sách trong điều kiện kinh tế thị trường" và đề tài: "Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước đối với hoạt động xuất bản sách ở nước ta hiện nay". Luận án phó tiến sĩ của nghiên cứu sinh Đường Vinh Sường về: "Đổi mới quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các nhà xuất bản trong bước chuyển sang cơ chế thị trường". Tiến sĩ Vũ Mạnh Chu với đề tài: "Pháp luật về xuất bản ở Việt Nam, quá trình thực hiện và đổi mới trong điều kiện cơ chế thị trường định hướng XHCN". Các công trình trên chỉ mới nghiên cứu những khía cạnh có liên quan tới QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản, mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ cả về mặt lý luận và thực tiễn về QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản. Có thể nói, luận văn này là công trình đầu tiên được nghiên cứu tương đối hệ thống và toàn diện vấn đề tăng cường QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay. Điều này chứng tỏ vấn đề đặt ra là cấp thiết, nhưng rất khó khăn và phức tạp. 3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn - Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận của việc QLNN bằng pháp luật về xuất bản, đánh giá thực trạng của hoạt động này trong những năm vừa qua ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, đưa ra những phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay. - Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được những mục đích trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ sau: + Xây dựng khái niệm và chỉ ra những đặc điểm của QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản. Phân tích vai trò, nội dung của QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay. + Đánh giá những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế cơ bản của QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam trong những năm vừa qua và chỉ ra những nguyên nhân của hạn chế đó. + Đưa ra những quan điểm có tính định hướng và một số giải pháp cụ thể như: Hoàn thiện hệ thống pháp luật về xuất bản; kiện toàn và đổi mới phương thức QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản; nâng cao trình độ năng lực của cán bộ;... Nhằm tăng cường QLNN bằng Pháp về xuất bản ở Việt Nam hiện nay. - Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động xuất bản gồm 3 lĩnh vực: Xuất bản, in; phát hành. Mỗi lĩnh vực có một vị trí, đặc trưng riêng, song không thể tách rời nhau. Bởi thế luận văn phải nghiên cứu việc QLNN bằng pháp luật trên cả ba lĩnh vực, nhưng lấy việc nghiên cứu QLNN bằng pháp luật về xuất bản, trong đó xuất bản sách là trọng tâm. Luận văn giới hạn nghiên cứu QLNN bằng pháp luật về xuất bản kể từ năm 1993 trở lại đây. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quand diểm của Đảng ta về QLNN bằng pháp luật đối với văn hóa nói chung và hoạt động xuất bản nói riêng. - Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu của triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; những phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn; phân tích và tổng hợp lịch sử cụ thể; cùng một số phương pháp khác của khoa học quản lý. 5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn Luận văn nghiên cứu toàn diện những vấn đề lý luận cơ bản của quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động xuất bản. Từ đó, luận văn xác định những nội dung cụ thể trong lĩnh vực xuất bản cần có sự QLNN bằng pháp luật. Trên cơ sở đó, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng QLNN bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay và đưa ra những đề xuất nhằm tăng cường hơn nữa việc QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động xuất bản. 6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho hoạt động nghiên cứu lý luận về QLNN bằng pháp luật về xuất bản. Có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, học tập trong hệ thống các trường chính trị. Đặc biệt, những kết quả đó có ý nghĩa góp phần tăng cường QLNN về xuất bản ở nước ta hiện nay. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương, 8 tiết. Chương 1 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay 1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay 1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản 1.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm cơ bản của quản lý nhà nước Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải nhờ vào sự hỗ trợ của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và chịu một sự quản lý nào đó. Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, có người cho rằng quản lý là hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác. Có người cho quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Người khác lại cho rằng quản lý là sự điều hành, điều khiển, chỉ huy;... Tuy nhiên, quan niệm do các nhà điều khiển học đưa ra là quan niệm được nhiều giới công nhận: Quản lý là sự tác động có định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. Quản lý xã hội là một loại hình của quản lý nói chung. Theo quan niệm này thì: Quản lý xã hội là sự tác động có định hướng (chỉ huy, điều hành, hướng dẫn...) lên các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người làm cho chúng vận động và phát triển phù hợp với quy luật, đạt được mục đích và theo ý chí của người quản lý. Trong công tác quản lý nói chung và quản lý xã hội nói riêng, dù có nội dung phức tạp đến đâu cũng luôn phải bao gồm các yếu tố cơ bản sau: Thứ nhất, yếu tố con người. Theo Các Mác: "Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội". Mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người. Do đó, đánh giá đúng về con người, hiểu được tâm lý, nguyện vọng của con người thì hoạt động quản lý mới thực hiện được quan điểm "vì con người, do con người". Thứ hai, yếu tố chính trị. Là việc một người, nhiều người, hay một cơ quan, một tổ chức đặt ra các mục tiêu, đường lối và tạo ra một môi trường chính trị nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra. Thứ ba, yếu tố quyền uy. Đó là tổng thể của quyền lực và uy tín. Quyền lực là công cụ để quản lý, nó bao gồm hệ thống pháp luật, điều lệ, kỷ luật, kỷ cương;... hoạt động theo một nguyên tắc nhất định, có sự phân công rõ ràng trên cơ sở khoa học quản lý; uy tín là phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, kiến thức, năng lực của người quản lý. Thứ tư, yếu tố thông tin. Trong công tác quản lý, thông tin là căn cứ để ra quyết định và tổ chức thực hiện quyết định có hiệu quả. Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu QLNN: "là sự tác động, tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người; duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa". QLNN có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng: QLNN là hoạt động của toàn thể bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại. Như vậy, hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp) đều là hoạt động QLNN. Theo nghĩa hẹp: QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do các cơ quan hành chính Nhà nước (còn gọi là cơ quan quản lý Nhà nước) thực hiên để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ nhà nước. Như vậy, QLNN là hình thức biểu hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đó là tính chính trị của QLNN và là quyền lợi chính trị của nhân dân. Từ khái niệm QLNN như trên chúng ta hiểu rằng không phải quản lý nào cũng là QLNN, và Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội không có nghĩa là các cơ quan QLNN điều chỉnh mọi khía cạnh của đời sống xã hội, mà chỉ điều chỉnh các khía cạnh do luật định. Với quan niệm trên, QLNN là một dạng quản lý đặc biệt, thể hiện ở các đặc trưng sau: Một là: QLNN mang tính chất quyền lực Nhà nước. QLNN được thực hiện dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơn phương đòi hỏi phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người bình đẳng, không cho phép bất cứ ai dựa vào quyền thế để làm trái với các quyết định quản lý. Đảng ta đã chỉ rõ: "Quản lý đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý. Pháp luật là thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể hiện ý chí của nhân dân, phải được thống nhất quản lý trong cả nước. Tuân theo pháp luật là chấp hành chủ trương chính sách của Đảng". Việc quản lý bằng pháp luật đòi hỏi các cơ quan, các cán bộ, công chức trong tổ chức và hoạt động điều hành phải căn cứ vào luật, phải làm theo đúng quy trình pháp luật, phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế và phải kết hợp đúng đắn giữa pháp lý và đạo lý. Muốn tăng cường pháp chế, quản lý đất nước bằng pháp luật, phải có 4 điều kiện: - Phải xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật. - Phải tuyên truyền, giáo dục pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật. - Phải tiến hành cuộc đấu tranh cương quyết, không khoan nhượng chống các hành vi vi phạm pháp luật ở bất cứ cấp nào, cương vị nào. - Phải kết hợp chặt chẽ, đồng bộ ba loại biện pháp là: hành chính, kinh tế, giáo dục. Pháp luật là công cụ quản lý của Nhà nước. Vì vậy, để QLNN đối với xã hội có hiệu quả thì pháp luật phải đúng đắn. Nghĩa là pháp luật phải xuất phát từ đường lối chính trị trong từng thời kỳ, phải phù hợp với các quy luật khách quan, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đất nước. Hai là: QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh là chủ yếu. Tổ chức là một khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ xã hội giữa con người, giữa các tập thể để thực hiện một quá trình quản lý xã hội. Tổ chức được hình thành do nhu cầu quản lý, nó phải hoạt động và hoạt động có hiệu quả. Trong QLNN chức năng tổ chức là quan trọng, vì không có tổ chức thì không quản lý được. Nhà nước phải tổ chức hợp lý để mỗi người đều có một vị trí tích cực và đóng góp đối với xã hội. Lênin đã từng viết: "Để quản lý tốt cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn" [18, tr.101]. QLNN nhằm tác động, điều chỉnh bằng pháp luật và các quyết định, quản lý dưới hình thức các quy chế, tiêu chuẩn, biện pháp;... nhằm tạo sự phù hợp giữa các chủ thể và khách thể quản lý, tạo sự cân bằng, cân đối giữa các mặt hoạt động của các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người. Ba là: QLNN mang tính khoa học, kế hoạch. Hoạt động QLNN là hoạt động mang tính chủ quan của con người, nhưng dựa trên những yêu cầu khách quan. Vì vậy, QLNN phải mang tính khoa học, chủ động, sáng tạo trong việc điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng, phát huy sức mạnh tổng hợp để tổ chức lại nền sản xuất xã hội và cuộc sống của con người trên địa bàn mình theo sự phân công, phân cấp, đúng thẩm quyền, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong QLNN được quyền năng động, sáng tạo để tổ chức thực hiện pháp luật, nhưng không trái với đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước. QLNN cũng cần phải có mục tiêu chiến lược, có chương trình, kế hoạch để thực hiện mục tiêu. Vì vậy, đòi hỏi các cơ quan QLNN phải có kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm. Có chỉ tiêu định hướng chủ yếu, có biện pháp cân đối để thực hiện chỉ tiêu, để hoàn thành có hiệu quả các chương trình mục tiêu chiến lược của nhà nước. Bốn là: Hoạt động QLNN mang tính liên tục và ổn định. Sự tác động của QLNN phải thực hiện liên tục, thường xuyên, các quyết định QLNN phải tương đối ổn định, tránh sự thay đổi quá nhanh chóng và phải được giữ gìn. Đây là một đặc điểm quan trọng thể hiện tính trách nhiệm của nhà nước đối với xã hội, với nhân dân. Nhà nước là người thay mặt cho nhân dân, là công cụ mạnh mẽ của nhân dân lao động thực hiện quyền lực chính trị. Do đó, mọi quyết định quản lý phải phù hợp với lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Chỉ như vậy và khi đạt được như vậy thì các quyết định quản lý nhà nước mới có hiệu lực và hiệu quả, mới trở thành hiện thực cuộc sống. 1.1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản Trong quá trình thực hiện quản lý, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ quản lý khác nhau. Mỗi một công cụ có vai trò, vị trí độc lập tương đối và được sử dụng phù hợp với hoàn cảnh, thời điểm nhất định của hoạt động quản lý. Hiến pháp 1992 của nước ta đã ghi nhận: "Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách..." [35, tr.22]. Như vậy Hiến pháp cũng đã công nhận có nhiều công cụ QLNN. Tuy nhiên, với những đặc thù riêng của mình, pháp luật có khả năng triển khai trên quy mô rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước một cách có hệ thống, nhanh và hiệu quả nhất. Quyền lực của Nhà nước trong quản lý xã hội đã được ghi nhận và pháp luật. Dựa trên cơ sở pháp luật, Nhà nước phát huy quyền lực, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các tổ chức, cơ quan, nhân viên nhà nước và mọi công dân. Pháp luật còn quy định nguyên tắc tổ chức, hoạt động, quyền hạn và nghĩa vụ của các cơ quan, nhân viên nhà nước, trên cơ sở đó Nhà nước tự hoàn thiện mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: "Trăm điều phải có thần linh pháp quyền" [34, tr.438]. Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng: pháp luật là công cụ quan trọng nhất của QLNN. Quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của pháp luật. Điều 12 - Hiến pháp 1992 của nước ta khẳng định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật" [35, tr.17]. Để dùng pháp luật tác động vào các quan hệ xã hội, Nhà nước phải xây dựng, ban hành ra pháp luật. Có thể nói, xây dựng pháp luật là: "mắt khâu đầu tiên của cơ chế QLNN bằng pháp luật" [22, tr.301]. Sau đó, Nhà nước phải tổ chức thực hiện pháp luật, tức là các cơ quan Nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật để điều chỉnh các quá trình xã hội, hành vi của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, của công dân... nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đề ra. Và cuối cùng, Nhà nước phải tiến hành các hoạt động bảo vệ pháp luật, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh trong đời sống, nhằm giữ gìn an ninh, trật tự xã hội. QLNN bằng pháp luật được thực hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống. Trong mỗi một lĩnh vực quản lý, Nhà nước tác động vào những nhóm quan hệ xã hội cơ bản bằng hệ thống pháp luật tương ứng. Bởi vậy, QLNN bằng pháp luật về xuất bản cũng chỉ là một nội dung của QLNN bằng pháp luật về xuất bản được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng: QLNN bằng pháp luật về xuất bản và toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật xuất bản để điều chỉnh mọi hoạt động trong lĩnh vực xuất bản, bảo đảm cho hoạt động xuất bản phát triển đúng định hướng và có hiệu quả. Cụ thể là hoạt động của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan quyền lực nhà nước; cơ quan hành chính nhà nước; cơ quan tư pháp. Đối với cơ quan quyền lực: Quốc hội ban hành các văn bản pháp luật xuất bản, như: Luật xuất bản; các nghị quyết về xuất bản. Đồng thời, dựa trên các quy định của pháp luật, Quốc hội thực hiện các hoạt động QLNN đối với xuất bản, như: thực hiện quyền quyết định, giám sát tối cao đối với hoạt động xuất bản; quyết định các kế hoạch và chính sách phát triển sự nghiệp xuất bản trong phạm vi cả nước... Đối với cơ quan hành chính: Chính phủ thống nhất QLNN về hoạt động xuất bản trong phạm vi cả nước. Để QLNN bằng pháp luật về xuất bản, Chính phủ đã ban hành các văn bản dưới luật như: Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị về xuất bản. Bộ Văn hóa - Thông tin chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện thống nhất QLNN về hoạt động xuất bản; các bộ, cơ quan ngang bộ phối với Bộ Văn hóa - Thông tin thực hiện QLNN về hoạt động xuất bản theo thẩm quyền; ủy ban cấp tỉnh thực hiện QLNN về hoạt động xuất bản tại địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ. Đối với cơ quan tư pháp: Viện kiểm sát nhân dân tham gia QLNN về xuất bản thông qua hoạt động điều tra để xử lý hành vi vi phạm pháp luật xuất bản gây hậu quả nghiêm trọng đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tòa án nhân dân xét xử các hành vi vi phạm pháp luật xuất bản đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự và các tranh chấp về quyền tác giả theo quy định của pháp luật. Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm QLNN bằng pháp luật về xuất bản như sau: - Theo nghãi rộng: QLNN bằng pháp luật về xuất bản là toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước dựa trên cơ sở pháp luật xuất bản để điều chỉnh hoạt động xuất bản, giữ gìn trật tự, kỷ cương trong hoạt động xuất bản, bảo vệ pháp luật xuất bản, nhằm đạt được các mục tiêu trong hoạt động xuất bản mà Nhà nước đã đề ra. - Theo nghĩa hẹp: QLNN bằng pháp luật về xuất bản là hoạt động của Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và các cơ quan quản lý chuyên môn về xuất bản trong việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật xuất bản (văn bản dưới luật), dựa trên cơ sở pháp luật để quản lý hoạt động xuất bản như: đăng ký kế hoạch xuất bản; nhận, đọc, kiểm tra nội dung xuất bản phẩm lưu chiểu; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp xuất bản... đồng thời thực hiện kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạmpl trong hoạt động xuất bản. Như vậy, trong QLNN bằng pháp luật về xuất bản theo nghĩa hẹp thì chủ thể quản lý hẹp hơn nhiều so với QLNN bằng pháp luật về xuất bản theo nghĩa rộng. Để nghiên cứu và đưa ra các giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật về xuất bản một cách toàn diện dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, khái niệm QLNN bằng pháp luật về xuất bản xin được hiểu theo nghĩa rộng. 1.1.2. Đặc điểm cơ bản của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay Thứ nhất, QLNN bằng pháp luật về xuất bản là mở đường cho hoạt động sáng tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học để công bố dưới hình thức xuất bản. Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ xuất bản rất đa dạng, phong phú và phức tạp. Nhu cầu về tự do, sáng tạo ra các giá trị khoa học, văn học, nghệ thuật là nhu cầu tự nhiên. Các sản phẩm sáng tạo có giá trị chỉ được thực hiện khi tư duy trong tình trạng hưng phấn cao. Mọi sự gò bó và khống chế là ngăn chặn hoạt động sáng tạo. Nhưng sự an toàn của tự do ngôn luận, của tự do tư duy sáng tạo, của bình đẳng trong việc công bố và phổ biến tác phẩm phải được bảo đảm bằng pháp luật. Đòi hỏi này bắt nguồn từ quyền con người, với tư cách là chủ thể sáng tạo và chủ thể hưởng thụ các giá trị văn hóa tinh thần. Nhà nước khẳng định các giá trị xã hội của quyền con người, nên đã ghi nhận và thể chế hóa các quyền con người, quyền công dân và bảo đảm về mặt pháp lý cho các quyền đó được thực hiện. Do được ghi nhận một cách chính thức các giá trị về quyền tự do ngôn luận, tự do nghiên cứu, sáng tác, bình đẳng trong công bố và phổ biến tác phẩm, pháp luật trở thành phương tiện để các tác giả bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, mọi sự tự do đều phải là tự do trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước ta không chấp nhận thứ tự do hỗn loạn, đặc biệt là tự do "loạn ngôn", "loạn khẩu". Công dân nói chung, văn nghệ sĩ, trí thức và những người hoạt động trong lĩnh vực xuất bản nói riêng, được giải phóng tư duy, hoàn toàn tự do sáng tạo khi điều chỉnh được hành vi của mình trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước quản lý hoạt động của tư duy sáng tạo trong xuất bản bằng pháp luật, là khuyến khích tài năng sáng tạo và đề cao các tác phẩm có giá trị về khoa học, về nghệ thuật. Chính từ cơ chế thị trường được pháp luật thừa nhận, là nơi đánh giá công minh các tác phẩm. ở đó, công chúng với tư cách là người tiêu dùng sẽ là thước đo về năng lực sáng tạo của tác giả qua tác phẩm. QLNN bằng pháp luật về văn hóa nói chung, xuất bản nói riêng là sự bác bỏ công khai và chính thức các "ông quan văn nghệ". Văn nghệ chân chính đòi hỏi sự nhìn nhận, và đánh giá tác phẩm ở thực tế khách quan của nó, không thừa nhận việc "nâng quan điểm", "nâng lập trường" bởi ý chí cá nhân. Các vi phạm pháp luật được quy kết, phải thể hiện ở tác phẩm, có viện dẫn chính xác các điều khoản của luật pháp. Như vậy, mới là tự do của pháp luật, mới khuyến khích tự do ngôn luận, tự do sáng tạo trong xuất bản. Hơn bất kỳ phương tiện nào, pháp luật là phương tiện chứa đựng trong mình nó sự kết hợp giữa năng động sáng tạo và kỷ cương kỷ luật, giữa thuyết phục và cưỡng chế, giữa tập trung và dân chủ. Chính vì vậy, nó tạo ra sự ổn định cho tự do sáng tạo, bảo vệ, kiểm soát các hoạt động tự do sáng tạo, đồng thời ngăn chặn những hành vi xâm hại tới quyền tự do sáng tạo, đồng thời ngăn chặn những hành vi xâm hại tới quyền tự do sáng tạo. Thứ hai, QLNN bằng pháp luật về xuất bản là bảo tồn, phát triển nền văn hóa dân tộc, hiện đại, nhân văn; tiếp thu tinh hoa văn hóa và tiến bộ và tiến bộ về khoa học - công nghệ của nhân loại. Văn minh của loài người được nhân loại đánh giá ở các nền văn hóa có bản sắc, ở các cuộc cách mạng khoa học đã diễn ra trong lịch sử. Mỗi dân tộc có cội nguồn, có truyền thống riêng, được phản chiếu lên tấm gương văn hóa. Nó là gia sản quá khứ, tạo nên dòng chảy cho hiện tại và tương lai dân tộc. Đảng và Nhà nước ta coi văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, việc bảo tồn, kế thừa, phát triển những giá trị trong di sản văn hóa dân tộc là quốc sách, được ghi nhận trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992. Nhà nước khuyến khích và bồi dưỡng tài năng nghiên cứu, sáng tạo ra các giá trị tinh thần mới, làm giàu vốn văn hóa dân tộc. Đồng thời, trao vào tay họ các quyền cao cả mang tính nhân văn sâu sắc trong hoạt động văn hóa nói chung, xuất bản nói riêng. Và cũng vì vậy, QLNN bằng pháp luật về xuất bản đã đưa ra các chế tài nghiêm khắc đối với những hành vi truyền bá xuất bản phẩm có nội dung trái với thuần phong mỹ tục, truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc, nhằm bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Nhu cầu giao lưu văn hóa, tiếp thu tinh hoa từ các nền văn hóa của nhân loại là nhu cầu của bản thân nền văn hóa dân tộc. Mặt khác, trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, với sự phát triển nhảy vọt của Internet, của khoa học và công nghệ, thì việc nhận thức và ứng dụng các tiến bộ mới của khoa học là đòi hỏi bức thiết. Mỗi dân tộc phải biết làm giàu bởi trí thức của nhân loại. Điều đó chỉ được thực hiện khi nhà nước trao cho các chủ thể được xác định các quyền và nghĩa vụ trong các quan hệ quốc tế về xuất bản. Như vậy, Nhà nước với công cụ hàng đầu để quản lý xã hội là pháp luật đã tạo ra cơ chế và thiết chế nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa học và công nghệ mới, tiến bộ của nhân loại. Các chủ thể xuất bản, chủ thể quản lý, với các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định, góp phần đảm bảo cho ý chí của Nhà nước được thực hiện trong thực tế về việc xây dựng một nền văn hóa mới, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, loại trừ và ngăn chặn những độc hại về văn hóa. Là phương tiện điều chỉnh có hiệu lực, pháp luật tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động văn hóa phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở ra cơ hội cho sự hòa nhập giữa các nền văn hóa, loại trừ khả năng hòa tan và đổi màu trong quá trình hòa nhập. Thứ ba, QLNN bằng pháp luật về xuất bản là quản lý thuộc lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, đồng thời là hoạt động sản xuất kinh doanh. Với thuộc tính là hoạt động văn hóa - tư tưởng, hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất bản chịu sự tác động đồng thời của hệ thống các quy luật phát triển văn hóa và hệ thống các quy luật kinh tế. Do tính chất phức tạp như vậy, nên yêu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật được đặt ra bức thiết hơn. QLNN bằng pháp luật phải mở đường cho tự do sáng tạo, đồng thời phải ngăn chặn những độc hại, tiêu cực do xuất bản gây ra đối với văn hóa, tư tưởng; phải định hướng cho xuất bản phát triển theo đúng quy luật kinh tế, ngăn ngừa những tác hại từ mặt trái của cơ chế thị trường. Trong QLNN bằng pháp luật, nếu chúng ta coi xuất bản như các tổ chức kinh tế đơn thuần sẽ dẫn đến tình trạng hoạt động xuất bản bị thương mại hóa, chỉ chạy theo lợi nhuận kinh doanh; ngược lại, nếu chúng ta chỉ đề cao vai trò của xuất bản ở phương diện văn hóa, tư tưởng sẽ dẫn đến khả năng bất chấp quy luật kinh tế. Như vậy, hoạt động xuất bản sẽ phá sản trong điều kiện kinh tế thị trường. Có thể nói, QLNN bằng pháp luật về xuất bản là quản lý hoạt động kinh tế trong văn hóa, tư tưởng, đồng thời quản lý hoạt động văn hóa, tư tưởng trong cơ chế thị trường. Đó là hai mặt của một số vấn đề phải được quản lý một cách hài hòa, đảm bảo cho xuất bản hoạt động đúng quy luật, phát triển theo trật tự của pháp luật. 1.1.3. Vai trò của quản lý nhà nước bằng pháp luật về xuất bản ở Việt Nam hiện nay Thứ nhất, triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong QLNN đối với xuất bản. QLNN bằng pháp luật luôn luôn là phương tiện triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong QLNN đối với bất kỳ lĩnh vực nào. QLNN bằng pháp luật về xuất bản triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng trong QLNN về xuất bản. Tương ứng với từng thời kỳ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước, Đảng ta có những chủ trương, đường lối trong QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản. Sau khi những chủ trương, đường lối ra đời, các văn bản pháp luật của Nhà nước sẽ thể chế hóa và ghi nhận các chủ trương, đường lối đó vào trong các chế định, các quy định pháp luật. Khi các chủ trương, đường lối của Đảng đã thể chế hóa vào pháp luật, một mặt, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện chúng trong thực tế bằng các hoạt động chuyên môn. Mặt khác, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ các quy định của pháp luật đó thông qua các hoạt động thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động xuất bản. Như vậy, các chủ trương, đường lối của Đảng trước hết được cụ thể hóa, ghi nhận vào pháp luật, rồi được tổ chức thực hiện trong thực tế, đồng thời được bảo vệ bằng các hoạt động xử lý hành vi vi phạm, những quy định pháp luật đã cụ thể hóa, những chủ trương, đường lối đó. Khi chủ trương, đường lối của Đảng thay đổi, thì hoạt động QLNN bằng pháp luật lại bắt đầu thay đổi từ khâu sửa đổi, bổ sung các văn bản, quy phạm pháp luật có liên quan, sau đó các hoạt động QLNN khác mới tiếp tục thay đổi theo. Lịch sử QLNN bằng pháp luật đối với xuất bản đã chứng minh điều đó. Liền sau khi cách mạng tháng Tám thành công, quan điểm của Đảng và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa là bảo đảm quyền tự do dân chủ cho nhân dân, trong đó có quyền tự do xuất bản. Tháng 11-1946, Quốc hội họp khóa thứ 2 đã thông qua Hiến pháp, bảo đảm quyền tự do dân chủ cho nhân dân, trong đó có quyền tự do xuất bản "công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản...". Sau cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng, củng cố miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từ đó, chế độ tự do xuất bản được thi hành rộng rãi. Để hợp thức hóa chế độ tự do xuất bản đã được thi hành trong 12 năm (1945-1957), ngày 18-6-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành sắc luật số 003/SLt về chế độ xuất bản, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự phát triển nền xuất bản Việt Nam. Từ khi có sắc luật 003/SLt, hoạt động xuất bản luôn phát triển đúng định hướng của Đảng, từng bước thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ xuất bản phẩm của nhân dân, góp phần đắc lực vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế - xã hội, để đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, hòa nhập với xu thế phát triển của thời đại, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới. Hiến pháp 1992 và các đạo luật lần lượt ra đời, thể chế hóa nghị quyết Đại hội VI. Trong không khí lập pháp đó, Luật xuất bản đầu tiên đã được Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 07-7-1993. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới, đặc biệt là tin học đã dẫn đến sự phát triển nhảy vọt trong ngành in và xuất bản với sự đa dạng của loại hình xuất bản phẩm, nhiều quan hệ xã hội mới được hình thành trong hoạt động xuất bản. Sách xấu xuất hiện và lưu hành tràn lan trên thị trường, tình trạng thương mại hóa đã trở thành xu thế trong hoạt động xuất bản, gây tác hại không nhỏ tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm và đời sống tinh thần của nhân dân. Trong khi đó các cơ quan Nhà nước liên quan buông lỏng quản lý, thiếu những biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn và lập lại trật tự. Để thể chế hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động xuất bản thể hiện trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Chỉ thị 22 của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất bản phát triển đúng định hướng chính trị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý xuất bản và chất lượng xuất bản phẩm. Bên cạnh đó, trong xu thế giao lưu và hội nhập quốc tế hiện nay, việc giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, các dân tộc là rất cần thiết. Đó là những đòi hỏi đã được đáp ứng từ việc ban hành Luật xuất bản 2004. Triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng trong QLNN về xuất bản có vai trò rất quan trọng, làm tiền đề để thực hiện các vai trò khác trong hoạt động QLNN bằng pháp luật về xuất bản. Vai trò này không được thực hiện tốt thì hoạt động QLNN về xuất bản cũng không thể triển khai tốt các vai trò khác. Để quản lý hoạt động xuất bản có hiệu quả, trước hết các chủ trương, chính sách phải phản ánh được những đòi hỏi của thực tiễn khách quan, của xu thế phát triển. Thứ hai, là phương tiện tạo lập môi trường tự do sáng tạo, bình đẳng cho các chủ thể trong hoạt động xuất bản. Với đặc trưng của lao động sáng tạo nói chung, đặc biệt là lao động sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học thì nhu cầu về tự do sáng tạo, bình đẳng trong việc công bố và phổ biến tác phẩm là một đòi hỏi khách quan. Tuy nhiên, tự do và bình đẳng trong sáng tạo phải vì lợi ích xã hội, vì lợi ích cộng đồng, không thể có tự do vượt quá giới hạn cho phép. Vì vậy, tự do và bình đẳng trong hoạt động sáng tạo, công bố và phổ biến tác phẩm là tự do trong khuôn khổ pháp luật. ở đó, các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản sẽ được làm tất cả những gì pháp luật cho phép. Pháp luật quy định những gì được phép làm đối với các cơ quan nhà nước, nhằm ngăn chặn các hành vi lạm dụng, xâm hại đến quyền tự do, bình đẳng. Đồng thời, pháp luật đề ra các nghĩa vụ tương ứng cho các chủ thể của hoạt động sáng tạo và quản lý. Đó là hành lang pháp lý, là "cái khung" do pháp luật tạo lập. Tư tưởng tự do ngôn luận của Hiến pháp Việt Nam, được thể hiện trong pháp luật xuất bản bằng chế độ không kiểm duyệt tác phẩm trước khi in là ý tưởng nhân văn sâu sắc, mở đường cho tư duy sáng tạo. Như vậy, QLNN bằng pháp luật tạo ra môi trường thuận lợi, tin cậy và chính thức cho tác giả và các tổ chức tự do sáng tạo, bình đẳng trong hoạt động xuất bản. Thứ ba, bảo vệ lợi ích hợp pháp của những người sáng tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Hoạt động sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa tinh thần được xã hội xếp vào loại lao động đặc biệt. Các quốc gia trên thế giới đều coi các sản phẩm của trí tuệ là tài sản. Vì vậy, các tác giả được bảo hộ quyền sở hữu. Berne là công ước quốc tế đầu tiên về quyền tác giả, dưới sự điều hành của tổ chức quyền sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ra đời từ năm 1886 (là tổ chức của Liên hợp quốc từ 1974) để bảo vệ quyền tác giả thuộc gần 100 nước thành viên. ở Việt Nam, pháp luật là phương tiện bảo vệ lợi ích hợp pháp của những người bằng lao động của mình đã sáng tạo ra tác phẩm. Các quy định về quyền của người sáng tạo, người quản lý và cá nghĩa vụ tương ứng phát sinh từ các quyền đó, cùng với các quy định về cơ chế đảm bảo thực hiện, là cơ sở pháp lý cho việc bảo hộ quyền sở hữu tác phẩm. Các tác giả được Nhà nước tạo phương tiện để đấu tranh bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Các tranh chấp về quyền tác giả, các hành vi xâm hại lợi ích vật chất và tinh thần của tác giả được xét xử tại Tòa án dân sự. Như vậy, thông qua việc bảo hộ quyền tác giả, Nhà nước tiếp tục khuyến khích năng lực sáng tạo của văn nghệ sĩ, trí thức để có nhiều sản phẩm văn hóa tinh thần có giá trị phục vụ xã hội. Thứ tư, QLNN bằng pháp luật về xuất bản chống thương mại hóa xuất bản, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng xuất bản phẩm. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, hoạt động xuất bản đã khởi sắc và có một diện mạo mới, phục vụ tốt đời sống tinh thần của nhân dân với những xuất bản phẩm phong phú về nội dung và hình thức. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường đã thúc ép các chủ thể xuất bản chỉ chú ý tới các xuất bản phẩm có khả năng thanh toán, đẩy hoạt động xuất bản tìm kiếm các khả năng thanh toán có lợi nhuận cao, không lường đến hậu quả chính trị, xã hội có thể xảy ra. QLNN bằng pháp luật về xuất bản là phải hạn chế đến mức tối đa các hoạt động xuất bản chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần, đặc biệt là phải ngăn chặn xu hướng thương mại hóa hoạt động xuất bản. Nếu chúng ta quản lý tốt hoạt động xuất bản, ngăn chặn được xu hướng thương mại hóa sẽ bảo vệ được lợi ích của người tiêu dùng xuất bản phẩm. Họ được hưởng thụ các xuất bản phẩm có chất lượng cao trong nội dung và hình thức. Như vậy, pháp luật phải quy định cụ thể, rõ ràng các tiêu chuẩn về nội dung kỹ thuật, mỹ thuật của xuất bản phẩm. Riêng nội dung, phải có những điều khoản cấm đoán nhằm ngăn chặn những xuất bản phẩm độc hại, không có lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội... Thứ năm, góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội trong quá trình phát triển đất nước. Hoạt động xuất bản là lĩnh vực rất nhạy cảm về mặt chính trị, xã hội, là phương tiện lợi hại trong cuộc đấu tranh giai cấp. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc đảm bảo nội dung xuất bản phẩm lành mạnh, phù hợp với pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam là rất cần thiết. Các sản phẩm văn hóa nói chung, xuất bản nói riêng thuộc hàng hóa công cộng, được mọi tầng lớp nhân dân tiêu dùng, nó tác động trực tiếp đến ý thức, tình cảm, suy nghĩ của từng người dân. Vì vậy, bằng những xuất bản phẩm của mình, hoạt động xuất bản chuyển tải tới công chúng các ý tưởng cao cả của giai cấp, về việc xây dựng một xã hội tương lai với một bộ máy chính quyền vững mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và thịnh vượng. Thông tin và giải đáp kịp thời các vấn đề quốc gia và quốc tế. Như vậy, hoạt động xuất bản đã góp phần giữ vững ổn định chính trị và trật tự xã hội trong quá trình phát triển đất nước. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của xuất bản, Luật xuất bản 2004 đã đề ra những chính sách cụ thể, như: Chính sách đặt hàng; trợ cước vận chuyển; mua bản thảo những tác phẩm có giá trị... Tất cả những chính sách đó nhằm đảm bảo cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu được mọi chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng một đất nước Việt Nam phồn thịnh, hòa bình, ổn định. Thứ sáu, góp phần thúc đẩy quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế. Thực hiện chính sách mở cửa hội nhập và hợp tác quốc tế với phương châm: Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước, Việt Nam đã thiét lập quan hệ với nhiều nước, vùng lãnh thổ và tổ chức trên thế giới. Để quá trình hợp tác, hội nhập quốc tế diễn ra thuận lợi, đạt mục đích đặt ra một cách tốt nhất, hai bên đều phải tìm hiểu truyền thống văn hóa, mọi lĩnh vực đời so óng xã hội của nhau
- Xem thêm -