Tâm sự Nguyễn Du qua thơ chữ Hán

  • Số trang: 66 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 51 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

Phần 1: Phần mở đầu 1.Lí do chọn đề tài 2.Lịch sử vấn đề 3.Mục đích, yêu cầu 4.Phạm vi nghiên cứu 5.Phương pháp nghiên cứu Phần 2: Phần nội dung Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1.Giới thiệu Nguyễn Du 1.1.1.Cuộc đời 1.1.2.Sự nghiệp 1.2. Khái quát nội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán của Nguyễn Du 1.2.1. Khái quát nội dung 1.2.2. Khái quát nghệ thuật 1.3. Những sự kiện ảnh hưởng đến cuộc đời và tâm sự của Nguyễn Du 1.3.1. Sự kiện lịch sử 1.3.2. Sự kiện xã hội Chương 2 NHỮNG NỖI NIỀM RIÊNG CỦA NGUYỄN DU QUA THƠ CHỮ HÁN 2.1. Nỗi buồn cô đơn, nhớ nhà của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán 2.1.1. Nỗi buồn cô đơn 2.1.2. Nỗi buồn nhớ nhà 2.2. Chán ngán lợi danh và thất vọng trước hiện thực quan trường của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán. 2.2.1. Chán ngán lợi danh 2.2.2. Thất vọng trước hiện thực quan trường 2.3. Ước nguyện được sống an nhàn và chí nguyện muốn dấn thân của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán. 2.3.1. Ước nguyện được sống an nhàn 2.3.2. Chí nguyện muốn dấn thân Chương 3 NHỮNG BĂN KHOĂN VỀ SỐ PHẬN CON NGƯỜI VÀ TRIẾT LUẬN VỀ CUỘC ĐỜI CỦA NGUYỄN DU QUA THƠ CHỮ HÁN 3.1. Những băn khoăn về số phận con người của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán 3.1.1. Đối với những người tài hoa bạc mệnh 3.1.2. Đối với người nghèo khổ tha hương 3.1.3.Đối với những kẻ xấu xa, bạc ác 3.2. Những triết luận về cuộc đời của Nguyễn Du qua thơ chữ Hán 3.2.1. Triết luận về thời thế 3.2.2. Triết luận về nhân sinh Phần 3: Phần kết luận Mục lục Tài liệu tham khảo Nhận xét của giáo viên PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài Nguyễn Du là một nhà thơ lớn của dân tộc, nhắc đến Nguyễn Du ta thường nghĩ đến kiệt tác “ Truyện Kiều ”, nhưng ngoài những vần thơ Nôm tuyệt vời còn có những áng thơ chữ Hán mượt mà, sâu sắc và nhiều ý nghĩa. Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du để thêm hiểu vị đại thi hào dân tộc, đó là một tâm hồn trĩu nặng, một tâm tư thầm kín, một điều gì khó nói ra, khó bày tỏ cùng ai nên thi sĩ đã gởi lòng mình vào những trang thơ chữ Hán. Tìm hiểu “Tâm sự Nguyễn Du qua thơ chữ Hán”, với mong muốn sẽ biết được những tâm tư trăn trở và những phiền muộn ẩn kín trong lòng của nhà thơ. Nghiên cứu “Tâm sự Nguyễn Du qua thơ chữ Hán” để có thể hiểu sâu về những nỗi niềm riêng của tác giả, đó là nỗi buồn cô đơn, nỗi lòng thương nhớ quê hương của kẻ lữ khách, để biết được nỗi sầu đau của Nguyễn Du trước vòng danh lợi bon chen, trước cuộc sống quan trường đầy nguy hiểm. Ngoài ra còn để thấy rỏ tấm lòng nhân ái của thi sĩ đối với những số phận khổ đau trong cuộc đời và những triết lí về cuộc sống vô cùng sâu sắc. Tìm hiểu “Tâm sự Nguyễn Du qua thơ chữ Hán” là một đề tài thú vị, giúp chúng tôi mở mang thêm vốn kiến thức của mình về thiên tài văn học Nguyễn Du, có thể giúp ích cho công việc nghiên cứu về sau. Chúng tôi có thể dễ dàng nghiên cứu các khía cạnh khác trong các tập thơ chữ Hán này khi đã nắm bắt được nội dung vấn đề, ngoài ra khi tìm hiểu về tâm sự của nhà thơ chúng tôi mong muốn đóng góp công sức của mình vào tìm hiểu một cây bút lớn của dân tộc. 2.lịch sử vấn đề Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là một tòa lâu đài thứ hai của tác giả sau Truyện Kiều, bởi thế từ trước tới nay đã có không ít nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về những vần thơ này với nhiều khía cạnh khác nhau: 2.1.Nghiên cứu bản dịch thơ Có nhiều bản dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du như: 1. Công trình “Thơ chữ Hán Nguyễn Du”. Bùi Kỷ - Phan Vỏ - Nguyễn Khắc Hanh dịch, Nhà xuất bản văn hóa Hà Nội, 1959. Các tác giả sưu tầm được 102 bài. Các tác giả chia 102 bài thơ theo ba thời kỳ: - Thời kỳ nhà Lê gồm 28 bài. - Thời kỳ làm quan triều Nguyễn gồm 24 bài. - Thời kỳ đi sứ Trung Quốc gồm 50 bài. 2.Công trình “Thơ chữ Hán Nguyễn Du”. Lê Thước- Trương Chính dịch, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1965. Bản dịch gồm 249 bài. Các tác giả chia các bài thơ thành ba tập: - Thanh Hiên thi tập gồm 78 bài. - Nam Trung tạp ngâm gồm 40 bài. - Bắc Hành tạp lục gồm 131 bài. Riêng tập Thanh Hiên được chia làm ba giai đoạn: - Mười năm gió bụi (1786- 1795) gồm 27 bài. - Dưới chân núi Hồng (1796- 1802) gồm 33 bài. - Làm quan ở Bắc Hà (1802- 1804) gồm 18 bài. 3.Công trình “Tố Như Thi trích dịch”. Quách Tấn dịch, Nhà xuất bản An Tiêm, Sài Gòn, 1973. Bản dịch gồm 72 bài. Tác giả chia thành ba tập thơ: - Thanh Hiên thi tập 30 bài. - Nam Trung thi tập 20 bài. - Bắc Hành tạp lục 22 bài. Riêng tập Thanh Hiên tác giả chia ra ba thời kỳ: - Mười năm đất khách (1786- 1975). - Sáu năm quê nhà (1796- 1802). - Làm quan Bắc Hà (1802- 1804). 4.Công trình “Thơ chữ Hán Nguyễn Du”. Đào Duy Anh dịch. Nhà xuất bản Văn học Hà Nội, 1988. 249 bài. Tác giả chia thơ thành ba tập: - Tập Thanh Hiên thi tập gồm 79 bài. - Tập Nam Trung tạp ngâm gồm 40 bài. - Tập Bắc Hành tạp lục gồm 130 bài. 5.Công trình “Nguyễn Du toàn tập”. Mai Quốc Liên dịch với sự cộng tác của Nguyễn Quảng Tuân - Ngô Linh Ngọc - Lê Thu Yến, Nhà xuất bản Văn học trung tâm nghiên cứu quốc học, 1996. 250 bài thơ chữ Hán trong tập 1. Các tác giả chia thành ba tập thơ: - Thanh Hiên thi tập gồm 78 bài. - Nam Trung tạp ngâm gồm 40 bài. - Bắc Hành tạp lục gồm 132 bài ( trong tập Bắc Hành có thêm một bài do ông Mai Quốc Liên phát hiện, đó là bài “ Lỗi Dương Đỗ Thiếu Lăng mộ 2”). Vấn đề dịch thơ chữ Hán Nguyễn Du còn có nhiều nhà nghiên cứu phiên âm dịch nghĩa, nhưng chúng tôi chỉ xin kể một số công trình ở trên, qua một số công trình trên chúng ta cũng đã có thể có cái nhìn bao quát về thơ chữ Hán Nguyễn Du. 2.2. Nghiên cứu nội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du Quyển “Đặc điểm thơ chữ Hán Nguyễn Du” [20] đã nêu lên nhiều đặc điểm nghệ thuật về không gian, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ,... trong thơ chữ Hán Nguyễn Du. Đây là một đóng góp có ý nghĩa trong việc nghiên cứu văn chương chữ Hán Nguyễn Du. Quyển “Viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều” [16]. Tác giả Nguyễn Trí Tích có viết nỗi lòng Nguyễn Du qua thi ca Hán văn như sau: “ Nguyễn Du tiên sinh đã để lại cho hậu thế sự nghiệp thi ca chữ Hán rất đồ sộ, trong đó là nỗi niềm tâm sự, là bản ngã xuất phát từ tâm hồn thi ca vĩ đại của thi nhân, mà người ta đã coi như nhật ký ghi lại những kỷ niệm thăng trầm trong suốt cuộc đời Nguyễn Du”. [tr 559] Quyển “Đến với thơ chữ Hán Nguyễn Du” [2] có bài: “ Thơ chữ Hán Nguyễn Du và tâm sự của nhà thơ”, tác giả Nguyễn Lộc đã nhận định: “ Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, một ấn tượng sâu sắc để lại cho người đọc là thơ rất buồn. Lúc nào cũng buồn...Buồn thương như một tiếng đàn réo rắt, não ruột vang lên trong hầu hết thi phẩm của ông.” [tr. 129]. Ngoài ra công trình còn giới thiệu các bài viết: “ con người Nguyễn Du trong thơ chữ Hán ” của Xuân Diệu, hay bài “ Đôi nét về Nguyễn Du qua ba tập thơ chữ Hán lưu thế ” của Quách Tấn, bài “ Nguyễn Du - trên đỉnh cao thơ chữ Hán” của Mai Quốc Liên, bài “Nguyễn Du qua thơ chữ Hán” của Hà Minh Đức...các tác giả cũng có nói qua tâm sự của đại thi hào Nguyễn Du trong thơ chữ Hán nhưng chỉ mang tính sơ lược, đó là nỗi niềm của Nguyễn Du khi xa quê, bàn về thái độ của nhà thơ đối với các triều đại, và cũng nói đến những năm tháng nghèo khó bệnh tật của thi sĩ cũng như những tháng ngày làm quan bị chèn ép, và nỗi lòng nhà thơ trước những kiếp đời bất hạnh… Tóm lại những vần thơ chữ Hán của Nguyễn Du luôn là một bức tranh muôn màu mà các nhà nghiên cứu vẫn đang khám phá, “Tâm sự Nguyễn Du qua thơ chữ Hán” cũng là một đề tài hấp dẫn trong giới nghiên cứu văn học, nên sẽ còn có những công trình nghiên cứu về thơ chữ Hán Nguyễn Du. 3.Mục đích yêu cầu Tìm hiểu “ Tâm sự Nguyễn Du qua thơ chữ Hán” là tìm ra những trăn trở băn khoăn của tác giả về các vấn đề của cuộc đời, tìm hiểu những suy nghĩ của nhà thơ qua các vần thơ chữ Hán để phục vụ cho các đề tài nghiên cứu sau này hoặc có thể sử dụng làm tư liệu giảng dạy ở các trường trung học phổ thông. Chúng tôi tìm hiểu “ Tâm sự Nguyễn Du qua thơ chữ Hán” nhằm làm rõ những nỗi niềm riêng của nhà thơ trước cuộc đời, làm sáng tỏ những tâm tư, những băn khoăn của Nguyễn Du về kiếp nhân sinh, tìm hiểu những triết lí sâu sắc giàu ý nghĩa của ông được bày tỏ qua thơ. Chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ nghiên cứu thơ chữ Hán Nguyễn Du để có thể giúp chúng ta hiểu về thơ chữ Hán Nguyễn Du một cách bao quát để từ đây có cái nhìn toàn diện về sự nghiệp văn chương Nguyễn Du. 4.Phạm vi nghiên cứu Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi sẽ khảo sát tâm sự Nguyễn Du qua ba tập thơ chữ Hán thông qua bản dịch của Mai Quốc Liên [13], để hiểu rõ hơn về những băn khoăn và triết luận về cuộc đời Nguyễn Du. Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm một số tài liệu khác có liên quan như: phê bình văn học, lý luận văn học, lịch sử văn học… Chúng tôi tìm hiểu “Tâm sự Nguyễn Du qua thơ chữ Hán” chủ yếu xoáy sâu vào phần nội dung dựa trên văn bản dịch thơ, nghiên cứu từ khía cạnh tìm hiểu những nỗi niềm riêng của nhà thơ được bày tỏ qua thơ chữ Hán, và những băn khoăn về số phận con người, những triết luận về cuộc đời của thi sĩ thể hiện qua thơ. Phần nghiên cứu chủ yếu dựa trên bản dịch nên giá trị nghệ thuật thơ chữ Hán của Nguyễn Du chưa được phân tích kỹ trong luận văn. 5.Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu “Tâm sự Nguyễn Du qua thơ chữ Hán” chúng tôi sử dụng các phương pháp: Phân tích các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du để tìm ra nội dung bài thơ từ đó suy luận ra tâm sự của tác giả. Trích dẫn, bình luận các câu thơ để chứng minh tâm sự của Nguyễn Du được gửi gắm trong thơ. Tổng hợp các luận điểm nhỏ để khái quát lên tâm sự của tác giả. PHẦN 2: PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1.1. Giới thiệu Nguyễn Du 1.1.1.Cuộc đời Nguyễn Du sinh ngày 3 - 1 - 1766, tại phường Bích Câu, Thăng Long (nay thuộc Hà Nội). Tên húy là Du, tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên. Quê quán: Làng Tiên Điền (nay là xã Xuân Tiên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.) Nguyễn Du thuộc một gia đình đại quý tộc có thế lực vào bậc nhất thời bấy giờ. Dòng họ Nguyễn Tiên Điền của ông là một dòng họ nổi tiếng về tước vị và văn chương. Dân gian địa phương thường truyền tụng câu ca dao: “Bao giờ ngàn Hống hết cây Sông Rum hết nước họ này hết quan” Cha: Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775), đỗ hoàng giáp, làm quan đến chức thị tham tụng ở phủ Chúa, tương đương với chức tể tướng, có nghiên cứu sử học và làm thơ. Ông Nghiễm có cả thảy tám vợ và 21 người con (12 trai, 9 gái). Nguyễn Du là con thứ ba bà Tần, nhưng kể về con trai thì vào hàng thứ bảy, nên còn được gọi là cậu Chiêu Bảy. Mẹ: Trần Thị Tần (1740 - 1778), kém chồng 32 tuổi, bà là con gái một vị quan nhỏ, coi việc kế toán, người làng Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc, nay là huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, bà Tần là vợ thứ ba trong tám người vợ của Nguyễn Nghiễm. Bà sinh được năm con, bốn trai và một gái. Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa của sự giàu sang quyền quý. Nhưng thời thế đổi thay cuộc sống này kéo dài không quá mười năm. Vì mười tuổi đã mồ côi cha, năm mười ba tuổi mồ côi mẹ, các anh em cùng mẹ chưa ai đến tuổi trưởng thành nên ông và các anh em ruột phải đến sống với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản. Lúc này, Nguyễn Khản đang làm Tả thị lang bộ Hình kiêm Hiệp trấn xứ Sơn tây nhưng sau đó vì liên can đến việc ủng hộ Trịnh Tông nên bị cách chức và bị giam giữ. Khi Trịnh Tông lên ngôi chúa, Nguyễn Khản lại được trọng dụng. Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài) ở trường Sơn Nam, sau đó không rõ vì lẽ gì không đi thi nữa. Về sau ông giữ chức Chánh thủ hiệu Thái Nguyên kế chân của người cha nuôi. Năm 1784 kiêu binh nổi dậy, kéo đến phá nhà Khản. Khản cải trang trốn lên sơn tây và anh em Khản sau đó bỏ về quê Tiên Điền. Năm 1786, Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà. Năm 1787 Tây Sơn ra Bắc Hà lần hai. Chiêu Thống xin cầu viện quân Thanh, Nguyễn Du đi theo nhà vua nhưng không kịp nên trở về quê vợ ở Thái Bình. Năm 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi vua hiệu Quang Trung. Nguyễn Huệ ra Bắc lần ba để chống Thanh cứu nước Năm 1789, Quang Trung đại thắng quân xâm lược nhà Thanh ở Đống Đa. Lê Chiêu Thống cùng gia quyến chạy sang Trung Quốc, Nguyễn Du theo vua nhưng không kịp, đành trở về quê vợ ở Quỳnh Côi, Thái Bình. Ông sống nhờ nhà người anh vợ là danh sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn khi ấy đã ra cộng tác với Tây Sơn. Năm 1796 Nguyễn Du về Tiên Điền kết thúc “ mười năm gió bụi”, mùa Đông năm ấy nghe tin ở Gia Định, chúa Nguyễn Ánh (1762 - 1819) đang hoạt động mạnh, ông định vào theo, việc tiết lộ bị quân Tây Sơn do tướng Nguyễn Thận chỉ huy, bắt giam mười tuần. Sau đó ông về Tiên Điền sống một thời gian dài. Năm 1802 triều Tây Sơn mất, Nguyễn Ánh lên ngôi vua hiệu Gia Long. Nguyễn Du được gọi ra làm quan cho nhà Nguyễn. Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện Phù Dung (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên). Tháng 11 cùng năm, đổi làm Tri phủ Thường Tín (Hà Tây, nay thuộc Hà Nội). Kể từ đó, Nguyễn Du lần lượt đảm đương các chức việc sau: Năm 1803: đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc. Năm 1804 Nguyễn Du xin từ chức về quê, lấy cớ là bị bệnh Năm 1805: thăng hàm Đông Các điện học sĩ. Năm 1807: làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương. Năm 1809: làm Cai bạ dinh Quảng Bình. Năm 1813: thăng Cần chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc. Năm 1815 được đặt cách thăng Hữu Tham tri bộ Lễ Năm 1819 Nguyễn Du được cử làm Đề điệu trường thi Quảng Nam Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng (1791 - 1840) lên ngôi, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, ông chuẩn bị lên đường thì dịch bệnh hoành hành. Nguyễn Du nhuốm bệnh rồi mất ngày mồng mười tháng tám âm lịch năm ấy, tức ngày 16 tháng 9 năm 1820. Lúc đầu (1820), Nguyễn Du được táng ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Bốn năm sau mới cải táng về Tiên Điền (Hà Tĩnh) Nguyễn Du có ba người vợ, mười hai con trai và sáu người con gái. Sinh thời Nguyễn Du là người học sâu, hiểu rộng, am tường cả Nho, Lão, Phật; đọc cả văn chương cổ kim của ta và cả Trung Quốc. Ông là bậc tài hoa, từng sống một cuộc đời phong lưu khi học ở Thăng Long. Những năm trôi giạt, từng trải, nổi chìm nơi đất Bắc ông cảm thông sâu sắc với mọi cảnh ngộ éo le, khổ cực của kiếp nhân sinh. 1.1.2. Sự nghiệp văn chương Nhà đại thi hào Nguyễn Du đã để lại cho dân tộc một sự nghiệp văn chương vĩ đại bao gồm các tác phẩm sau: 1.1.2.1.Tác phẩm bằng chữ Nôm Đoạn trường tân thanh ( còn gọi là Truyện Kiều ): được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái có tài sắc nhưng số phận lại bất hạnh. Về thời gian sáng tác: theo Đại Nam chính biên liệt truyện, truyện được viết ra sau khi ông đi xứ nhà Thanh về và theo lời Phạm Quý Thích đã cho khắc in vào khoảng từ năm 1820 đến năm 1825, thường được gọi là “bản Kinh”. Bản khắc in đó nay không còn nữa nhưng còn lưu lại những phiên bản di dịch ít nhiều. Ngoài “ bản Kinh” do Phạm Quý Thích ( 1760 - 1825) cho khắc in, một số dị bản nữa được in sau đó ở Hà Nội do các nhà in phát hành, thường gọi là “ bản Phường”. Văn chiêu hồn thập loại chúng sinh (tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa: Văn tế mười loại chúng sinh). “Văn chiêu hồn thập loại chúng sinh là tấm gương phản chiếu tất cả kinh nghiệm bản thân của tác giả suốt thời kỳ Lê mạt- Nguyễn sơ, là thời kỳ loạn ly đã diễn ra trong xã hội ta tất cả những cảnh thê thảm mà tác giả đã cực tả trong văn chiêu hồn thập loại chúng sinh một cách sinh động và chân thực. Và qua đây, Nguyễn Du cũng muốn làm sáng tỏ thêm tín ngưỡng tôn giáo của ông. Có thể nhân một mùa dịch khủng khiếp, “ chúng sinh” cứ kế tiếp nhau lìa đời, tiếng chuông chùa cầu siêu ngân dài như tiếng vọng của âm ty mà tác giả hàng ngày đã chứng kiến, xúc động mà viết ra áng văn tuyệt tác này để người ta đọc khi làm lễ cầu siêu, “vong nhân xá tội” thập loại chúng sinh.”[5, tr.460] Thác lời trai phường nón: được sáng tác khoảng năm 1780 - 1783 lúc Nguyễn Du 16 - 19 tuổi. Đây là lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải, là bức thư tình chan chứa tình cảm làm theo thể thơ lục bát Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu: được sáng tác vào khoảng năm 1796 1802, viết theo lối văn tế có tính chất đùa cợt khi nhà thơ nghe tin hai cô gái từng quen thân với mình trong dịp hát ví đầu năm này đã đi lấy chồng. Hai bài này được sáng tác khoảng thời gian Nguyễn Du về sống ở Tiên Điền thỉnh thoảng có sang Trường Lưu hát phường vải. 1.1.2.2.Tác phẩm bằng chữ Hán Tính đến nay giới chuyên môn đã sưu tập được 250 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, được chia ra như sau: Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong thời gian Nguyễn Du về sống ở quê vợ Quỳnh Côi, Sơn Nam lánh nạn Tây Sơn cho đến những năm đầu ra làm quan với triều Nguyễn ở Bắc Hà khoảng năm 1786 - 1804. Nam trung tạp ngâm gồm 40 bài, viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh cho đến lúc đi sứ Trung Quốc khoảng năm 1805 - 1812. Bắc hành tạp lục làm trong lúc đi sứ Trung Quốc gồm 132 bài thơ vào khoảng năm 1813. Thơ chữ Hán của Nguyễn Du thể hiện tư tưởng, hoài niệm của nhà thơ trước cuộc đời đồng thời là nơi nhà thơ gửi gắm tâm sự, nên trong những tập thơ chữ Hán luôn mang một nỗi buồn như vô tận, một nỗi lòng của một nhân cách cao đẹp khó bày tỏ với người đời. Trong thơ là sự suy ngẫm về cuộc đời của tác giả, là sự buồn đau day dứt trước thế thái nhân tình, là bức tranh xã hội đương thời được vẽ lên thông qua sự quan sát của nhà thơ đó là một xã hội phong kiến đen tối chà đạp lên quyền sống con người đáng để phê phán, và là sự cảm thông của tác giả trước những thân phận nhỏ bé dưới đáy xã hội, bị đọa đày hắt hủi, những vần thơ còn là sự ngợi ca, đồng cảm với những nhân cách cao thượng của tác giả. Những tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã góp một phần quan trọng cho nền văn học chữ Hán của nước nhà, tuy những vần thơ chữ Hán này không rực rỡ bằng kiệt tác truyện thơ Nôm (Truyện Kiều) của tác giả nhưng nó cũng góp thêm một bước tiến cao hơn so với văn học chữ Hán của các giai đoạn trước. Thơ chữ Hán nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX có khối lượng rất nhiều với những tác phẩm có giá trị cao như “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn, những vần thơ chữ Hán của Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu,…và không thể không nhắc đến ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du, giai đoạn này văn xuôi chữ Hán phát triển mạnh hơn thơ chữ Hán vì thế sự ra đời ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã đóng góp rất nhiều cho mảng thơ chữ Hán, với chất liệu hiện thực nội dung bám sát cuộc sống những vần thơ chữ Hán mang một giá trị lớn đối với nền văn học trung đại Việt Nam. Khi tìm hiểu về Nguyễn Du phần lớn các nhà nghiên cứu chú ý đến Truyện Kiều dẫu rằng tác giả chỉ xem đó là “ lời quê góp nhặt” để mua vui một vài trống canh cho thiên hạ! mà lại ít chú ý đến những tập thơ chữ Hán của ông đều này thật bất ổn, bởi những vần thơ chữ Hán góp phần không nhỏ trong sự nghiệp văn chương của nhà thơ, đây là những vần thơ đầy tâm huyết của tác giả, là những lời tâm sự được bộc bạch qua thơ, những tâm sự nặng trĩu của chính cuộc đời tác giả, là bức tranh xã hội đương thời rõ nét, nên nó đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Du, do đó nếu tìm hiểu về Nguyễn Du mà chỉ tìm hiểu truyện thơ Nôm của tác giả mà lại bỏ qua những tập thơ chữ Hán thì chỉ hiểu được một nửa Nguyễn Du. 1.2. Khái quát nội dung và nghệ thuật thơ chữ Hán Nguyễn Du 1.2.1. Khái quát nội dung Tìm hiểu về ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du ta thấy trong ba tập thơ chủ yếu là sự gởi gắm tâm sự, là thái độ sống của nhà thơ trước thời cuộc là nỗi buồn thương trước cuộc đời. “ Thanh Hiên thi tập”: là tiếng thở than của nhà thơ về cuộc sống lận đận, nổi trôi, vô vọng giữa thời loạn lạc, là lời oán trách của người chí cao mộng lớn nhưng thời vận lỡ làng, số phận long đong. Những bài thơ được sáng tác lúc ra làm quan cũng không bộc lộ niềm vui nào. Trong thời gian này mặc dù Nguyễn Du với tư tưởng trung quân, có ý chống Tây Sơn nhưng không thấy bài thơ nào đả kích Tây Sơn cả. “ Nam Trung tạp ngâm”: với giọng thơ vẫn buồn bã không lối thoát, một số bài có ý mỉa mai bọn quan lại chèn ép nhau, thể hiện một cuộc sống tù túng gò bó của ông lúc làm quan với triều Nguyễn, là lời than thế thái nhân tình trên bước quan trường lắm gian nan, là triết lí về cuộc đời đầy rẫy khổ đau. “Bắc hành tạp lục”: thể hiện cái nhìn bao quát của nhà thơ về thế thái nhân tình trên đường đi sứ ở đất Trung Quốc, là tư tưởng và sự suy ngẫm của nhà thơ trước cuộc đời, là tâm hồn đồng cảm với những thân phận bất hạnh, đau khổ của kiếp người lênh đênh, trôi nổi. Nhận xét của Quách Tấn về ba tập thơ chữ Hán của Nguyễn Du rất sâu sắc: “Thơ trong Nam Trung Tạp Ngâm cũng như trong Thanh Hiên Thi Tập, đều là những khúc tiêu tao.Nhưng Thanh Hiên thì chan chứa buồn thương, còn Nam Trung thì ngấm ngầm sầu hận…Lời thơ trong Bắc Hành Tạp Lục bớt phần não ruột.Bớt phần não nuột nhưng thêm phần chua cay.”[2/ tr34]. 1.2.2. Khái quát về nghệ thuật Những bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du là những lời tâm sự tha thiết, buồn thương của tác giả, một con người tài hoa nhưng số phận lênh đênh, trôi nỗi bởi thời cuộc, nên thơ ông đậm chất trữ tình và giàu hình tượng. Ta thấy các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du mang nhiều hình tượng nghệ thuật về con người đó là con người lãng mạn, con người lo âu, con người đau khổ... Sống trong bối cảnh đất nước nhiều đổi thay của các triều đại, Nguyễn Du cũng muốn mình trở thành một người hùng của dân tộc để có thể gánh vác gánh nặng của núi sông nhưng trí lớn thì có thừa mà sức lực thì lại không cho phép nên nhà thơ chỉ còn biết hóa anh hùng vào trong thơ, vì thế thơ Nguyễn Du mang đậm chất hùng. Nếu trong Truyện Kiều có vị anh hùng Từ Hải hiên ngang “ Vai năm thước rộng, thân mười thước cao” thì trong những vần thơ chữ Hán cũng có những con người như thế. Con người trong thơ có lúc là tráng sĩ, tay mang gươm hiên ngang trước núi sông: “Yêu gian trường kiếm quải thanh phong” ( Kiếm dài đeo lưng trước gió thu) (ký hữu) hoặc: “ Tằng lăng trường kiếm ỷ thanh thiên” ( Kiếm dài ngạo nghễ hiên ngang như tựa trời xanh) ( Khất thực) Chí bình sinh là như thế nhưng cuộc đời không bằng phẳng như những gì ta nghĩ, Nguyễn Du không thể thực hiện được chí nguyện ấy nên luôn buồn đau, sầu khổ và con người thất chí trong thơ muốn lao vào hưởng lạc để mong có thể sẽ quên được tất cả buồn đau của kiếp phong trần. Con người lãng mạn trong thơ Nguyễn Du bắt đầu tìm đến men rượu để quên phiền muộn, con người ấy còn muốn lạc vào cỏi mộng phiêu diêu cùng mây gió, làm bạn cùng trăng sao: “ Bách kỳ đản đắc chung triêu túy” (Cuộc đời trăm năm chỉ ước được say suốt ngày) ( Đối tửu) Hoặc: “ Khuyến quân ẩm tửu thả vi hoan Tây song nhật lạc thiên tương mộ” (Khuyên anh uống rượu rồi vui chơi Mặt trời đang lặn ở cửa sổ phía Tây, trời sắp tối) (Hành lạc từ 2) Nói thì nói thế nhưng thật ra con người này không hẳn là lao vào hưởng lạc để tận hưởng cuộc đời mà suy cho cùng đây là con người bế tắc không tìm được lối thoát nên đang cố tìm những cuộc vui bình thường để cố lừa dối bản thân mình, nhưng rượu say rồi sẽ tỉnh, qua đêm giấc mộng sẽ tan, nên con người lãng mạn của Nguyễn Du vẫn buồn thương, sầu hận và mang nhiều âu lo. Con người trong thơ Nguyễn Du mang nhiều nỗi âu lo: Lo đói nghèo, lo bệnh tật, lo thế thái nhân tình... “ phàm nhân nguyện tử bất nguyện bần” ( Phàm người ta thà muốn chết, không ai muốn nghèo.) (Thái Bình mại ca giả) Con người bệnh tật xuất hiện nhiều và trở thành nổi lo khiếp sợ đối với tác giả. Trong thơ bệnh được nhắc đến khá nhiều như là một điều gì luôn ám ảnh lo lắng: Bệnh cũ (U cư 2), bệnh không thuốc (Mạn hứng 1), bệnh lâu ngày (Xuân dạ), nằm bệnh(Thu dạ 2), bệnh tái phát (Khai song)... con người cứ lo sầu rồi bệnh một căn bệnh khó tìm được phương thuốc chữa trị, nên vẫn mãi lo âu buồn chán. Bệnh tật, đói nghèo, sự hữu hạn của kiếp người, sự bất lực trước thời cuộc làm cho con người trong thơ Nguyễn Du luôn dằn dặt khổ đau, đó là nổi đau thời thế, đau xót cho người, cho mình: “ Thương tâm vãng sự lệ triêm y” ( Đau lòng việc cũ nước mắt thấm áo) ( Long Thành cầm giả ca) Con người trong thơ Nguyễn Du là như thế một con người bế tắc tuyệt vọng, đau khổ nên thời gian trong thơ ông cũng ít hướng về tương lai, bởi có lẽ trong tương lai con người kia không biết phải định hướng như thế nào, nên nó rất mờ mịt, mơ hồ. Thời gian chủ yếu trong những vần thơ chữ Hán là thời gian hiện tại, đó là những gì nhà thơ suy nghĩ, nghe thấy là hiện thực cuộc sống đương diễn ra, thời gian quá khứ hiện về với những ký ức đẹp, những kỷ niệm vàng son để có thể vơi bớt buồn đau của thực tại phủ phàng, đồng thời để chiêm nghiệm cuộc đời, để nhìn nhận một kiếp bể dâu thăng trầm. Không gian trong thơ là không gian rộng lớn mênh mông của vũ trụ, của thiên nhiên, không gian lạnh lẽo cô đơn vô tận của tâm hồn, là không gian mờ mịt gió bụi, không gian xa cách của đời nổi trôi. Không gian nhỏ hẹp, tù túng, ngột ngạt của hiện thực xung quanh, là mái nhà, mồ mả, đình đền, gò đống, gian bếp, góc giường, cánh cửa... “Ngôn ngữ Thơ chữ Hán Nguyễn Du trước hết mang nét chung của ngôn ngữ nghệ thuật trung đại phương đông, chịu sự chi phối của nghệ thuật thơ chữ Hán”[20/ [tr. 172], ngôn ngữ mang tính hình tượng, giàu hình ảnh. Trong 250 bài thơ Chữ Hán của Nguyễn Du phần lớn là những bài thơ ngắn theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, từ ngữ đa dạng phong phú, mang tính ước lệ tuy nhiên từ ngữ cũng rất sinh động, cụ thể, đời thường dễ hiểu. 1.3. Những sự kiện ảnh hưởng đến cuộc đời và tâm sự của Nguyễn Du 1.3.1. Sự kiện lịch sử. Thời đại Nguyễn Du là thời kì đất nước có rất nhiều biến động, xã hội phức tạp giữa sự giằng co dữ dội của nhiều xu thế chính trị khác nhau. Đây là thời kì đất nước bị chia cắt thành hai miền (Đàng Trong và Đàng Ngoài), các thế lực phong kiến cầm quyền bị phân hóa, không còn đủ sức ổn định tình hình và lãnh đạo đất nước, là giai đoạn căng thẳng dữ dội của giai cấp phong kiến trong lịch sử, bởi giai đoạn này sự thay đổi giữa các triều đại phong kiến diễn ra nhanh chóng. Ở Đàng Ngoài, vua Lê chỉ tại vị một cách bù nhìn, quyền hành tập trung trong tay chúa Trịnh, nhưng chúa Trịnh cũng không còn đủ sức kiểm soát, không thể làm chủ tình hình đang diễn biến phức tạp được nữa. Triều đình Lê - Trịnh biểu hiện những mặt yếu kém, sự tha hóa về đạo đức, ăn chơi sa đọa của chúa Trịnh đã đẩy nhân dân vào cảnh khốn khổ, dẫn đến các cuộc khởi nghĩa chống đối của nhân dân diễn ra khắp nơi cùng với các cuộc chiến tranh liên miên giữa hai nhà chúa đã đưa đất nước về chỗ suy sụp về mọi mặt, không thể cứu vãn. Sự tranh giành quyền lực diễn ra trong nội bộ, năm 1780 Đặng Thị Huệ cùng Hoàng Đình Bảo mưu giành ngôi thế tử của Trịnh Tông cho Trịnh Cán. Năm 1782 Trịnh Sâm mất, sinh thời ông sủng ái thứ phi Đặng Thị Huệ, nên di chúc loại bỏ con trưởng là Trịnh Khải, lập con thứ Trịnh Cán con của Huệ nối ngôi. Trịnh Khải âm mưu dành lại ngôi chúa dẫn đến nạn kiêu binh làm loạn, bên trong triều đình phân chia nhiều phe cánh, xã hội đầy bất ổn, tình hình Đàng Ngoài vô cùng rối ren. Vua Lê Chiêu Thống kém tài, kém đức tất cả đã đẩy tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh vào con đường suy vong. Ở Đàng Trong, chúa Nguyễn cũng không sáng sủa hơn. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ nổ ra năm 1771 ở Bình Định liên tiếp thu được thắng lợi, làm cho triều đình chúa Nguyễn càng thêm suy yếu. Sự xuất hiện màu cờ khởi nghĩa Tây Sơn đã đem luồng sinh khí mới cho xã hội đang đen tối, chỉ trong vòng mười tám năm (1771 - 1789) kể từ ngày khởi binh, đoàn quân Tây Sơn dũng mãnh do Nguyễn Huệ chỉ huy đã lập được những chiến công vang dội: Phía Nam diệt quân Xiêm, phía Bắc đánh bại hai mươi vạn quân Thanh xâm lược, tiêu diệt hai tập đoàn phong kiến Trịnh Nguyễn, lật đỗ vua Lê, lập nên vương triều Tây Sơn, thống nhất đất nước sau hơn hai trăm năm chia cắt. Xã hội tạm thời ổn định trong triều đình Tây Sơn của vua Quang Trung, tuy nhiên triều đại Tây Sơn đứng vững không được bao lâu thì bị đỗ vỡ, xã hội lại tiếp tục thêm sự thay đổi triều đại, sau khi vua Quang Trung mất (1792), chế độ Tây Sơn lại dẫm chân vào lối mòn các triều đại phong kiến trước kia, đó là tình trạng sống xa hoa, mâu thuẫn về quyền lợi giữa tập đoàn Tây Sơn phía Bắc với Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ ở phía Nam và tình trạng chia bè kéo cánh với nhau ngay trong nội bộ triều đình do Quang Toản nối ngôi, làm cho Tây Sơn suy yếu. Trong Nam, chúa Nguyễn Ánh trở lại Gia Định tập hợp lực lượng và dựa vào sự giúp đỡ của người Pháp để phản công lại Tây Sơn. Năm 1802 Nguyễn Ánh đánh ra Bắc hà lật đỗ chính quyền Tây Sơn, chấm dứt vương triều Tây Sơn ngắn ngủi, lên ngôi vua hiệu Gia Long, chính quyền về tay nhà Nguyễn. Nguyễn Du sống trong xã hội có nhiều biến động dữ dội và nhanh chóng, khiến con người thời bấy giờ ngỡ ngàng, ngơ ngác. Những biến cố xảy ra quá nhanh và dồn dập như nhận định của Nguyễn Tài Thư: “ Kiêu binh nổi loạn trong phủ chúa Trịnh. Tây Sơn diệt Nguyễn ở Đàng Trong và Trịnh ở Đàng Ngoài. Quân Thanh xâm lược. Quân Thanh đại bại. Quang Trung băng hà, Nguyễn Tây Sơn lung lay. Nguyễn Ánh diệt Tây Sơn… những biến cố ấy diễn ra nhanh chóng đến mức người đương thời chưa kịp tìm ra nguyên nhân của cái trước thì cái sau đã diễn ra…” Chỉ trong vòng chưa đầy ba mươi năm mà đã có mấy lần chuyển giao triều đại, mấy lần thay đổi thời thế. Đời sống và tính mạng con người trở nên mong manh hơn bao giờ hết bởi chiến tranh loạn lạc liên miên, không ai kịp định hướng cuộc đời mình. Nguyễn Du cũng không thể thoát khỏi những biến cố ấy, khi ông sinh ra và lớn lên trong một giai đoạn lịch sử thăng trầm như thế, chắc hẳn nhà thơ cũng phải chịu nhiều ảnh hưởng của những thay đổi chính trị đầy biến động như thế, nên hồn thơ của vị đại thi hào mới chất chứa đầy tâm sự và có nhiều điều trăn trở, băn khoăn. Một tâm hồn nhạy cảm như Nguyễn Du mà phải chứng kiến bao sự đổi thay của đất nước, phải sống qua ba triều đại chính trị khác nhau, nên cuộc đời nhà thơ cũng có nhiều sự thay đổi, từ một cuộc sống đủ đầy phú quý vinh hoa, thuộc tầng lớp quý tộc khi gia đình làm quan cao nhà Lê, Nguyễn Du lại phải sống những năm tháng tha hương khi lánh nạn quân Tây Sơn ở quê vợ Quỳnh Côi, phải chịu cảnh anh em li tán, sống cảnh không nhà chịu nhiều vất vả thiếu thốn, đến khi ra làm quan nhà Nguyễn cuộc sống của ông cũng không tươi sáng là bao. Con người Nguyễn Du phải trải qua quá nhiều biến cố, thăng trầm của cuộc đời nên tâm hồn Nguyễn Du không lúc nào thanh thản mà luôn nặng trĩu một nỗi niềm khó tỏ cùng ai, bởi cuộc sống thăng trầm trôi nổi, phải chăng vì thế Nguyễn Du mới dễ dàng cảm thông với những cảnh đời bất hạnh trong xã hội. Do nhà thơ sống khi đất nước có nhiều sự thay đổi, nên thái độ đối với các triều đại chính trị trong tư tưởng Nguyễn Du cũng rất khó hiểu. Theo gia phả thì Nguyễn Du sau khi ở quê vợ Quỳnh Côi đã có ý vào Gia Định giúp Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn nhưng việc thất bại và bị tướng Tây Sơn bắt giam, như vậy ta thấy Nguyễn Du có thái độ phản kháng với Tây Sơn. Có lẽ do nhà thơ vốn thuộc dòng dõi quý tộc, đã có một thời gian dài mang nặng ơn bỗng lộc của triều Lê nên khi nhà Lê sụp đỗ Nguyễn Du luôn nuối tiếc và xót xa cho một triều đại suy tàn tan biến, cũng có thể do triết lí nho giáo với cái đạo trung quân luôn mang nặng trên đôi vai kẻ sỉ nên Nguyễn Du không thể có sự chọn lựa khác, nhà thơ không thể theo Tây Sơn dẫu có thể nhà thơ cũng biết rằng ngọn cờ Tây Sơn là ánh sáng chính nghĩa lúc bấy giờ. Nói chung Nguyễn Du có ý muốn chống Tây Sơn nhưng vẫn thấy xót xa bùi ngùi khi triều đại này sụp đỗ, như Hoài Thanh nhận xét “ sau này, khi chính Tây Sơn đã bị lật đỗ, ta lại thấy Nguyễn Du có cái tiếng thở dài rất bùi ngùi: “ Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong Ca vũ không di nhất nhân tại” ( Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu vong đâu hết Mà còn sót lại một người trong làng ca múa) ( Long Thành cầm giả ca) Chính sự mâu thuẫn trong cách thể hiện thái độ đối với Tây Sơn của Nguyễn Du khiến cho chúng ta khó nhận định một cách chính xác về vấn đề này và có lẽ chính Nguyễn Du cũng không thể lí giải được bởi ông cũng có những mâu thuẫn, những băn khoăn với triều đại Tây Sơn nên có lúc nhà thơ muốn chống đối Tây Sơn và xem đó là việc phải làm nhưng khi Tây Sơn sụp đổ Nguyễn Du lại cảm thấy tiếc nuối cho một triều đại anh hùng. 1.3.2. Sự kiện xã hội Xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX có nhiều biến động, chế độ phong kiến đi vào con đường khủng hoảng, bế tắc. Trong bối cảnh xã hội có nhiều bất ổn đã kéo theo hệ lụy cho một nền nho giáo đang từng ngày suy yếu, biến chất. Theo triết lí nho giáo con người sống phải trọn đạo cương thường đó là nhân - nghĩa - lễ - trí - tín. Nguyễn Du đã sống theo tinh thần nho gia, nhưng trong xã hội đầy biến động giai cấp phong kiến xuất hiện nhiều tiêu cực, tỏ ra không còn năng lực quản lí và lãnh đạo nhà nước, tầng lớp quí tộc lao vào cảnh ăn chơi trụy lạc và tranh giành quyền lợi, vì lợi ích cá nhân sinh ra đâm chém lẫn nhau. Giai cấp thống trị không chăm lo đến đất nước làm trở ngại cho sự phát triển sản xuất của xã hội, làm cho nông nghiệp đình đốn, đời sống nhân dân đói khổ,… chính sự thói nát xuống cấp, bạo tàn của triều đình phong kiến đã làm nhà thơ cảm thấy hụt hẫng với nho giáo. Sự tranh giành quyền lợi bạo tàn của vua quan…làm cho Nguyễn Du mất dần niềm tin vào cuộc sống, nhà thơ bị khủng hoảng về mặt tinh thần vì thế Nguyễn Du đã muốn thoát li khỏi cuộc đời, muốn tìm đến một nơi vắng vẻ để quên thế thái nhân tình. Nho giáo trong giai đoạn này đang mất dần những giá trị tốt đẹp vốn có của nó, sự tàn lụi của tập đoàn phong kiến vua Lê chúa Trịnh đã kéo theo những hệ lụy xấu cho nền nho học tồn tại lâu đời. Bản chất bạo tàn xấu xa trong triều đình phong kiến Lê - Trịnh là nguồn gốc sâu xa cho sự biến chất của nho giáo, tất cả những mối quan hệ phong kiến sụp đỗ một cách thảm hại từ trong gia đình đến ngoài xã hội, trong giai cấp quý tộc có đầy dẫy những người khoát lên mình lớp áo nho gia lại sẵn sàng giẫm đạp lên tất cả những mối cương thường, những giá trị đạo đức thiêng liêng cao cả, những hiện tượng anh em tàn sát lẫn nhau, vợ chồng lừa dối nhau, bạn bè phản bội nhau, bao cảnh con hại cha, trò phản thầy,...đã nhấn chìm nho giáo vào cái xã hội đen
- Xem thêm -