Tài liệu ôn thi tốt nghiệp môn ngữ văn lớp 12

  • Số trang: 63 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 41 |
  • Lượt tải: 1
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

NGHỊ LUẬN VĂN HỌC 1 1. Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỷ XX. 2. Hồ Chí Minh 3. Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh. 4. Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc – Phạm Văn Đồng. 4. Tây Tiến – Quang Dũng. 5. Tố Hữu 6. Việt Bắc (trích) – Tố Hữu 7. Đất Nước (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) - Nguyễn Khoa Điềm. 8. Sóng – Xuân Quỳnh. 9. Đàn ghi- ta của Lor-ca – Thanh Thảo 10. Ai đã đặt tên cho dòng sông? (trích) – Hoàng Phủ Ngọc Tường. 11. Người lái đò Sông Đà (trích) - Nguyễn Tuân. 12. Vợ chồng A Phủ (trích) – Tô Hoài. 13. Vợ nhặt (Kim Lân). 14. Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành. 15. Những đứa con trong gia đình (trích) - Nguyễn Thi. 16. Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu. 17. Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ. 18. Phụ lục văn học nước ngoài 2 2 3 3 4 4 5 6 10 12 16 18 21 23 28 31 33 35 37 Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX 1/ Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975 a/ Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước. b/ Nền văn học hướng về đại chúng c/ Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. 2/ Những đặc điểm cơ bản của Văn học Việt Nam từ sau 1975 đến hết thế kỉ XX? a/ Nền văn học vận động theo hướng dân chủ hóa, mang tính nhân bản và nhân văn sâu sắc. b/ Nền văn học đã khám phá con người trong những mối quan hệ đa dạng và phức tạp, có tính chất hướng nội, quan tâm nhiều hơn tới số phận cá nhân trong những hoàn cảnh phức tạp, đời thường. c/ Nền văn học có nhiều tìm tòi , đổi mới về nghệ thuật .  Luyện tập 1/ Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975? 2/ Một trong những đặc điểm cơ bản của nền văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 là chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Hãy nêu những nét chính của đặc điểm trên.  Gợi ý đề 2 * Khuynh hướng sử thi - Văn học phản ánh những sự kiện, những vấn đề có ý nghĩa lịch sử lớn lao, tập trung thể hiện chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng. - Nhân vật chính thường là những con người tiêu biểu cho lí tưởng chung của dân tộc, kết tinh các phẩm chất cao quý của cộng đồng, gắn bó số phận mình với số phận của đất nước. - Lời văn mang giọng điệu trang trọng, hào hùng, thiên về ngợi ca, ngưỡng mộ. * Cảm hứng lãng mạn - Cảm hứng lãng mạn chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới và vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc. - Cảm hứng lãng mạn gắn liền với khuynh hướng sử thi. Tác gia HỒ CHÍ MINH 1.Về quan điểm sáng tác văn học Quan điểm sáng tác văn học của Người hết sức nhất quán. Tập trung ba điểm : + Bác luôn coi văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng; nhà văn phải góp phần đấu tranh và phát triển xã hội. Nghĩa là “văn học nghệ thuật cũng là một mặt trận” và người cầm bút phải là “chiến sĩ trên mặt trận ấy”: Nay ở trong thơ nên có thép Nhà thơ cũng phải biết xung phong. ( Cảm tưởng đọc Thiên gia thi ) + Người chủ trương văn học phải phản ánh cuộc sống một cách chân thật và đậm tính dân tộc. Hình thức phải trong sáng, hấp dẫn. + Người nêu kinh nghiệm sáng tác : Bao giờ cũng xác định rõ đối tượng và mục đích : Viết cho ai? Viết để làm gì? Từ đó mới xác định nội dung và hình thức viết : Viết cái gì? Viết như thế nào? 2 . Về sự nghiệp văn học Nguyễn Ai Quốc-Hồ Chí Minh đã để lại một di sản văn học đồ sộ và đa dạng : truyện ngắn, phóng sự, hồi kí, bút kí, tiểu phẩm, tuyên ngôn, lời kêu gọi, thư từ, thơ tiếng Việt và tiếng Hán, kịch bản …Tác phẩm văn học của Người được viết bằng tiếng Pháp, Hán văn và tiếng Việt. Sự nghiệp sáng tác nổi bật ở 3 lĩnh vực : Văn chính luận, Truyện và ký, Thơ ca. Văn chính luận được viết với mục đích tiến công trực diện kẻ thù hoặc thể hiện nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn. Các tác phẩm tiêu biểu như Bản án chế độ thực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Không có gì quí hơn độc lập tự do …  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 2 Truyện và kí tiêu biểu trước hết là những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp vào khoảng đầu những năm 20 của thế kỉ XX như Vi hành, Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu, Lời than vãn của bà Trưng Trắc … Các tác phẩm này cũng nhằm mục đích tiến công kẻ thù nhưng bằng hình tượng nghệ thuật. Thơ ca là lĩnh vực nổi bật trong giá trị sáng tạo văn chương của Hồ Chí Minh. Trên 250 bài thơ ở ba tập Nhật kí trong tù, Thơ Hồ Chí Minh và Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh. 3. Về phong cách nghệ thuật + Văn chương của Người kết hợp mối quan hệ giữa chính trị và văn học, giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại. Mỗi loại hình đều có phong cách riêng, độc đáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững. - Văn chính luận: lí lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ, đanh thép; giọng điệu đa dạng; giàu tính luận chiến. - Truyện và kí: kết hợp linh hoạt cách viết hiện đại với cách kể truyền thống; lối trào phúng giàu chất trí tuệ; giọng văn khi nghiêm trang khi hài hước. - Thơ ca: thơ tuyên truyền giản dị, mộc mạc; thơ nghệ thuật thâm trầm, sâu sắc, vừa cổ điển vừa hiện đại. + Đa dạng nhưng thống nhất, thể hiện ở sự nhất quán về quan điểm sáng tác và tư tưởng, tình cảm; nhất quán về nghệ thuật: cách viết thường ngắn gọn, trong sáng, giản dị, thường vận dụng linh hoạt nhiều thủ pháp và bút pháp khác nhau.  1/ 2/ 3/ Luyện tập Nêu những nét chính về quan điểm sáng tác văn học nghệ thuật của Chủ tịch Hồ Chí Minh ? Những nét khái quát về sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh ? Đặc điểm cơ bản của phong cách nghệ thuật Hồ Chí Minh ? TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP HỒ CHÍ MINH 1/ Hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác a. Hoàn cảnh ra đời - Ngày 19-8-1945, chính quyền ở Hà Nội về tay nhân dân. Ngày 26-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội. Tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, trước hàng vạn đồng bào, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam mới. - Lúc này cũng là thời điểm bọn đế quốc, thực dân nấp sau quân Đồng Minh vào tước khí giới quân đội Nhật, đang âm mưu chiếm lại nước ta. Thực dân Pháp tuyên bố : Đông Dương là thuộc địa của Pháp, bị Nhật xâm chiếm, nay Nhật đầu hàng nên Đông Dương phải thuộc quyền “bảo hộ” của Pháp. b. Mục đích sáng tác - Chính thức tuyên bố trước quốc dân, trước thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. - Tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân ta suốt 80 năm qua và tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân, xoá bỏ mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. - Khẳng định ý chí của cả dân tộc Việt Nam kiên quyết bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc. 2/ Giá trị Tuyên ngôn độc lập - Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử to lớn : tuyên bố xoá bỏ chế độ thực dân, phong kiến; khẳng định quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới; mở ra kỉ nguyên độc lập tự do trên đất nước ta. - Tuyên ngôn độc lập là một tác phẩm chính luận đặc sắc : lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, ngôn ngữ hùng hồn, đầy cảm xúc, … - Tuyên ngôn độc lập còn là một áng văn tâm huyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 3/ Ý nghĩa của việc trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập (Mỹ) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (Pháp) trong phần mở đầu Tuyên ngôn Độc lập - Nêu lên những nguyên lí chung về quyền được tự do bình đẳng của con người để khẳng định lập trường chính nghĩa của dân tộc; tạo vị thế bình đẳng giữa Việt Nam với các nước lớn trên thế giới. - Đưa ra những lí lẽ thuyết phục để chuẩn bị tiền đề cho lập luận ở phần tiếp theo, làm cơ sở cho cả hệ thống lập luận của bản tuyên ngôn.  Luyện tập 1/ Nêu hoàn cảnh ra đời và mục đích sáng tác Tuyên ngôn độc lập.  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 3 2/ Giá trị Tuyên ngôn độc lập 3/ Ý nghĩa của việc trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập (Mỹ) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (Pháp) trong phần mở đầu Tuyên ngôn Độc lập ? NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC PHẠM VĂN ĐỒNG 1/ Hoàn cảnh và mục đích sáng tác - Hoàn cảnh sáng tác: + Viết nhân dịp kỉ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (3/7/1888). Tác phẩm được đăng trên Tạp chí Văn học tháng 7/1963. + Hoàn cảnh đất nước: Mĩ can thiệp vào chiến trường Việt Nam ngày càng nhiều, đánh phá miền Nam và chuẩn bị tiến hành chiến tranh xâm lược miền Bắc, phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam đang diễn ra mạnh mẽ. - Mục đích sáng tác: + Tưởng nhớ, định hướng cách nhìn nhận, đánh giá về thơ văn NĐC + Xác định mối quan hệ giữa thơ văn yêu nước NĐC với sự nghiệp chống Mĩ cứu nước. 2/ Nhận xét về cách trình bày các luận điểm: - Bài viết có 3 luận điểm lớn: + Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu + Thơ văn yêu nước Nguyễn Đình Chiểu + Tác phẩm Lục Vân Tiên - Nêu thơ văn yêu nước trước để nhấn mạnh tính chiến đấu của thơ văn NĐC, phù hợp với mục đích xác định mối quan hệ giữa thơ văn yêu nước NĐC với sự nghiệp chống Mĩ cứu nước.  Luyện tập 1/ Vì sao văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng giống như “những vì sao có ánh sáng khác thường” ? 2/ Vì sao Pham Văn Đồng cho rằng ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa không chỉ trong tời ấy, mà cả trong thời đại hiện nay ? TÂY TIẾN QUANG DŨNG  Luyện tập 1/ Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tây Tiến có điểm gì lưu ý ? 2/ Phân tích đoạn thơ đầu (14 câu) 3/ Hình ảnh người lính Tây Tiến được khắc hoạ bằng vẻ đẹp lãng mạn và chất bi tráng. Phân tích đoạn thơ thứ ba để làm rõ. 4/ Phân tích cảm hứng lãng mạn trong bài thơ Tây Tiến  Gợi ý ĐỀ 2 : a. Giới thiệu tác giả, tác phẩm – Nêu đoạn thơ b. Phân tích - Cảm xúc chủ đạo trong đoạn thơ là nỗi nhớ da diết của tác giả về miền Tây và đoàn quân Tây Tiến. - Bức tranh thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội, bí hiểm mà thơ mộng, trữ tình. - Hình ảnh người lính trên chặng đường hành quân đầy gian nan, nguy hiểm; tuy vất vả, hi sinh nhưng vẫn ngang tàng, trẻ trung, lãng mạn. - Nghệ thuật: kết hợp hài hoà giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn; ngôn ngữ giàu tính tạo hình, giàu nhạc điệu; biện pháp tu từ đặc sắc; ... c. Đánh giá chung về đoạn thơ. ĐỀ 4 : a. Giới thiệu tác giả, tác phẩm b. Phân tích - Giải thích ngắn gọn : Cảm hứng lãng mạn chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định phương diện lí tưởng của cuộc sống mới và vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc.  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 4 - Chất lãng mạn trong Tây Tiến chính là cảm hứng hướng đến vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc và người lính Tây Tiến . + Khai thác triệt để thủ pháp đối lập : cảnh vật và con người được dựng lên ở một biên độ rất rộng. Vì thế, bên cạnh một Tây Bắc hùng vĩ dữ dội có một Tây Bắc mĩ lệ duyên dáng, giữa hai nét gân guốc táo bạo và tươi tắn mềm mại, giữa hai gam màu vừa chói gắt vừa quyến rũ lạ thường. + Tô đậm màu sắc xứ lạ phương xa : Đó là những “hội đuốc hoa” . Đó là những “chiều sương” ở Châu Mộc, là “hồn lau” thấp thoáng “nẻo bến bờ”, là dáng người mảnh mai, mềm mại trên dòng suối + Chân dung người lính Tây Tiến hiện lên trên cái nền hùng vĩ và mĩ lệ của núi rừng Tây Bắc. - Tính chất lãng mạn còn thể hiện ở một phương diện khác, đó là gắn liền với cảm hứng bi tráng. c. Đánh giá chung Tác gia TỐ HỮU 1/ Đường cách mạng, đường thơ : - Tố Hữu đến với thơ và cách mạng cùng một lúc. Các chặng đường thơ song hành với các giai đoạn đấu tranh cách mạng ; đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ. - Năm tập thơ tiêu biểu là Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa. + Từ ấy (1937-1946), chặng đường đầu mười năm thơ Tố Hữu, cũng là mười năm hoạt động sôi nổi của người thanh niên giác ngộ lí tưởng cộng sản và sẵn sàng chiến đấu xả thân cho lí tưởng. Tập thơ có ba phần : Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng tương ứng với ba chặng đường trong mười năm ấy. + Việt Bắc (1947-1954) là bản hùng ca của cuộc kháng chiến chống Pháp, một giai đoạn lịch sử gian lao mà anh dũng. Tập thơ kết tinh những tình cảm lớn của người Việt Nam, mà thống nhất và bao trùm là tình yêu nước. + Gió lộng (1955-1961) khai thác những tình cảm lớn của con người Việt Nam đương thời : niềm vui của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, tình cảm với miền Nam và ý chí thống nhất Tổ quốc. + Ra trận (1962-1971) , Máu và hoa (1972-1977) là chặng đường thơ Tố Hữu trong những năm chống Mĩ quyết liệt và hào hùng của cả dân tộc cho đến ngày toàn thắng. - Từ 1978 về sau tập hợp trong tập Một tiếng đờn (1992) và Ta với Ta (1999). 2/ Phong cách nghệ thuật : A/ Về nội dung - Thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc : + Hướng tới lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng, của cả dân tộc. + Cái tôi trữ tình vận động từ cái tôi chiến sĩ, trở thành cái tôi nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc. - Thơ Tố Hữu mang đậm sử thi : + Cảm húng chủ đạo là cảm hứng lịch sử-dân tộc, chứ không phải cảm hứng thế sự-đời tư. + Nổi bật là vấn đề vận mệnh cộng đồng, chứ không phải vần đề số phận đời tư. - Thơ Tố Hữu có giọng điệu riêng : tự nhiên, đằm thắm, chân thành B/ Về nghệ thuật Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc thiên về các thể thơ dân tộc, ngôn ngữ quen thuộc, nhạc điệu phong phú.  Luyện tập 1/ Những nét lớn trong cuộc đời Tố Hữu ? 2/ Hiểu thế nào về nhận xét : “Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”( Xuân Diệu ). VIỆT BẮC TỐ HỮU  Luyện tập 1/ Cảm hứng sáng tác 2/ Trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc, Tố Hữu đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật giàu tính dân tộc nào? Những phương tiện đó phù hợp với việc diễn tả tình cảm gì của người cán bộ kháng chiến và nhân dân Việt Bắc?  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 5 3/ Phân tích vẻ đẹp của “bộ tranh tứ bình” về thiên nhiên và con người Việt Bắc trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu. 4/ Phân tích 20 câu đầu trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.  Gợi ý ĐỀ 1 - Hoàn cảnh ra đời : Việt Bắc là đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp, là căn cứ vững chắc của Trung ương Đảng và Chính phủ. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí kết (tháng 7-1954), hoà bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng. Một trang sử mới của đất nước được mở ra. Tháng 10-1954, Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc. - Việt Bắc là một trường thiên, có thể chia làm hai phần. Phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc. Phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ca ngợi công ơn của Đảng, của Hồ Chủ tịch đối với dân tộc. Việt Bắc chính là khúc hát ân tình của những người kháng chiến đối với quê hương đất nước, đối với nhân dân và cách mạng. ĐỀ 2 + Tố Hữu đã sử dụng những phương tiện nghệ thuật giàu tính dân tộc trong bài thơ Việt Bắc: - Thể thơ lục bát mềm mại, uyển chuyển của dân tộc được Tố Hữu sử dụng điêu luyện kết hợp với lối hát đối đáp giao duyên vốn quen thuộc trong ca dao dân ca - Tác giả đã chọn lựa và sử dụng thật linh hoạt và đầy sáng tạo cặp đại từ nhân xưng vốn quen thuộc trong ca dao dân ca “mình – ta” - Tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ truyền thống (so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, cường điệu, điệp từ, điệp ngữ …) cũng như sử dụng những từ láy và cách nói quen thuộc của thơ ca dân gian đã tạo nên nhạc tính dân tộc của bài thơ như giọng điệu tâm tình. + Những phương tiện nghệ thuật trên rất phù hợp với việc diễn tả tình cảm lớn, ân tình cách mạng (tình quân dân “cá nước” trong chín năm kháng chiến gian khổ mà hào hùng ở núi rừng Việt Bắc, tình cảm đối với Đảng và Bác Hồ kính yêu) giữa người cán bộ kháng chiến về xuôi và nhân dân (người ở lại) Việt Bắc, làm cho tình cảm giữa họ kín đáo mà không xa vời, gắn bó thắm thiết, mặn nồng sâu sắc mà không gượng gạo, không sỗ sàng. ĐỀ 3 a. Giới thiệu tác giả, tác phẩm b. Phân tích Nghệ thuật : + Tác giả chọn thể thơ lục bát là thể thơ dân tộc. + Kiểu đối đáp của lối hát giao duyên trong dân ca. + Nhà thơ dùng ngôn ngữ của tình yêu với hai nhân xưng đầy biến hoá mình – ta để diễn đạt tình cảm cách mạng. + Những biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, tượng trưng …) quen thuộc với cách cảm, cách nghĩ của quần chúng được sử dụng nhuần nhuyễn. Nội dung : - Hai câu thơ đầu giới thiệu nội dung bao quát cảm xúc chung của đoạn thơ. Hoa và Người quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hài hòa đằm thắm để tạo nên cái nét riêng biệt, độc đáo của vùng đất này. - Trong bốn cặp lục bát còn lại : câu sáu dành Hoa, câu tám dành cho Người. - Mùa đông với màu "đỏ tươi" - gam màu nóng của bông chuối làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên ấm áp. Màu xanh của núi rừng tiềm ẩn một sức sống. Con người dường như càng trở nên kỳ vĩ, hùng tráng với một nét thần tình rực sáng nhất. Đó là ánh mặt trời chớp lóe trên lưỡi dao rừng ở ngang lưng. Con người ấy cũng đã xuất hiện ở một vị trí, một tư thế đẹp nhất " đèo cao" trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt Bắc. - Mùa xuân với màu trắng trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ nở khắp rừng. Hình ảnh con người với hoạt động " chuốt từng sợi giang" : cần mẫn, khéo léo, tài hoa, chính là phẩm chất tần tảo của con người Việt Bắc.  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 6 - Mùa hè đến trong âm thanh rộn rã của tiếng ve, cũng là thời điểm rừng phách đổ vàng. Đây là một bức tranh sơn mài được vẽ lên bằng hoài niệm, nên lung linh màu sắc và rộn rã âm thanh. Hình ảnh "cô em gái hái măng một mình" gợi lên được vẻ đẹp chịu khó chịu thương của cô gái. Đằng sau đó, ẩn chứa biết bao niềm cảm thông, trân trọng của tác giả. - Thu sang, khung cảnh núi rừng chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo lung linh dịu mát. Đó là tiếng hát trong trẻo của đồng bào dân tộc, là tiếng hát nhắc nhở thủy chung ân tình. c. Đánh giá chung ĐỀ 4 a. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm b. Phân tích - Bốn câu đầu là lời Việt Bắc tỏ bày với người cán bộ chiến sĩ khi chia tay: “Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?” + Điệp từ “nhớ” luyến láy trong cấu trúc câu hỏi tu từ đồng dạng, tràn đầy thương nhớ. + Các xưng hô “mình - ta” mộc mạc, gợi liên tưởng ca dao: “Mình về ta chẳng cho về - Ta nắm vạt áo, ta đề câu thơ”. + “15 năm” là chi tiết thực chỉ độ dài thời gian từ năm 1940 thời kháng Nhật và tiếp theo là phong trào Việt Minh, đồng thời cũng là chi tiết gợi cảm - nói lên chiều dài gắn bó thương nhớ vô vàn. + Hai câu hỏi liên tiếp chất chứa tình cảm lưu luyến, bao hàm lời dặn dò kín đáo: đừng quên cội nguồn “núi, nguồn” - Bốn câu tiếp theo là nỗi lòng của người về: “Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” + “Bâng khuâng, bồn chồn” là hai từ láy gợi cảm, diễn tả trạng thái tâm lí tình cảm buồn vui, luyến tiếc, nhớ thương, chờ mong… lẫn lộn cùng một lúc. Mười lăm năm Việt Bắc cưu mang người cán bộ chiến sĩ, mười lăm năm gian khổ có nhau, mười lăm năm đầy những kỉ niệm chiến đấu, giờ phải chia tay rời xa để làm nhiệm vụ mới về tiếp quản tại thủ đô Hà Nội (10-1954), biết mang theo điều gì, biết lưu lại hình ảnh nào, tâm trạng của người về do vậy không tránh khỏi là nỗi niềm bâng khuâng khó tả. + “Áo chàm đưa buổi phân li” là một ẩn dụ, màu áo chàm, màu áo xanh đen đặc trưng của người miền núi Việt Bắc - tác giả hướng nỗi nhớ Việt Bắc qua hình ảnh cụ thể “áo chàm”, chiếc áo, màu áo bình dị, đơn sơ, mộc mạc của vùng quê nghèo thượng du đồi núi nhưng sâu nặng nghĩa tình, đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp kháng chiến cứu nước. + Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” đầy tính chất biểu cảm - biết nói gì không phải không có điều để giãi bày mà chính vì có quá nhiều điều muốn nói mà ngôn ngữ bất lực. - 12 câu tiếp theo kết thúc đoạn trích, là lời tâm tình của Việt Bắc: “Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai? Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, có nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 7 + Điệp khúc “mình đi-mình về” nhắc nhớ cuộc chia tay đầy nghĩa tình, lưu luyến. + Điệp từ “nhớ” lập đi lập lại nhiều sắc thái ý nghĩa: nhớ là nỗi nhớ, ghi nhớ, nhắc nhở. Hàng loạt những câu hỏi tu từ bày tỏ tình cảm tha thiết đậm đà của Việt Bắc. Tình cảm lưu luyến của người đưa tiễn, gửi đi nỗi nhớ mong, Việt Bắc nhắc người cán bộ chiến sĩ đừng quên thiên nhiên, con người Việt Bắc, đừng quên những kỉ niệm kháng chiến. + “Miếng cơm chấm muối” là chi tiết thực, phản ánh cuộc sống kháng chiến gian khổ. Và cách nói “mối thù nặng vai” nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân cướp nước, đè nặng vai dân tộc ta. + Hình ảnh “Trám bùi để rụng, măng mai để già” gợi nỗi buồn thiếu vắng - “Trám rụng - măng già” không ai thu hái. Nỗi ngùi nhớ bức bối như thúc vào lòng kẻ ở lại. Tiễn người về sau chiến thắng và chính trên cái nền của sự chiến thắng đó, đã làm cho nỗi buồn nhớ trở nên trong sáng. Việt Bắc vẫn “một dạ khăng khăng đợi thuyền”, đồng thời nhắc nhở khéo léo tấm “lòng son” của người cán bộ chiến sĩ. + Xin đừng quên thời kỳ “kháng Nhật thuở còn Việt Minh”, đừng quên cội nguồn cách mạng, đừng quên để chăm lo giữ gìn sự nghiệp cách mạng. c. Đánh giá chung Tóm lại, đoạn thơ trên là nỗi lòng thương nhớ, là lời tâm tình của Việt Bắc. Đoạn thơ trên tiêu biểu sắc thái phong cách Tố Hữu, giọng điệu thơ ngọt ngào truyền cảm, mang đậm phong vị ca dao dân gian, đề cập đến con người và cuộc sống kháng chiến. Thông qua hình tượng Việt Bắc, tác giả ca ngợi phẩm chất cách mạng cao đẹp của quân dân ta, khẳng định nghĩa tình thuỷ chung son sắt của người cán bộ, chiến sĩ đối với Việt Bắc. ĐẤT NƯỚC (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) NGUYỄN KHOA ĐIỀM  Luyện tập 1/ Trong chương Đất Nước,tác giả đã thể hiện tư tưởng cốt lõi gì, phát niện mới mẻ về Đất Nước ở những phương diện nào, ý nghĩa của sự phát hiện đó ? 2/ Nêu ví dụ và nhận xét về cách sử dụng chất liệu văn hoá dân gian của tác giả? 3/ Phân tích chín câu đầu của đoạn trích.  Gợi ý ĐỀ 1 - Nguyễn Khoa Điềm tập trung thể hiện tư tưởng cốt lõi “ Đất Nước của Nhân dân”. - Đất nước được cảm nhận ở chiều dài thời gian-lịch sử, ở chiều rộng không gian-địa lí, ở bề dày của văn hoá-phong tục. Qua đó, hình ảnh đất nước hiện lên vừa thiêng liêng lớn lao sâu xa, vừa gần gũi thân thiết tự nhiên với mỗi người. ĐỀ 3 a. Giới thiệu tác giả, tác phẩm b. Phân tích - Cảm nhận chung : Nguyễn Khoa Điềm trình bày những cảm xúc và suy tưởng về Đất Nước dưới dạng một lới trò chuyện tâm linh, mạch cảm hứng và liên tưởng có vẻ tự do, phóng túng như một thứ tuỳ bút thơ. Qua đó, Nguyễn Khoa Điềm đã tạo được bút pháp nghệ thuật : biến một vấn đề chính trị thành một câu chuyện tâm tình, chuyển hoá ý thức công dân thành tình cảm cá nhân, đời tư hoá một chủ đề sử thi. “Ta” hoà vào “Đất Nước”, lấy trải nghiệm bản thân để suy ngẫm về Đất Nước. - Lịch sử trường tồn của đất nước giới thiệu bằng hình ảnh “ngày xửa ngày xưa”. - Những câu thơ như không hề dụng công nghệ thuật lại chứa đựng phát hiện bất ngờ. Có thể nói từ những gì quen thuộc nhất trong nền văn hoá, văn học dân gian của người Việt Nam được Nguyễn Khoa Điềm sử dụng, vận dụng, tái tạo một cách nhuần nhuyễn. - Đất Nước không xa xôi trừu tượng, không ở đâu xa, Đất Nước là những gì có thể bắt gặp ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình, của mỗi con người. Đất Nước đã được phát hiện từ trong cổ tích mẹ kể, miếng trầu bà ăn, ngôi nhà ta ở, hạt gạo ta dùng. Đất Nước hiện diện từ câu ca dao bình dị, từ cái kèo cái cột nôm na, từ vị gừng cay muối mặn mộc mạc, từ cách bới tóc sau đầu của người phụ nữ, từ hạt gạo dãi dầu một nắng hai sương … c. Đánh giá chung BÀI VĂN THAM KHẢO  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 8 Cùng viết về đề tài đất nước, cùng là thành tựu tiêu biểu của thi ca Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, nhưng cảm hứng sáng tác của hai nhà thơ Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm có nét riêng. Nguyễn Đình Thi chừng như hoà tan suy tư của mình vào cảm xúc. Còn Nguyễn Khoa Điềm cảm xúc muốn kết tinh lại trong suy tư. Sự chuyển hoá trong tư duy thơ ở Nguyễn Khoa Điềm có thể gọi là trữ tình triết luận. Một đoạn thơ chứng minh cho điều đó : Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi … Đất Nước có từ ngày đó. Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ thơ trẻ những năm chống Mĩ. Trong thơ của lớp nhà thơ này nổi bật lên sự tự ý thức của tuổi trẻ về vai trò, trách nhiệm của mình trong cuộc chiến đấu và sự tự nhận thức sâu sắc về Đất Nước, về Nhân dân qua những trải nghiệm của chính mình. Đoạn thơ trên thuộc chương V trong Trường ca Mặt Đường Khát Vọng. Trường ca này được tác giả hoàn thành ở chiến trường Trị – Thiên năm 1971. Mới nhìn thì chương V có vẻ không gắn với các chương khác, nhưng kì thực đây lại là điểm tựa, là cột trụ của tư tưởng tác phẩm : sự tự nhận thức của tuổi trẻ Việt Nam đứng về phía nhân dân, chia sẻ vận mệnh và trách nhiệm với dân tộc trong cuộc đấu tranh để giải phóng và bảo vệ đất nước. Tư tưởng xuyên suốt chương thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm chính là tư tưởng : Để Đất Nước này là đất nước của Nhân dân Đất Nước của Nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại. Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” được thể hiện một cách nhuần nhuyễn bằng “Đất Nước của ca dao thần thoại”. Chất liệu văn hoá, văn học dân gian kết tinh vẻ đẹp tâm hồn, truyền thống tinh thần của Nhân dân. Trong đoạn thơ trữ tình chính luận này, Nguyễn Khoa Điềm trình bày những cảm xúc và suy tưởng về Đất Nước dưới dạng một lới trò chuyện tâm linh, mạch cảm hứng và liên tưởng có vẻ tự do, phóng túng như một thứ tuỳ bút thơ. Qua đó, Nguyễn Khoa Điềm đã tạo được bút pháp nghệ thuật : biến một vấn đề chính trị thành một câu chuyện tâm tình, chuyển hoá ý thức công dân thành tình cảm cá nhân, đời tư hoá một chủ đề sử thi. Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Với giọng tâm tình sâu đậm, đằm thắm, câu thơ mở đầu quyết định chất giọng cho cả đoạn thơ. “Ta” hoà vào “Đất Nước”, lấy trải nghiệm bản thân để suy ngẫm về Đất Nước. Đất nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể. Lịch sử trường tồn của đất nước, chiều dài thời gian được nhắc đến không bằng cách thức trang trọng khi điểm lại các triều đại, mà bằng hình ảnh “ngày xửa ngày xưa”. Hình ảnh đó nằm trong đời sống tâm linh của mỗi con người Việt Nam, thế giới cổ tích luôn chất chứa ước mơ đẹp của nhân dân về cuộc đời tốt đẹp giành cho cái thiện, cái tâm. Mạch thơ chuyển hoá bất ngờ mà tự nhiên : Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc. Miếng trầu bà ăn, trồng tre đánh giặc là những hình ảnh dân dã, mộc mạc, bình dị trong sinh hoạt tập quán của người Việt từ ngàn đời nay. Câu thơ còn gợi nhớ đến những truyền thuyết và cổ tích vào loại xa xưa nhất của dân tộc : Thánh Gióng và Trầu Cau. Đồng thời thế giới trong hai câu chuyện trên tô đậm những phẩm chất của dân tộc ta, đó là tình nghĩa thuỷ chung trong quan hệ gia đình, yêu nước bất khuất trong đấu tranh giữ gìn biên cương bờ cõi. Câu thơ : “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn” như một nghich lí, phi lí. Đất nước là một khái niệm thiêng liêng, lớn lao, hệ trọng lại được “bắt đầu” bằng “miếng trầu”. Tác giả đã chọn hình thức phi lí để nói lên một chân lí. Đó là : một Đất Nước dù lớn đến đâu cũng bắt đầu từ những cái nhỏ nhoi. Vô số cái nhỏ nhoi mới làm nên sự lớn lao. Nói cách khác, không có những cái nhỏ nhoi như “miếng trầu” thì không có sự lớn lao của “Đất Nước”. Mỗi miếng trầu ngỡ như vô nghĩa đều giành trong nó một phần Đất Nước. Mỗi cái hiện diện hôm nay phía đằng sau có cả một lịch sử lâu dài. Quá khứ luôn có mặt trong hiện tại, lịch sử vẫn hiện diện hôm nay. Những câu thơ như không hề dụng công nghệ thuật lại chứa đựng phát hiện bất ngờ. Nó không chỉ là sản phẩm của tư duy sắc sảo, mà trước hết nó là sản phẩm của một tình yêu, một tấm lòng. Nếu không có sự trân trọng với tất cả những gì tổ tiên chắt chiu, gìn giữ trong mấy ngàn năm qua, thì mọi thứ triết luận dù sắc sảo đến đâu cũng không thể có được những câu thơ có thể đánh động vào tầng sâu của tâm linh người đọc đến thế được.  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 9 Có thể nói từ những gì quen thuộc nhất trong nền văn hoá, văn học dân gian của người Việt Nam được Nguyễn Khoa Điềm sử dụng, vận dụng, tái tạo một cách nhuần nhuyễn: Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo, cái cột cũng thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng. Từ tập quán bới tóc của người phụ nữ Việt Nam đến việc đặt tên, từ nền văn minh lúa nước đến tình nghĩa vợ chồng được nhào nặn bằng cảm xúc mới với ánh sáng mới, khiến cho câu thơ vừa rất hiện đại vừa thấm đẫm chất dân gian truyền thống. Điều đó tạo cho đoạn thơ một không gian nghệ thuật riêng, gợi mở ra một thế giới nghệ thuật hết sức gần gũi quen thuộc mà lại mĩ lệ bay bổng của văn hoá dân gian kết tinh tâm hồn, trí tuệ nhân dân. Người Việt Nam mình chất phác, bình dị trong cách sống, cách sinh hoạt, điều ấy dường như chỉ cần nói đến qua tập quán bới tóc, đặt tên. Hay là thành ngữ “một nắng hai sương” được hình thành từ đời sống cần lao của những người nông dân làm ra hạt gạo. Câu ca dao : “Tay nâng chén muối đĩa gừng, gừng cay muối mặn xin đừng phụ nhau” nhắc nhở về lối sống tình nghĩa. Câu thơ kết thúc : Đất Nước có từ ngày đó. Đất Nước không xa xôi trừu tượng, không ở đâu xa, Đất Nước là những gì có thể bắt gặp ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình, của mỗi con người. Đất Nước đã được phát hiện từ trong cổ tích mẹ kể, miếng trầu bà ăn, ngôi nhà ta ở, hạt gạo ta dùng. Đất Nước hiện diện từ câu ca dao bình dị, từ cái kèo cái cột nôm na, từ vị gừng cay muối mặn mộc mạc, từ cách bới tóc sau đầu của người phụ nữ, từ hạt gạo dãi dầu một nắng hai sương … Đoạn thơ mở đầu cho một chương trong trường ca Mặt Đường Khát Vọng đã nói lên một điều có ý nghĩa là, dù Đất Nước là đề tài muôn thuở, nhưng mỗi thời có cách cảm nhận riêng, làm phong phú thêm về Tổ Quốc thiêng liêng. Nhưng tất cả đều phải xuất phát từ một tấm lòng chung, đó là sự thiết tha, sự thuỷ chung với giang sơn Tổ Quốc. Có như thế tiếng thơ mới có thể làm rung động trái tim hàng triệu con người. SÓNG XUÂN QUỲNH  Luyện tập 1/ Nhận xét hình tượng thơ 2/ Phân tích vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ đang yêu trong bài thơ Sóng.  Gợi ý ĐỀ 1 - Bao trùm cả bài thơ là hình tượng “sóng”, nhưng còn một hình tượng nữa là “em”. - “Sóng” là hình tượng ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hoá thân của “em”. “Sóng” và “Em” vừa hoà nhập, vừa phân đôi ra để soi chiếu vào nhau, cộng hưởng.”Em” soi vào “Sóng” để hiểu rõ mình, “Em” nhờ “Sóng” để biểu hiện những trạng thái của tâm hồn. ĐỀ 2 a. Giới thiệu tác giả, tác phẩm b. Phân tích - Bốn khổ thơ đầu, con sóng có tính đối cực trong một chỉnh thể. Tâm hồn đang yêu đang tự nhận thức những biến động khác thường của lòng mình và khát khao vượt ra khỏi những giời hạn chật chội, tìm đến những miền bao la vô tận, như con sóng phải từ sông ra bể. Sóng trường tồn với thời gian, cũng như nỗi khát vọng tình yêu của con người- nhất là người trẻ tuổi còn mãi mãi. - Ba khổ giữa : + Tâm hồn đang yêu soi vào sóng mà diễn tả được nỗi nhớ chiễm lĩnh trọn không gian, thời gian và cả trong tiềm thức. + Tình yêu của người phụ nữ đòi hỏi sự thuỷ chung, như nhất - Hai khổ cuối : cái tôi trữ tình trở về với những suy nghĩ về thời gian và khát vọng vĩnh viễn của tình yêu.  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 10 c. Đánh giá chung BÀI VĂN THAM KHẢO Xuân Quỳnh, một gương mặt thơ rất đáng lưu ý của nền thơ Việt Nam hiện đại. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn gắn bó thiết tha với cuộc đời, với con người, khát khao tình yêu, trân trọng hạnh phúc bình dị đời thường. Nét nổi bật của thơ Xuân Quỳnh là sự dung dị, hồn nhiên và chân thật. Thơ tình yêu là một mảng đặc sắc và tiêu biểu cho hồn thơ Xuân Quỳnh, một tiếng nói trực tiếp bày tỏ những khát khao sôi nổi, mãnh liệt mà chân thành tự nhiên của một trái tim phụ nữ trong tình yêu. Sóng là một trong những bài thơ tình đặc sắc của Xuân Quỳnh. Sóng được Xuân Quỳnh viết tại Biển Diêm Điền cuối năm 1967, được in trong tập Hoa dọc chiến hào. Tựa đề bài thơ chính là thể hiện hình tượng trung tâm và nổi bật, hình tượng sóng. Sức sống và vẻ đẹp của bài thơ cũng như mọi sáng tạo nghệ thuật trong bài thơ đều gắn liền với hình tượng sóng. Cả bài thơ là những cơn sóng tâm tình của một người phụ nữ được khơi dậy khi đứng trước biển cả, đối diện với những con sóng vô hạn, vô hồi. Thực ra thì trong bài thơ còn có một tình tượng trữ tình nữa, đó là “em”. Sóng là một hình tượng ẩn dụ, là sự hoá thân cái tôi trữ tình của nhà thơ. “Sóng” và “Em” vừa hoà nhập làm một, lại vừa phân đôi ra để soi chiếu vào nhau, cộng hưởng. Tâm hồn người phụ nữ đang yêu soi vào sóng để thấy rõ lòng mình, nhờ sóng để thể hiện những trạng thái của lòng mình. Với hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã tìm được một cách thể hiện thật xác đáng vẻ đẹp tâm trạng của người phụ nữ trong tình yêu. Trước hết, có thể cảm nhận một hình tượng sóng được gợi ra trong cả bài thơ bằng âm điệu. Bài thơ của một âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng, lúc sôi nổi trào dâng, lúc thầm thì lắng sâu, gợi âm hưởng của những đợt sóng miên man. Am hưởng ấy được tạo nên bởi thể thơ năm chữ với vần nhịp phong phú đa dạng. Nhịp sóng cũng là nhịp lòng của tác giả, một tâm trạng đang xao động, chảy trôi miên man và chất chứa những khát khao, rạo rực. Bài thơ mở đầu bằng những trạng thái đối nghịch của sóng như một biện chứng kép. Sóng vừa “dữ dội, ồn ào”, lại vừa “dịu êm, lặng lẽ”, chính như trạng thái tâm hồn người phụ nhữ đang yêu, mang trong mình những đối nghịch, thất thường. Với sức sống và khát vọng không lúc nào nguôi ngoai, yên định, con sóng không thể không “tìm ra tận bể”. Hành trình của sóng hướng về biển rộng cũng chính là sự dứt khoát chối bỏ những giới hạn chật chội, những thoả mãn tầm thường để tìm đến những chân trời bao la, những khát vọng lớn rộng. Chỉ có ra đến biển, con sóng mới thật sự tìm thấy mình, mới nhận thức được sức mạnh và những khát khao của nó. Tình yêu cũng có qui luật của nó là sự vận động hướng về cái mới mẻ, cao rộng, như có lần Xuân Quỳnh phát biểu : Bởi tình yêu muôn thuở Có bao giờ đứng yên. Biển là biểu tượng của không gian lớn rộng, cũng như sóng là sự vĩnh hằng với thời gian. Đứng trước biển người ta thường nghĩ đến cái vô cùng vô tận của tự nhiên, của vũ trụ. Với Xuân Quỳnh bao giờ biển cũng khơi dậy những ước mơ, khát vọng lớn lao : Suốt cuộc đời biển gọi ước mơ. Nỗi khát vọng những phương trời chưa đến. Sóng trường tồn với thời gian, không ngừng nghỉ, không mệt mỏi “ngày xưa và ngày sau vẫn thế”. Cũng như nỗi khát vọng tình yêu sống mãi mãi với con người, trước hết là với tuổi trẻ: Nỗi khát vọng tình yêu Bồi hồi trong ngực trẻ. Đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi về sự khởi nguồn của tình yêu, người phụ cũng lại soi vào sóng : “Sóng bắt đầu từ gió, gió bắt đầu từ đâu ?” và chợt nhận thức về cái qui luật không thể cắt nghĩa rõ ràng của tình yêu : Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau. Cái điều mà trước kia Xuân Diệu đã tổng kết như phát biểu một chân lí : “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu”, thì nay Xuân Quỳnh lại phát hiện nó, nhưng bằng trực cảm, bằng sự trải nghiệm của chính lòng mình, được nói lên như một lời “thú nhận” thành thật, hồn nhiên mà không kém ý nhị, sâu sắc. Tình yêu đi liền với nỗi nhớ. Tâm hồn đang yêu lại soi vào sóng mà diễn tả cái sâu sắc, bao la của nỗi nhớ trong lòng mình : nó choán đầy cả tầng sâu và bề rộng, nó chiếm lĩnh trọn cả thời gian : Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước Oi con sóng nhớ bờ  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 11 Ngày đêm không ngủ được Như nỗi lòng người con gái : Lòng em nhớ đến anh Cả trong mơ còn thức Cái “thức”trong cả giấc mơ, nói lên được sự thật của nỗi lòng : nỗi nhớ không chỉ chiếm lĩnh ý thức mà còn thấm sâu vào tiềm thức. Tình yêu sôi nổi, nồng nhiệt của trái tim phụ nữ cũng lại là một tình yêu thật chân thành, trong sáng, một tình yêu hết mình và đòi hỏi sự duy nhất, tuyệt đối, sự gắn bó thuỷ chung. Như con sóng nào cũng hướng tới bờ và nhất định sẽ tới bờ “dù muôn vời cách trở”, thì lòng em cũng thế : Dẫu xuôi về phương bắc Dẫu ngược về phương nam Nơi nào em cũng nghĩ Hướng về anh một phương Quan niệm tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh mới mẻ, mạnh bạo, nhưng cũng rất gần gũi với mọi người và có gốc rễ trong tâm thức dân tộc. Tâm trạng người phụ nữ trong tình yêu, nhờ cách thể hiện sóng đôi qua “em” và “sóng” nên vừa bộc bạch trực tiếp, vừa được diễn tả đầy hình ảnh với các nét tâm trạng được trở đi trở lại như một điệp khúc bồi hoàn, như những vòng sóng nối tiếp nhau, lan toả. Nếu “sóng nhớ bờ ngày đêm không ngủ được” thì “em nhớ đến anh cả trong mơ còn thức” . Và nếu em ở nơi nào cũng nghĩ “hướng về anh một phương” thì sóng “con nào chẳng tới bớ dù muôn vời cách trở”. Hai khổ kết, cái tôi trữ tình trở về với những suy nghĩ về thời gian và khát vọng vĩnh viễn của tình yêu. Xuân Quỳnh vốn nhạy cảm với sự chảy trôi của thời gian, ý thức về thời gian hữu hạn của đời người : “cuộc đời tuy dài thế, năm tháng vẫn đi qua”. Từ niềm âu lo ấy dẫn đến khát vọng muốn được mãi mãi với muôn thuở của con người, được hoà nhập với vĩnh hằng. Với Xuân Quỳnh cái cách để sống mãi ấy là tình yêu. Người đàn bà ấy khát khao được sống hết mình cho tình yêu và được sống mãi với thời gian bằng tình yêu của mình. Sóng lại giúp Xuân Quỳnh nói lên niềm khao khát ấy : Làm sao được tan ra Thành trăm con sóng nhỏ Giữa biển lớn tình yêu Để ngàn năm còn vỗ. Khát vọng yêu cũng là khát vọng sống mãnh liệt, đủ đầy. Cuộc đời một con người dù có là dài thì rồi năm tháng cũng sẽ đi qua, nhưng tình yêu lớn sẽ còn mãi với thời gian, với các thế hệ con người. Xuân Quỳnh như sinh ra để yêu làm thơ. Thơ với Xuân Quỳnh là sự tiếp tục trọn vẹn và sâu sắc thêm cuộc sống chính mình. Sóng là một bài thơ như thế đó, thơ ca và tình yêu hoà hợp vào nhau để nói lên khát vọng sống mạnh mẽ, hết mình : Em trở về đúng nghĩa trái tim em Là máu thịt đời thường ai chẳng có Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi. ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA THANH THẢO  Luyện tập 1/ Ý nghĩa câu đề từ 2/ Cảm nhận về 2 đoạn thơ đầu trong bài Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo. 3/ Cảm nhận vẻ đẹp bài thơ.  Gợi ý ĐỀ 1 Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (trích Khối vuông ru-bích, 1985) của Thanh Thảo, lấy cảm hứng từ nhân cách cao đẹp cùng số phận oan khuất của nghệ sĩ Tây Ban Nha tài hoa. Câu đề từ bài thơ "khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn" được Thanh Thảo lấy từ câu thơ của Lor-ca trong bài Ghi nhớ : "khi nào tôi chết - hãy vùi xác tôi cùng cây đàn - dưới lớp cát". Hình tượng cây đàn, tiếng đàn ghi ta đồng nhất với hình tượng Lor-ca.  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 12 Nó là linh hồn của Lor-ca, là tinh thần yêu tự do, yêu cuộc sống, yêu nhân dân. Nó là số phận Lor-ca. Nó là mọi cung bậc thơ Lor-ca, mọi cung bậc cuộc đời Lor-ca : ngọt ngào và cay đắng, hạnh phúc và bi kịch, … Tiếng đàn không thể chôn được như linh hồn Lor-ca, như thơ Lor-ca không thể bị hủy diệt. Cây đàn giống như một chiếc thuyền giúp Lor-ca vượt dòng thời gian để đến được với cõi bất tử. ĐỀ 2 a. Giới thiệu tác giả và tác phẩm - Thanh Thảo là một gương mặt tiêu biểu của thơ chống Mĩ, cũng là cây bút luôn nỗ lực cách tân sau 1975, nổi bật là sự tìm kiếm những cách biểu đạt mới cho thơ. - Đàn ghi ta của Lor-ca là bài thơ lấy cảm hứng từ cái chết bi phẫn của nhà thơ lớn người Tây Ban Nha bị bọn phát xít Phrăng-cô giết hại năm 1936; là một trong những sáng tác tiêu biểu cho nghệ thuật thơ Thanh Thảo. b.Cảm nhận đoạn thơ * Về nội dung a. Hình tượng thơ: - Hình tượng người nghệ sĩ Lor-ca + Là người nghệ sĩ tài hoa, yêu tự do, lãng du mà đơn độc. + Là hiện thân của văn hoá Tây Ban Nha. + Là nạn nhân của những thế lực tàn ác với cái chết oan khuất, bi phẫn. - Hình tượng tiếng đàn của Lor-ca + Tiếng đàn là tâm hồn, là vẻ đẹp của nghệ thuật Lor-ca. + Tiếng đàn là thân phận của Lor-ca, cũng là thân phận của nghệ thuật nói chung trong một thực tại mà cái ác ngự trị. b. Cảm xúc của tác giả: Ngưỡng mộ tài năng và tiếc thương cho thân phận của Lor-ca. * Về nghệ thuật - Hình tượng thơ có sự song hành và chuyển hoá lẫn nhau giữa ba hệ thống hình ảnh: Tây Ban Nha, Lorca và tiếng đàn. - Lời thơ giàu nhạc tính với việc dùng những từ láy, điệp từ, điệp ngữ, chuỗi từ tượng thanh mô phỏng tiếng đàn. - Sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật có hiệu quả: đối lập, nhân hoá, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, … ĐỀ 3 : BÀI VĂN THAM KHẢO Từ xửa xưa, song song với định đề "thi trung hữu họa", bao giờ cũng là "thi trung hữu nhạc". Định đề ấy bảo rằng cùng với hoạ, nhạc là một yếu tính của thơ. Chừng nào còn thơ, chừng ấy thơ còn nhạc. Quả có vậy, nhạc là phần tinh chất của cảm xúc thơ đã được điệu thức hoá. Ngân nga cả bên trong cả bên ngoài mỗi tiếng thơ, nhạc đã thực sự là phần hồn của thơ. Nó là hơi thở của ngôn từ thơ. Tất nhiên, đây là nói nhạc của ngôn ngữ. Thơ đã phát huy bao hiệu quả phong phú của ngôn ngữ để cất lên tiếng nói riêng của mình. Không chỉ vậy, để làm giàu cho mình, thơ còn khai thác cả ngôn ngữ của nhạc nữa. Bao đời nay, đã có biết bao yếu tố nhạc từ vương quốc âm nhạc đã vượt biên, rồi nhập tịch vào thơ, ban đầu, tạm trú, về sau, thường trú. Thậm chí, nhờ sự cưu mang quá sâu nặng của thơ, trải đời này đời khác, mà nhiều thứ đã được... đồng hoá luôn. Dân ngụ cư đã biến thành dân sở tại. Gốc gác âm nhạc của chúng, đôi khi, chỉ còn là kí ức xa xăm. Đó phải chăng cũng là một kiểu hoà nhập tiếp biến ? Là một tay bút ham cách tân, Thanh Thảo cũng đã tạt sang âm nhạc vay mượn không ít vốn liếng đem về đầu tư cho thơ mình. Để làm các trường ca Những người đi tới biển, Những nghĩa sĩ Cần Giuộc, Bùng nổ của mùa xuân, Đêm trên cát..., anh đã mướn cấu trúc của những bản giao hưởng và xônát. Khiến cho các thi phẩm ấy có cái dáng là lạ như một thứ trường-ca- giao-hưởng. Còn để viết thơ ngắn, lắm khi anh lại giật tạm cấu trúc của ca khúc. Có lúc thì đem về lai ghép để tạo ra một diện mạo mới. Cũng có lúc lại làm theo kiểu biến đổi gen mà tạo ra giống mới. Nhiều bài thơ ngắn được anh tổ chức khá ngon lành theo thể thức của bài hát. Dáng của chúng nhang nhác như những ca-khúc-thơ. Mà cũng không chỉ vay cấu trúc thuộc văn bản khúc ca, anh còn mượn cả lối diễn tấu ca khúc để làm giàu cho hình thức thơ nữa. Đàn ghi-ta của Lorca là một "ca" như thế chăng? Nòi nghệ sĩ vốn dễ đồng bệnh tương lân. Do đồng bệnh mà đồng điệu. Cho nên, có một cách để hiểu một kẻ viết : cứ xem anh viết về ai, có thể biết anh là ai. Trong các thi sĩ nội, Thanh Thảo mê nhất Nguyễn Đình Chiểu, Cao Bá Quát, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Văn Cao, Đặng Đình Hưng... Còn những thi sĩ ngoại,  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 13 thấy anh viết đậm về Aragông, Êxênhin, Maicôpxki, Pasternac, Lorca... Về từng vị đều có những kí thác, những đồng điệu riêng. Nhưng, trong số những tay bút Tây phương anh ngưỡng mộ, thì trường hợp về Lorca, xem ra, thành công hơn cả. Là một nhà thơ lớn của Tây Ban Nha hiện đại, Lorca đã đem được chất dân gian Anđaluxia cùng sức sống của xứ sở bò tót vào thơ mình. Lại thạo dân nhạc, ông thường thích đi khắp xứ như một gã Digan đơn độc mà hát lên những bài thơ của mình như những khúc romance, ballad. Bởi vậy, Lorca như một nghệ sĩ kép : thi si kiêm nhạc sĩ. Cũng bởi vậy nhiều bài thơ Lorca thường sống cuộc đời kép : thi phẩm và nhạc phẩm Có người sẽ nghĩ : thơ về một nghệ sĩ độc đáo như thế, nếu có được một hình thức kép nữa thì thật là tam hợp ! Nhưng, tam hợp lại dễ sinh tam tai. Thanh Thảo không dại thế. Vả, làm thế cũng đâu ra võ của anh. Không thuộc kiểu thi sĩ mớm thơ cho nhạc, càng không phải một tay vãi nhạc vào thơ. Anh vẫn đi lại với nhạc, nhưng theo chiêu riêng : vừa nhập cấu trúc ca khúc vào lòng bài thơ vừa khảm thêm tiếng nhạc vào lời thơ. Nên, dù dan díu với nhạc, trước sau thơ anh vẫn luôn là thơ. Ngoài vốn thi liệu được tái chế, tái tạo từ di sản thơ của chính Lorca, thì ngôn ngữ của nhạc, cấu trúc của ca khúc sẽ bắc những nhịp cầu tương giao để hồn kẻ hậu sinh nói lời đồng điệu với bậc tiền nhân của xứ sở Tây ban cầm. Ngón ấy chẳng tương thích sao ? Đàn ghi-ta của Lorca chính là một lối thơ mà ở đó lời thơ đã cườm vào nét nhạc, hình tượng thơ đã cùng cấu trúc nhạc bay đôi. Thậm chí, để tiếng nói của thơ mình thêm phong phú, Thanh Thảo còn mô phỏng những âm thanh từa tựa các nốt đàn ghita, mô phỏng cả lối diễn tấu vẫn thường đệm cho người hát khi diễn nữa. Thanh Thảo đã chọn thời điểm bi phẫn nhất của cuộc đời Lorka cho cảm hứng của thi phẩm : lúc ông bị bắn chết. Lorca luôn dự cảm và bị ám ảnh khôn nguôi bởi cái chết. Nhưng ông cũng không thể ngờ cái chết phũ phàng nhất đã ập xuống thân phận mình. Đối với lòng tiếc thương, mọi cái chết đều ngang trái. Cái chết của Lorca càng ngang trái bội phần. Vì ông bị phatxit giết hại khi mới 37 tuổi, xác ông còn bị chúng quẳng xuống một cái giếng để phi tang. Mất mát kinh hoàng là thế, nhưng oái oăm thay, cái chết còn là một giải thoát. Giải thoát bất đắc dĩ nhưng hoàn toàn. Hẳn suy tư Thanh Thảo đã bị vây ám giữa những phản trái kia của cái chết. Nhất là lúc anh đọc được cái câu như một lời nguyện cuối, một di chúc viết sớm của Lorca : Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn ghi-ta. Và thế là thi phẩm đã tự chọn cho nó một hình hài : vừa là thơ viếng vừa như một bi ca. Có một cách mà từ xưa người ta đã dùng đến "mệt mỏi", trong những trường hợp thế này, là : lấy tên các tác phẩm của người ấy hay lời văn trong đó đem ghép lại với nhau cho chúng tạo ra một nội dung nào đó Thanh Thảo chọn cách khác. Thi liệu anh viết về Lorca toàn là những thi ảnh rất ám trong thế giới nghệ thuật của chính Lorca, mà sau những lãng quên chúng vẫn không thôi đeo bám Thanh Thảo : đàn ghi-ta, bài ca mộng du, con ngựa đen, vầng trăng đỏ, chàng kĩ sĩ đơn độc, áo choàng đấu sĩ, sắc máu đấu trường, cô gái Di gan, lá bùa hộ mệnh, hoa tử đinh hương... Và, tất nhiên, làm sao có thể thiếu được dòng sông cùng với cỏ mọc hoang vốn là những hình ảnh - biểu tượng từ lâu vẫn miên man với ngòi thơ Thanh Thảo ! Cảm hứng vụt dậy thì liền gọi luôn những đạo quân ấy về cho cùng đầu quân (đầu thai thì đúng hơn) vào thi phẩm này. Nhờ đó, hình tượng Lorca và suy cảm Thanh Thảo đã nói chung một thứ tiếng là dòng thi liệu đã trộn vào nhau đó. Thì tương giao, tâm giao cũng còn là thế chứ sao ? Trong xử lý thi liệu, Thanh Thảo có dùng những lối kết hợp khá phổ biến ở thơ tượng trưng. Ta gặp những Tiếng đàn bọt nước, tiếng ghi-ta nâu, tiếng ghi-ta lá xanh, tiếng ghi-ta tròn, tiếng ghi-ta ròng ròng máu chảy, về miền đơn độc, vầng trăng chếnh choáng, chôn cất tiếng đàn, đường chỉ tay, dòng sông rộng... Nhiều thi ảnh được tượng trưng hoá, khiến chúng có dạng một hình thể chứa nhiều hình ảnh. Đường chỉ tay là hiện thân của thiên mệnh. Đường chỉ tay đã đứt tượng trưng cho cú giáng phũ phàng trái ngang của số mệnh. Chiếc ghi-ta tượng trưng cho âm nhạc và thơ ca. Nó là cây đàn lia của chàng nghệ sĩ tài hoa. Chiếc ghita màu bạc là biến ảnh của chiếc ghi-ta nâu khi đã sang cõi khác. Đúng hơn, là chiếc ghi-ta đã hoá, giờ sang cõi siêu sinh. Thi sĩ bơi trên chiếc ghi-ta chính là bơi trên con thuyền của thi ca đang vượt qua bến bờ sinh tử. Lá bùa cô gái digan là cái đẹp huyền bí. Xoáy nước là tai hoạ định mệnh trên dòng sông của số phận, cũng là cái dòng sông ranh giới giữa cõi sống và cõi chết, giữa thực tại và hư vô. Hành động ném lá bùa và ném trái tim đều giàu hàm ý tượng trưng về sự giã từ, sự giải thoát của Lorca... Lối viết này không còn xa lạ đối với người đọc thơ Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên hay nhóm Xuân Thu nhã tập hồi Thơ Mới. Nhưng, nó đã được Thanh Thảo dùng nhuần nhị và ăn nhập để tạo ra cho thơ mình một cách nói hàm súc. Riêng cái câu giọt nước mắt vầng trăng trong đoạn bày tỏ nỗi đau xót và tiếc thương trước cái chết hết sức thương tâm của Lorca mà lời thơ kết hợp cả trượng trưng thơ Đường với tượng trưng Thơ Mới : không ai chôn cất tiếng đàn tiếng đàn như cỏ mọc hoang  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 14 giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng cũng thấy được vẻ súc tích của nó. Có phải câu ấy được viết theo lối "nghệ thuật sắp đặt" không, mà cứ đơn giản y như đặt hai hình ảnh bên nhau : giọt nước mắt - vầng trăng thế thôi ? Giữa chúng chẳng có một quan hệ từ nào. Thì ra, lắm khi, việc tước bỏ quan hệ từ lại là cách gia tăng nghĩa cho hình ảnh và lời thơ. Vì giờ đây, giữa chúng lại có thể phát sinh nhiều kiểu quan hệ, tạo ra nhiều làn nghĩa : 1) quan hệ đẳng lập : giọt nước mắt (và) vầng trăng ; 2) quan hệ song song : giọt nước mắt (với) vầng trăng ; 3) quan hệ so sánh : giọt nước mắt (như) vầng trăng ; 4) quan hệ sở hữu : giọt nước mắt (của) vầng trăng ; 5) quan hệ đồng nhất : giọt nước mắt (là) vầng trăng... Người đọc có một thoáng phân vân : vậy ý thực của câu thơ sẽ theo nghĩa nào ? Nhưng thoáng ấy sẽ qua nhanh bởi chỉ có câu trả lời duy nhất : nó phải là sự giao thoa và lung linh của tất cả các làn nghĩa ấy. Chẳng thế sao, trong mạch cảm xúc, trong hình tượng chủ đạo cũng như cấu tứ, các làn nghĩa kia đâu có loại trừ nhau. Trái lại, chúng làm giàu và làm đẹp cho nhau cả thôi. Vậy chả súc tích sao ? Còn mạch triển khai của thi phẩm lại là hợp lưu của cả hai dòng tự sự và nhạc. Việc tái hiện sự kiện Lorca bị hành hình với những diễn biến phũ phàng, dù chỉ là chấm phá, cũng đã ít nhiều đem lại một cái "cốt" cho thi phẩm. Muốn kể, thì cũng kể được đôi chút. Tâm tư người đọc bị cuốn ngay vào mạch kể qua các diễn biến ấy với những kinh hoàng, đau đớn và tiếc thương cho một con người vô tội, một bậc tài hoa oan khuất. Nhưng, dường như cái mạch kia còn tuân theo các bước phát triển thuộc về cấu trúc của một ca khúc nữa. Sự kiện Lorca bị hành hình vào bài thơ này đã dàn thành bốn phần nội dung với những khúc có dụng ý hẳn hoi về độ dài và tiết nhịp. Đầu tiên, phần giới thiệu, là hình ảnh Lorca theo lối ấn tượng : những tiếng đàn bọt nước / Tây Ban Nha / áo choàng đỏ gắt / li-la li-la li-la / đi lang thang về miền đơn độc / với vầng trăng chếnh choáng / trên yên ngựa mỏi mòn. Tiếp nối, phần phát triển, Lorca bị giết : Tây Ban Nha / hát nghêu ngao / bỗng kinh hoàng / áo choàng bê bết đỏ / Lorca bị điệu về bãi bắn / chàng đi như người mộng du. Kế đó, phần cao trào, là nỗi tiếc thương trước sự thực phũ phàng : tiếng ghi-ta nâu / bầu trời cô gái ấy / tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy / tiếng ghi-ta tròn bọt nước vỡ tan / tiếng ghi-ta ròng ròng / máu chảy / không ai chôn cất tiếng đàn / tiếng đàn như cỏ mọc hoang / giọt nước mắt vầng trăng / long lanh trong đáy giếng. Và cuối cùng, phần kết, với hình ảnh Lorca lìa bỏ tất cả và giải thoát : đường chỉ tay đã đứt / dòng sông rộng vô cùng / Lorca bơi sang ngang / trên chiếc ghi-ta màu bạc // chàng ném lá bùa cô gái di-gan / vào xoáy nước / chàng ném trái tim mình / vào lặng yên bất chợt / li-la li-la li-la... Tất nhiên, trước sau, đây vẫn là sản phẩm thơ chứ không phải là một sản phẩm nhạc. Nên các bước của cấu trúc này không thể "cóp" y sì theo lối "một ăn một" với những bước chuyển gam như trong một nhạc phẩm thực sự được. Mà làm cách ấy đối với thơ, chắc gì tránh khỏi sống sượng? Chiêu thức nhuần nhuyễn nhất, có lẽ là thế : nhập cấu trúc ca khúc vào với cốt tự sự để chúng đồng thể với nhau. Nếu chỉ dừng lại ở đó không thôi thì sắc thái ca khúc trong việc tổ chức mạch thơ hãy còn mơ hồ, chưa thuyết phục. Thú vị và bất ngờ nhất là việc khảm vào mạch ấy những âm thanh như cách diễn tấu của nhạc công khi đệm cho người hát một ca khúc. Sự có mặt của hai chuỗi li-la li-la li-la ở phần đầu và phần kết là thế. Thú thực, khi mới đọc bài thơ này trong tập Khối vuông Rubic, tôi thấy cái chuỗi kia là một nét lạ, nhưng nhác nghĩ : lại một trò "tân hình thức" đây. Cha Thanh Thảo này cũng bày đặt gớm. Nhưng đọc kĩ hơn thì thấy hình như có một nghĩa lý nào đó hay hay, chứ không hẳn chỉ là những con âm rỗng nghĩa. Nhưng thực hư ra sao, thì cứ tù mà tù mù. Mãi sau, đọc kĩ hơn vào cấu trúc mới vỡ lẽ : té ra đây lại là sự giao duyên kì thú của thơ và nhạc. Cụ thể là giao thoa giữa thanh âm và thi ảnh. Mở đầu là hai câu : Những tiếng đàn bọt nước / Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt. Thanh Thảo chọn hai hình ảnh này khởi đầu một thi phẩm giống như kiểu tạo những âm chủ cho một nhạc phẩm. Chúng là những tương phản kín đáo mà gay gắt : âm thanh hồn nhiên - sắc màu chói gắt, tiếng đàn thảo dân - áo choàng đấu sĩ, vẻ khiêm nhường - sự ngạo nghễ, niềm hân hoan - nỗi kinh hoàng, nghệ thuật bạo lực, thân phận bọt bèo - thực tại tàn khốc... Cặp hình ảnh cứ ngỡ tương phùng nào ngờ lại tương tranh. Nội dung chủ đạo mà thi phẩm triển khai sẽ là phận người trong một hiện thực đầy tranh chấp đối chọi như thế. Rồi ngay sau hai câu mào đầu đó là chuỗi âm thanh li-la li-la li-la. Nó như một chuỗi nốt đàn buông do người đệm đàn (ghi ta) lướt qua hàng dây để kết thúc phần dạo, đánh dấu khoảng ngắt cho người hát chính thức bắt lời trình diễn ca khúc. Và thi phẩm cũng kết thúc bằng sự trở lại của chuỗi âm thanh ấy. Nó tựa những tiếng đàn đệm cuối cùng nhằm tạo những dư âm sau khi lời hát đã ngừng. Đấy chẳng phải là một lối phối âm quen thuộc trong diễn tấu ca khúc sao ? Mà cũng có thể hình dung nó như tiếng huýt sáo ngẫu hứng của người ca sĩ trên nền nhạc khi diễn tấu. Ngẫu hứng mà đầy xao xuyến. Khi âm thanh gây niềm xao xuyến thì tự nó cũng chất chứa thi vị chứ sao !  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 15 Song, nếu chỉ có thế, thì việc phỏng âm nhạc ấy bất quá, cũng chưa đi xa hơn bao nhiêu một trò trang sức hoa mĩ. Về nghĩa, lila lại chính là một loài hoa có màu tím ngát rất được người phương Tây ưa chuộng : hoa lila - tức hoa tử đinh hương. Chuỗi âm thanh kế tiếp gợi hình ảnh những tràng hoa chuỗi hoa bật tím liên tiếp. Đó là những đoá hoa người đời, người thơ thầm kính viếng hương hồn Lorca hay chính là ngàn muôn đoá hoa của sự sống đang nảy nở từ cái chết đau thương của nhà thi sĩ, thể hiện sức sống bất diệt của những giá trị chân chính trên cõi đời này ? Có thể là thế này, có thể là thế kia, mà có lẽ là cả hai. Vì thế, chính cái chuỗi âm thanh ngỡ không đâu ấy lại chứa đựng rất nhiều cảm thương, niềm tin và lòng ngưỡng mộ sâu kín của người viết. Thiếu ý nghĩa của một thi ảnh, chuỗi li la kia khó vượt qua một trò diễn âm thanh cầu kì. Mỗi nghệ phẩm là một sản phẩm không lặp lại. Không chỉ nội dung, mà ngay cả hình thức. Năng lượng sáng tạo có thể tích tụ lâu dài trong cả ý thức và tiềm thức, bằng cả vốn sống, vốn văn hoá cùng kinh nghiệm nghệ thuật. Nhưng nó chỉ xuất ra có một lần. Mỗi bài thơ là một lần loé sáng, một tia lửa không lặp lại. Tôi ngờ, bản thân người viết cũng chẳng bao giờ kiểm soát hết được những gì loé lên trong tia lửa ấy. Sáng tạo nghệ thuật là thế ; phải thế mới là nghệ thuật. Thanh Thảo có thể sử dụng tiếp những chiêu y sì thế này để viết thi phẩm khác nữa không ? Nếu có, e rằng khó tránh khỏi hậu quả của nhân bản vô tính về hình thức. Là người ham tìm tòi cách tân, Thanh Thảo hiểu rõ điều đó. "Với những bài thơ hay - anh viết, thi sĩ sáng tạo với toàn bộ thể chất và tâm linh mình, và không biết cái nào bắt đầu trước : thể xác hay tâm linh ? đó là những bài thơ người ta chỉ phóng ra có một lần, xuất ra có một lần, rồi ngắt. Phần tích điện, phần thu góp là cả một quá trình nhưng sáng tạo là khoảnh khắc. Khoảnh khắc ấy xảy ra càng đột ngột bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu".Và anh cũng tâm niệm : Những người tìm đến sự hoàn mĩ của hình thức nghệ thuật thường dễ gặp nhau. Mà trong nghệ thuật, trong thơ, hình thức là gì ? Hình thức chính là sự hiện diện nghệ thuật riêng của từng nghệ sĩ. Không có cái hình thức đó thì cũng chẳng bao giờ có nghệ thuật.Tôi nghĩ, với thi phẩm này chẳng hạn, anh đã có được điều đó. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG ? (Trích) HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG  Luyện tập Phân tích vẻ đẹp của sông Hương  Gợi ý a. Giới thiệu về tác giả, tác phẩm - Hoàng Phủ Ngọc Tường, con người đậm "chất Huế", đặc biệt sở trường về thể tùy bút, bút kí. Qua đó hiện lên là nhà văn có phong cách độc đáo : Tài hoa, một nhà thơ thật sự trong văn xuôi ; uyên bác, đặc biệt về Huế ; giàu trí tưởng tượng ; yêu tha thiết sông Hương và cố đô Huế. Bài Ai đã đặt tên cho dòng sông ? được viết tại Huế tháng 1-1981, rút trong tập kí cùng tên. - Bài kí ca ngợi dòng sông Hương và rộng hơn là vùng đất cố đô Huế đẹp và thơ mộng, ca ngợi lịch sử vẻ vang của Huế, ca ngợi văn hóa và tâm hồn người Huế. Tác giả coi sông Hương là biểu tượng của tất cả những gì là vẻ đẹp của cảnh và người đất cố đô này. b. Phân tích b.1 Cảm nhận chung - Với một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, một vốn văn hóa phong phú về Huế và trước hết, với một tình cảm vô cùng thiết tha đối với Huế, tác giả đã huy động triệt để mọi tiềm năng văn hóa cùng với vốn ngôn từ giàu có của mình để phát hiện, diễn tả vẻ đẹp và chất thơ của Huế thể hiện tập trung ở dòng Hương giang như một biểu tượng của Huế. - Sông Hương thường được khám phá ở vẻ đẹp của Huế "đây xứ mơ màng, đây xứ thơ" (Tố Hữu) : "Con sông dùng dằng, con sông không chảy - Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu" (Thu Bồn). Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, ông theo "hành trình gian truân" của sông Hương từ thượng nguồn Trường Sơn, nên phát hiện vẻ đẹp hùng tráng của nó, đó là "bản trường ca của rừng già", là dòng sông "của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc". b.2 Vẻ đẹp ở cảnh sắc thiên nhiên Có vẻ đẹp "phóng khoáng và man dại", "rầm rộ", "mãnh liệt" - "một bản trường ca của rừng già" khi nó đi giữa đại ngàn Trường Sơn ; có vẻ đẹp "dịu dàng và trí tuệ" khi trở thành "người mẹ phù sa" của một vùng đất đế đô ; có vẻ đẹp biến ảo như phản quang nhiều màu sắc của nền trời tây nam thành phố "sớm xanh, trưa vàng, chiều tím" ; có vẻ đẹp "vui tươi hẳn lên" khi đi qua những bờ bãi xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long ; có vẻ đẹp  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 16 "trầm mặc" "như triết lí, như cổ thi" khi lăng lẽ chảy dưới chân những rừng thông u tịch với những lăng mộ âm u mà kiêu hãnh ; có vẻ đẹp "mơ màng trong sương khói" khi nó rời xa thành phố … b.3 Vẻ đẹp từ góc độ văn hóa Tác giả gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển Huế : sông Hương ấy là "người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya" ; liên tưởng đến Nguyễn Du và truyện Kiều. Tác giả cho rằng có một dòng sông thi ca về sông Hương, một dòng sông "không bao giờ lặp lại mình", ấy là "dòng sông trắng - lá cây xanh" của Tản Đà "tinh tế” ; là vẻ đẹp "khí phách" trong thơ Cao Bá Quát " như kiếm dựng trời xanh" ; là "nỗi quan hoài vạn cổ" trong thơ Bà Huyện Thanh Quan ; là "sức mạnh phục sinh tâm hồn" trong thơ Tố Hữu … b.4 Vẻ đẹp từ góc độ lịch sử : Sông Hương "oanh liệt" của thế kỉ trung đại, "vẻ vang" của thời Nguyễn Huệ, "bi tráng" của thế kỉ XVIII, "rung chuyển" của Cách mạng tháng Tám, "nồng nhiệt" của mùa xuân Mậu Thân, … b.5 Vẻ đẹp trong trí tưởng tượng sáng tạo, tài hoa của tác giả Ong đã nhìn sông Hương như cô gái Huế, từng có lúc là một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại, nhưng nói chung là một thiếu nữ tài hoa, dịu dàng mà sâu sắc, đa tình mà kín đáo, lẳng lơ nhưng rất chung tình, khéo trang điểm để không lòe loẹt phô trương, … c. Đánh giá chung Đoạn trích là đoạn văn xuôi súc tích và đầy chất thơ về sông Hương. Nét đặc sắc làm nên sức hấp dẫn của đoạn văn là những xúc cảm sâu lắng được tổng hợp từ vốn hiểu biết phong phú về văn hóa, lịch sử, địa lí và văn chương cùng một văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa. BÀI THAM KHẢO Ai đó đã từng viết “ Đất nước có nhiều dòng sông nhưng chỉ có một dòng sông để thương, để nhớ như đời người có nhiều cuộc tình nhưng chỉ có một cuộc tình để mãi mãi mang theo”. Vâng, “một dòng sông để thương, để nhớ” của mỗi người rất khác nhau. Nếu tên tuổi Văn Cao gắn liền với sông Lô hùng tráng; nếu Hoàng Cầm là nỗi nhớ của ta khi ngang qua “Sông Đuống trôi đi một dòng lấp lánh”; nếu Hoài Vũ mãi là nhà thơ của con sông Vàm Cỏ đêm ngày thao thiết chở phù sa, thì Hoàng Phủ Ngọc Tường đã song hành cùng sông Hương đi vào trái tim người đọc với “Ai đã đặt tên cho dòng sông?.”... Có một huyền thoại vọng về từ làng Thành Trung, một ngôi làng trồng rau thơm ở Huế: Vì yêu quý con sông xinh đẹp, người dân hai bên bờ sông Hương đã nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống dòng sông cho làn nước xanh thắm ấy mãi mãi thơm tho. Phải chăng đó là cách lý giải tên của Hương Giang – con sông gắn liền với Huế, gắn liền với tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường? Bút ký “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” được viết năm 1981, khi tác giả đã sống bên bờ sông Hương, sống trong lòng Huế hơn 40 năm trời, tình yêu máu thịt đối với quê hương cứ lớn lên từng ngày và nó hiện hữu ở mọi thời gian, mọi không gian. Khi tác giả ngồi đọc truyện Kiều giữa mùa thu, trong một khu vườn xưa cổ, nơi có những loài hoa đang nở, trái cây đang chín, yên tĩnh và khoáng đạt - khu vườn tọa lạc trên vùng đất mà Nguyễn Du từng sống nên thiên nhiên của “mảnh đất Kinh- xưa” đã in bóng trong thơ Nguyễn, ngược lại sông Hương và Huế đã gợi cho tác giả hình tượng của cặp tình nhân lý tưởng: Kim- Kiều. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một dòng chảy nào đáng yêu đến thế, sông Hương đến với Huế qua cái nhìn của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã mang hình ảnh một cô gái mỹ miều đến với tình yêu. Hãy ngắm nhìn nàng trước khi gặp Huế, đó là “một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại” “bản lĩnh và gan dạ” có một tâm hồn “ tự do và trong sáng”, đó là hình ảnh “ bản trường ca của rừng già” rầm rộ và mãnh liệt nhưng cũng có lúc “dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”, nàng đã chế ngự sức mạnh bản năng của mình để đến lúc ra khỏi rừng già sẽ trở nên dịu dàng và trí tuệ. Để đến với Huế, sông Hương phải băng qua một hành trình, phải chuyển dòng liên tục, như một cuộc kiếm tìm thiết tha và rạo rực, vô vàn địa danh mà dòng nước ấy đã trôi qua Hòn Chén, Ngọc Trản, Nguyệt Biều, Lương Quán, Thiên Mụ… người con gái Di-gan ấy đã đột ngột uốn mình theo một đường cong thật mềm nhưng “vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một lòng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản, để sắc nước trở nên xanh thẳm”, nàng vẫn còn mang một vẻ buồn trầm mặc như triết lý, như cổ thi… cho đến khi gặp được tiếng chuông Thiên Mụ, nghe âm thanh bát ngát tiếng gà, từ ấy sông Hương rạng rỡ như nắng mới, nàng uốn một cánh cung thật nhẹ, đến khi giáp mặt với thành phố, đường cong ấy làm cho nàng “mềm hẳn đi, như một  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 17 tiếng "vâng" không nói ra của tình yêu”- Cái phút ban đầu để đến với “người tình” của sông Hương như thế đấy! Nàng đã tự làm mới mình để hiến tặng những gì đẹp nhất cho người yêu. Sông Hương - dòng sông thuộc về một thành phố duy nhất - đã rời cuộc sống hoang dã của rừng để đến với Huế và chỉ Huế mà thôi, nàng như “sông Xen của Paris, sông Ðanuýp của Buđapet…” chảy trong lòng thành phố yêu quý của mình nhưng khác ở chỗ nàng đẹp một cách huyền hồ như đang che khuôn mặt diễm kiều bằng tấm voan sương khói, nàng trôi lặng lẽ với nghìn ánh hoa đăng vào hội rằm tháng 7 bồng bềnh chao nhẹ trên mặt nước như vương vấn một nỗi lòng . Tôi chợt nhớ đến một câu nói “có những dòng tình cảm, rất sâu nên rất đỗi lặng lờ”, dòng chảy êm đềm của sông Hương hay chính là tình yêu sâu lắng mà nàng dâng tặng cho thành phố Huế? Vẻ đẹp của sông Hương còn là vẻ đẹp của một nền văn hóa, vẻ đẹp của người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya ,toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đã được sinh sôi trên mặt sông này và hơn thế khắp lưu vực sông còn vang vọng những điệu hò dân dã, những điệu hò thấm đẫm tấm chung tình, thấm đẫm lời thề của sông Hương trước phút chia tay với Huế mà trôi về biển cả. Nhưng chẳng phải bao giờ sông Hương cũng là người con gái đằm thắm ,dịu dàng, mềm mại trong lòng Huế, đã có một thời sông Hương “mang tên là Linh Giang, dòng sông viễn châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam” của Tổ quốc, vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân, “dòng sông của thời gian ngân vang", của lịch sử viết giữa màu cỏ xanh, lá biếc… Sông Hương được nhìn như một người con gái đến với tình yêu, dâng tặng những vẻ đẹp mà mình có được cho người yêu, đắm mình trong tình yêu để khám phá và hoàn thiện bản thân. Từ một dòng sông hoang dại, bí ẩn, nàng đã trở thành một sông Hương rất mực dịu dàng, rất mực tài hoa, rất mực kiên cường, rất mực hy sinh… Cho nên, từ khi có được sông Hương, Huế - chàng Kim của nàng- cũng có nhiều thay đổi. Từ hoang sơ với “cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” hay kiêu hãnh âm u với những lăng tẩm đền đài đồ sộ, đã hóa thành vẻ đẹp cổ kính mà thơ mộng, khiến người con của Huế dù đến Pari, Buđapét hay Leningrad vẫn đau đáu nhớ về một thành phố với nguyên dạng đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông. Huế càng lung linh hơn khi sông Hương chở trong lòng Huế những nét đặc thù của hội Hoa đăng, của ca Huế, man mác tiếng rơi của những mái chèo khuya. Có sông Hương, Huế trở thành biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng, Huế chiến đấu oanh liệt bảo về biên giới phía Nam của Đại Việt, Huế là kinh thành của người anh hùng Nguyễn Huệ, Huế cùng sông Hương đi vào Cách mạng tháng 8 bằng những chiến công rung chuyển. Huế đã cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc trong cuộc trường chinh máu lửa bên cạnh sông Hương - dòng sông của sử thi đã tự hiến đời mình làm một chiến công. Tình yêu của sông Hương và Huế - một tình yêu lãng mạn và âm vang sức sống, một tình yêu như một cuộc tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, bản hợp xướng diệu kỳ giữa thi ca và âm nhạc. Tình yêu ấy được vun đắp bởi ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường, đứa con thân yêu của Huế, yêu Huế, yêu sông Hương, nhìn ngắm sông Hương khi gần kề để phát hiện ra dòng sông ấy “đang đổi sắc không ngừng dưới ánh nắng và mùi hương của hoa trái trong vườn”, lúc xa xôi gần nửa vòng trái đất, nhìn Nê va để sông Hương tìm về trong niềm nhớ. Sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ mang vẻ đẹp trời phú mà còn ánh lên vẻ đẹp của con người, những tài nữ đánh đàn, những người dân Châu Hóa lái thuyền xuôi ngược, những người con anh dũng đã hi sinh, những Nguyễn Du, những bà huyện Thanh Quan, những Tố Hữu…đã viết thơ trên dòng chảy long lanh in bóng mây trời. Cũng như tình yêu của sông Hương với Huế, tình yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương cũng là quá trình dâng tặng, khám phá và hoàn thiện chính mình. Tuy nhiên, vì sông Hương là hóa thân của huyền thoại nên câu hỏi bâng khuâng của một người Hà Nội khi lặng lẽ ngắm nhìn dòng nước : “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” vẫn là một câu hỏi lửng lơ chưa có lời giải đáp , câu hỏi đã thành tên cho một thiên bút ký tuyệt vời… NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ NGUYỄN TUÂN  Luyện tập 1/ Hoàn cảnh sáng tác-Giá trị tác phẩm 2/ Phân tích hình tượng sông Đà 3/ Phân tích cuộc giao tranh giữa người lái đò với thác dữ  Gợi ý  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 18 ĐỀ 1 - Hoàn cảnh sáng tác : Người lái đò sông Đà in trong tập tuỳ bút Sông Đà (1960), gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. Đây là kết quả của nhiều dịp ông đến với Tây Bắc, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Phong cảnh Tây Bắc dưới ngòi bút của ông vừa hùng vĩ uy nghiêm, vừa tuyệt vời thơ mộng. Ong ca ngợi những con người đến với Tây Bắc là “thứ vàng mười đã được thử lửa”, là “chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc”. Tuỳ bút Sông Đà có nhiều bức tranh sinh động và nhiều hình tượng giàu sức hấp dẫn, đồng thời cũng đậm đà cảm hứng lãng mạn trong sáng. - Người lái đò sông Đà vừa là một công trình khảo cứu công phu, vừa là một áng văn giàu tính thẩm mỉ về sông Đà và con người sông Đà, thể hiện rõ phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân. ĐỀ 2 (BÀI VĂN THAO KHẢO) Người lái đò sông Đà in trong tập tuỳ bút Sông Đà (1960), gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. Đây là kết quả của nhiều dịp ông đến với Tây Bắc, đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Có hai nhân vật dưới cách nhìn của Nguyễn Tuân trong thiên tuỳ bút này : “nhân vật” sông Đà và nhân vật người lái đò sông Đà. “Chúng thuỷ giai đông tẩu. Đà giang độc bắc lưu”. Nguyễn Tuân dùng hai câu thơ Nguyễn Quang Bích giới thiệu sông Đà. Sông Đà dưới ngòi bút Nguyễn Tuân không phải là thiên nhiên vô tri vô giác mà là “ con sông Đà”, một sinh thể có hoạt động, có tính cách, cá tính, có tâm trạng hẳn hoi và khá phức tạp. Nó có hai nét tính cách cơ bản - như tác giả gọi “hung bạo và trữ tình”. Lúc hung bạo, nó như “kẻ thù số một” của con người. Lúc trữ tình, nó lại đầy chất thơ và thân thiết với con người như một “cố nhân”, xa thì nhớ nhung lưu luyến. Hung bạo của “con sông Đà” ở những đoạn thác dữ, những đoạn bờ sông dựng vách thành, những quãng hẹp như cái yết hầu, những cái hút nước chết người … Lúc này sông Đà “có tâm địa và diện mạo một thứ kẻ thù số một của con người”. Tác giả tựa như một nhà quay phim lão luyện vừa cho người xem thấy bao quát khung cảnh Sông Đà, vừa thỉnh thoảng dừng lại cống hiến những pha cận cảnh thật tiêu biểu đặc tả sự dữ dằn của con sông. Để khắc hoạ cái huyền bí có phần hoang sơ của dòng sông, nhà văn đã vận dụng tổng hợp các giác quan khác nhau và có những so sánh táo bạo, mới mẻ, bất ngờ. Sự hung bạo của Sông Đà được Nguyễn Tuân thể hiện tài tình. Chẳng hạn như nhằm tô đậm những con sóng dữ, nhà văn đã dùng những câu có kết cấu trùng điệp, tạo nên nhịp điệu khẩn trương, gấp gáp giống như sự chuyển vần của gió to, sóng lớn:“ Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm …”. Đoạn văn này có thể cung cấp đầy đủ những hình ảnh cần thiết cho những hoạ sĩ nào ưa vẽ những cảnh tượng sông nước dữ dằn, rùng rợn : “Nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc. Trên mặt cái hút xoáy tít đáy cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn … Những cái giếng sâu nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào … Có những cái thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưói dòng sông đến mươi phút sau mới thành tan xác ở khuỷnh sông dưới …”. Con Sông Đà trở thành một loài thuỷ quái vừa hung ác vừa nham hiểm. Tác giả gợi cho người cảm giác về âm thanh “tiếng nước”, nó đa dạng “van xin, oán trách, khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”, có lúc “rống lên như ngàn con trâu mộng”. Còn là cảm giác hình ảnh thị giác, nước sông Đà như đang lồng lộn giữa “rừng lửa”. Một lối liên tưởng độc đáo nước với lửa. Lòng sông trắng xoá bày “thạch trận trên sông”. Nguyễn Tuân đã dựng dậy và thổi sự sống vào cho những hòn đá vô tri vô giác. Hòn thì “bệ vệ oai phong lãm liệt”, hòn thì “ngỗ ngược”, hòn thì “nhăn nhúm méo mó” … Lúc giao chiến, có hòn “hất hàm” hỏi tên tuổi đối phương, hòn khác thì “lùi lại một chút và thách thức” … Thạch trận có ba tuyến hẳn hoi, tiền vệ trong như sơ hở để dụ địch thủ, tuyền hai “đánh khuýp quật vu hồi”, tuyến ba tiêu diệt. Nhưng bên cạnh tính “hung bạo”, Sông Đà còn là dòng sông “trữ tình”. Dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, Sông Đà quả là một công trình nghệ thuật tuyệt vời của tạo hoá, nó mềm mại như áng tóc người phụ nữ kiều diễm “tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo”. Màu sắc Sông Đà thay đổi theo mùa, xuân thì “xanh ngọc bích”, hạ thì “lừ lừ chín đỏ”, có lúc lại loé lên màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu”. Phải là người có một vốn văn hoá phong phú và một tâm hồn thi sĩ thì mới có được cái liên tưởng bất ngờ kia giữa vẻ đẹp Sông Đà với bài thơ tuyệt vời của Lí Bạch viết về tình bạn cố nhân. Sông Đà trở thành nỗi nhớ và người bạn thân thiết của con người, một “cố nhân”. Nguyễn Tuân rất chú ý đến âm thanh, nhịp điệu của câu văn xuôi diễn tả vẻ đẹp trữ tình của con Sông Đà:“ Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như đời Lí, đời Trần, đời Lê quãng sông này cũng lặng tờ như vậy mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Cỏ gianh đồi núi đang  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 19 ra những nõn búp… Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích ngày xưa”. Bằng cách cấu trúc câu trùng điệp, cách so sánh độc đáo, cách nhân hoá và liên tưởng bất ngờ…, Nguyễn Tuân đã khắc hoạ được con sông Đà vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng. Đây chính là sự ngợi ca, niềm tự hào về quê hương đất nước của nhà văn. ĐỀ 3 a. Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm - Trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Tuân có dịp đến với Tây Bắc nhiều lần. Năm 1958, ông trở lại Tây Bắc trong chuyến đi thực tế và kết quả là tập tuỳ bút Sông Đà được ra đời. Tây Bắc hiện ra một thiên nhiên vừa dữ dội hùng vĩ vừa mĩ lệ duyên dáng, con người Tây Bắc như là “chất vàng mười” được tôi luyện thử thách. Bài Người lái đò Sông Đà rút từ tập Sông Đà ghi lại cảm nghĩ của nhà văn về vùng đất này. - Có hai nhân vật dưới cách nhìn của Nguyễn Tuân trong thiên tuỳ bút này : “nhân vật” sông Đà và nhân vật người lái đò sông Đà. Tác giả mô tả tập trung nhân vật người lái đò ở trường đoạn người lái đò giao tranh với thác dữ. b. Phân tích b.1. Giới thiệu về sông Đà và ông lái đò : Nguyễn Tuân viết : “Tôi xin ghi ở đoạn này cái hình ảnh chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà”. Một câu văn có đến ba từ gợi lên chất quân sự dữ dội “ chiến đấu, chiến trường, thuỷ chiến”. - Sông Đà “hung bạo” ở những đoạn thác dữ, những đoạn bờ sông dựng vách thành, những quãng hẹp như cái yết hầu, những cái hút nước chết người … Lúc này sông Đà “có tâm địa và diện mạo một thứ kẻ thù số một của con người”. Tác giả tựa như một nhà quay phim lão luyện vừa cho người xem thấy bao quát khung cảnh Sông Đà, vừa thỉnh thoảng dừng lại cống hiến những pha cận cảnh thật tiêu biểu đặc tả sự dữ dằn của con sông. Để khắc hoạ cái huyền bí có phần hoang sơ của dòng sông, nhà văn đã vận dụng tổng hợp các giác quan khác nhau và có những so sánh táo bạo, mới mẻ, bất ngờ. Nhằm tô đậm những con sóng dữ, nhà văn đã dùng những câu có kết cấu trùng điệp, tạo nên nhịp điệu khẩn trương, gấp gáp giống như sự chuyển vần của gió to, sóng lớn :“ Nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm …”. Con Sông Đà trở thành một loài thuỷ quái vừa hung ác vừa nham hiểm. Tác giả gợi cho người cảm giác về âm thanh “tiếng nước”, nó đa dạng “van xin, oán trách, khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo”, có lúc “rống lên như ngàn con trâu mộng”. Còn là cảm giác hình ảnh thị giác, nước sông Đà như đang lồng lộn giữa “rừng lửa”. Một lối liên tưởng độc đáo nước với lửa. Lòng sông trắng xoá bày “thạch trận trên sông”. Có đá “mai phục”, có đá “nhổm cả dậy”. Nguyễn Tuân đã dựng dậy và thổi sự sống vào cho những hòn đá vô tri vô giác. Hòn thì “bệ vệ oai phong lãm liệt”, hòn thì “ngỗ ngược”, hòn thì “nhăn nhúm méo mó” Thạch trận có ba tuyến hẳn hoi, tiền vệ trong như sơ hở để dụ địch thủ, tuyền hai “đánh khuýp quật vu hồi”, tuyến ba tiêu diệt. - Nhân vật người lái đò sông Đà ơ đây là người lái đò-nghệ sĩ. Chở đò mà là một nghệ thuật cao cường đầy tài hoa, gọi là “tay lái ra hoa”. Nghệ thuật ở đây, như tác giả nói, là nắm chắc “qui luật tất yếu của dòng nước sông Đà”. Và vì làm chủ được qui luật ấy nên có tự do. Nhưng đây là một qui luật hết sức khắc nghiệt. Một phút thiếu chính xác, một tích tắc thiếu bình tĩnh, loá mắt, lỡ tay là phải trả giá bằng sinh mạng của mình. Nhà văn đã khắc hoạ một hình tượng đẹp “trên thác hiên ngang một người lái Sông Đà có tự do, vì người lái đò ấy đã nắm được cái qui luật tất yếu của dòng nước Sông Đà”. b.2 Cuộc giao tranh : - Cuộc chiến đấu giữa ông lái đò đầy trí dũng với con thác dữ hiện lên như trong một trường đoạn phim thật sôi động, hấp dẫn. Như một viên tướng xung trận, người lái đò thật oai phong, bình tĩnh, tỉnh táo hiểu đối tượng, ứng phó linh hoạt. Một đoạn văn dựng cảnh đầy giá trị tạo hình, một lối thuật kể hồi hộp, đầy kịch tính căng thẳng, dùng đến cả tri thức quân sự và võ thuật. Ngôn ngữ Nguyễn Tuân có điều kiện khoe hết góc cạnh và sự giàu có của nó. - Lúc giao chiến, có hòn “hất hàm” hỏi tên tuổi đối phương, hòn khác thì “lùi lại một chút và thách thức”. Một loạt động từ miêu tả sông Đà “hò la, ùa vào, đá, thúc, đội, bám” chiếc thuyền nhỏ sáu người trên đó. Ong lái đò đã “nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá … thuộc qui luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này” nên nhanh chóng chiến thắng vòng đầu. Tiếp đến là vòng hai, “cưỡi lên thác sông Đà, phải cưỡi đến cùng như cưỡi hổ”. Hình ảnh ông lái đò “nắm chặt cái bờm sóng, … bám chắc cai luồng nước, … phóng  TailieuontapNGUVAN12 – Luuhanhnoibo.2011 20
- Xem thêm -