Tác phẩm

  • Số trang: 30 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 21 |
  • Lượt tải: 0
tranphuong5053

Đã đăng 6896 tài liệu

Mô tả:

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Với trên 160 năm tồn tại và trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (gọi tắt là Tuyên ngôn) do C.Mác và Ph.Ăng-ghen khởi thảo vẫn luôn là cơ sở lý luận khoa học, ngọn cờ tư tưởng, ngôi sao dẫn đường và kim chỉ nam cho hành động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vẫn rực sáng với tư tưởng vĩ đại của nó - tư tưởng giải phóng các giai cấp và tầng lớp cần lao, và nói rộng ra là giải phóng toàn bộ xã hội, giải phóng loài người khỏi mọi sự áp bức, bất công. Tuyên ngôn, ngay từ lúc ra đời và kể từ đó trở đi, luôn luôn là bản hiệu triệu hào hùng và ngọn cờ chiến đấu đầy khí phách cho tư tưởng vĩ đại ấy. Tuyên ngôn đã trải qua hơn một thế kỷ rưỡi mà vẫn tồn tại, không chỉ như một văn kiện có tính lịch sử mà còn là ngọn đuốc soi đường cho cả hiện tại và tương lai. Dù bất kể ai, bất cứ lúc nào, đứng về phía này hay phía khác, ủng hộ hay phản đối Tuyên ngôn cũng đều phải thừa nhận một sự thật lịch sử không gì có thể chối cãi được. Đó là Tuyên ngôn đã thức tỉnh, tập hợp giai cấp công nhân và những người lao động làm thuê khác thành một lực lượng to lớn chống sự áp bức, bóc lột, giành được những quyền lợi và quyền lực ngày càng quan trọng. Nếu như giữa thế kỷ XIX, chủ nghĩa cộng sản còn là một “bóng ma” ám ảnh châu Âu, như các thế lực của châu Âu cũ từng rêu rao, thì với sự ra đời của Tuyên ngôn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ rằng, cái “bóng ma” ấy đã thực sự trở thành một thế lực cụ thể, và cái thế lực ấy cứ ngày một lớn dần lên, trở thành những phong trào cách mạng hừng hực khí thế, những cuộc cách mạng bùng nổ dữ dội và cả những quyền lực nhà nước được thiết lập trên hành tinh chúng ta. Từ đứa con đầu lòng là Công xã Pa-ri năm 1871, đến sau chiến tranh thế giới thứ nhất, là sự ra đời của Liên Xô nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên, rồi đến sau chiến tranh thế giới thứ hai (tức khoảng 100 năm sau Tuyên ngôn), với thắng lợi của hàng loạt cuộc cách mạng kiểu mới ở cả châu Âu, châu Á và Mỹ La tinh, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống thế giới. Cần phải khẳng định rằng, những tư tưởng của Tuyên ngôn về đảng cộng sản vẫn đang sống và ngày càng sống động hơn theo nhịp tiến lên của nhân loại tiến bộ, của cả xã hội loài người đang vững bước đi vào thế kỷ XXI. Sức mạnh tư duy vạch thời đại của Mác - Ăngghen trong tác phẩm này vẫn được thực tiễn lịch sử toàn thế giới khảo nghiệm và minh chứng rực rỡ trong thời đại ngày nay. Đảng Cộng sản Việt nam – chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, Đảng đại biều trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Sự ra đời của Đảng ta, mặc dù có 1 những yếu tố đặc thù riêng nhưng vẫn đảm bảo các yếu tố cho sự ra đời của một chính Đảng cách mạng của giai cấp công nhân đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa C.Mác-Lênin luôn giữ vị trí nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa C.Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.” Đối với Việt Nam chúng ta hiện nay, đứng trước xu thế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu nhưng nó đòi hỏi chúng ta phải có lý luận cách mạng dẫn đường nhằm đảm bảo cho sự phát triển ấy không đi chệch hướng con đường tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Để đấu tranh với những tư tưởng sai lệch về giá trị quan trọng của lý luận về đảng cộng sản của Tuyên ngôn, giúp Đảng ta vững vàng lập trường tư tưởng của chính Đảng lãnh đạo, trong phạm vi nhỏ hẹp của một tiểu luận, tác giả chỉ đi vào tìm hiểu những tư tưởng về Đảng cộng sản của C.Mác và Ph.Ăngghen qua đề tài: “Tư tưởng của Mác – Ăngghen về Đảng Cộng sản trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản và ý nghĩa của nó trong việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay.” 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài nhằm mục tiêu làm rõ tư tưởng của Mác – Ăngghen về Đảng Cộng sản trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, từ đó vận dụng sáng tạo những tư tưởng đó vào công tác xây dựng Đảng ta trong giai đoạn hiện nay. Để đạt được mục tiêu đó, tác giả xác định cần đạt thực hiện những nhiệm vụ sau: - Làm rõ hoàn cảnh ra đời, tác giả, tác phẩm - Phân tích nội dung cơ bản của C.Mác và Ăngghen về Đảng cộng sản - Rút ra ý nghĩa của vấn đề đối với thực tiễn xây dựng Đảng ở Việt Nam. 3. Phương pháp nghiên cứu Quá trình làm tiểu luận đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu, trong đó chủ đạo là: - Phương pháp luận: Dựa vào những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nhận thức, phân tích, logic lịch sử, nghiên cứu tư liệu, chọn lọc tổng hợp các tư liệu, hệ thống hóa các tri thức. 4. Kết cấu nội dung Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 3 chương và 7 tiết: 2 Chương 1: Khái quát chung về tác giả và tác phẩm Chương 2: Tư tưởng của Mác – Ăngghen về Đảng cộng sản trong tác phẩm “ Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”. Chương 3: Ý nghĩa tư tưởng của Mác – Ăngghen về Đảng cộng sản với việc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay. NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM 1.1. Khái quát về tác giả 1.1.1. C.Mác (1818 – 1883) C. Mác sinh ngày 5 tháng 5 năm 1818 ở thành phố Tơriơ trong gia đình luật sư Heinrich Marx. Năm mười hai tuổi (1830) C. Mác vào học trường trung học ở 3 Tơriơ. Sức học của C. Mác thuộc loại giỏi, đặc biệt C. Mác nổi bật ở những lĩnh vực đòi hỏi tính độc lập sáng tạo. C. Mác cũng tỏ ra có năng lực về toán học. Mùa thu 1835, C. Mác tốt nghiệp trường trung học, sau đó không lâu, tháng mười 1835, C. Mác vào trường đại học tổng hợp Bonn để học luật. Hai tháng sau theo lời khuyên của bố C. Mác tiếp tục học ở trường Đại học Tổng hợp Berlin. ở trường Đại học, năm 1836, ngoài luật học, sử học và ngoại ngữ C. Mác bắt đầu đi sâu nghiên cứu triết học. Mùa xuân 1837, C. Mác bắt đầu nghiên cứu kỹ những tác phẩm của Hê-ghen, sang năm 1839 thì vùi đầu vào nghiên cứu triết học, suốt cả năm 1939 và một phần của năm 1840 C. Mác tập trung nghiên cứu những vấn đề lịch sử triết học Cổ đại. Ngày 15 Tháng Tư 1841, khi mới 23 tuổi, C. Mác nhận được bằng Tiến sĩ triết học với luận án Về sự khác nhau giữa triết học tự nhiên của Démocrite, và triết học tự nhiên của épicure tại trường Iêna. Tháng Năm 1843, C. Mác đến Kroisnak, một thành phố nhỏ vùng Rhein và ông đã chính thức làm lễ thành hôn với Jenny vôn Vestphalen. Lần đầu tiên, C. Mác gặp Ph. Ăng-ghen vào cuối tháng Mười Một 1842, khi Ph. Ăng-ghen trên đường sang Anh và ghé thăm ban biên tập tờ Rheinische Zeitung (Nhật báo tỉnh Ranh). Mùa hè năm 1844, Ph. ăng-ghen đến thăm C. Mác ở Pa-ri. Hai ông đã trở thành những người bạn cùng chung lý tưởng và quan điểm trong tất cả mọi vấn đề lý luận và thực tiễn. Theo yêu cầu của Chính phủ Vương quốc Phổ, Chính phủ Pháp đã trục xuất C. Mác. Ngày 3 tháng Hai 1845, C. Mác rời Pa-ri đến Brussel, ít lâu sau Ph. Ăng-ghen cũng đến đây và hai ông lại tiếp tục cộng tác chặt chẽ với nhau. Sau khi cách mạng năm 1848, ở Pháp nổ ra Chính phủ Bỉ trục xuất C. Mác. Ông lại đến Pa-ri, Tháng tư 1848, C. Mác cùng với Ph. Ăng-ghen đến Kioln, tại đây Mác trở thành Tổng biên tập tờ Nhật báo tỉnh Ranh, cơ quan của phái dân chủ. Năm 1849 Chính phủ Phổ đóng cửa tờ báo và trục xuất C. Mác. Ông lại đến Pa-ri, nhưng lần này ông chỉ lưu lại ba tháng. Tháng Tám 1849, từ Pa-ri C. Mác đi Luân-đôn và sống đến cuối đời (1883). C. Mác qua đời ngày 14 Tháng Ba 1883 ở Luân-đôn. 1.1.2.Ph. Ăngghen ( Friedrich Engels, 1820 – 1895 ) Ph. Ăng-ghen sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 tại Barmen, tỉnh Ranh, Vương quốc Phổ trong một gia đình chủ xưởng dệt. Từ nhỏ Ph. Ăng- ghen đã bộc lộ tính cách độc lập. Những lời dạy bảo nghiêm khắc của cha và những sự đe doạ trừng phạt không thể làm cho ông đi đến chỗ phải phục tùng mù quáng. Cho đến năm 14 tuổi, Ph. Ăng- ghen học ở trường tại thành phố Barmen. Ph. Ăngghen sớm bộc lộ năng khiếu về ngoại ngữ. Tháng Mười 1834, Ph. Ăng- ghen chuyển sang học ở trường trung học Elberfelder, một trường tốt nhất ở Phổ thời bấy giờ. Năm 1837, theo yêu cầu của bố, Ph. Ăng- ghen buộc phải rời bỏ trường 4 trung học khi chưa tốt nghiệp để bắt đầu công việc buôn bán ở văn phòng của bố ông. Trong thời gian này ông tự học các ngành sử học, triết học, văn học, ngôn ngữ và thơ ca. Tháng 6 năm 1838, Ph. Ăng- ghen đến làm việc tại văn phòng thương mại ở thành phố cảng Barmen. Cuối năm 1839 Ph. Ăng- ghen bắt tay vào nghiên cứu các tác phẩm của Hê- ghen. Tháng 9- 1841, Ph. Ăng- ghen đến Berlin và gia nhập binh đoàn pháo binh ở đây ông được huấn luyện quân sự mà trong những năm sau, ông rất cần đến nó, nhưng ông vẫn lui tới trường Đại học tổng hợp Berlin nghe các bài giảng triết học, tham gia hội thảo về lịch sử tôn giáo. Mùa xuân 1842, Ph. Ăng- ghen bắt đầu cộng tác với tờ Rheinische Zeitung (Nhật báo tỉnh Ranh). Trong những bài báo in năm 1842, trên tờ báo Ph. Ăng- ghen đã lên tiếng phản kháng chế độ kiểm duyệt của Chính phủ Vương quốc Phổ, trật tự phong kiến ở Đức. Ngày 8 tháng 10 năm 1842, Ph. Ăng- ghen mãn hạn phục vụ trong quân đội. Từ Berlin ông trở về Barmen, một tháng sau, Ph. Ăng- ghen sang Anh thực tập buôn bán. Trên đường sang Anh, Ph. Ăng- ghen đã thăm trụ sở tờ báo Rheinische Zeitung ở Kioln và ông đã gặp C. Mác, Tổng biên tập tờ báo. Ông đã ở lại Anh hai năm. Bài báo Tình cảnh của giai cấp công nhân ở Anh (1842) cùng với những bài báo khác của Ph. Ăng- ghen viết ra năm đó đã phân tích rõ sự phân chia xã hội thành ba giai cấp cơ bản: giai cấp quý tộc chiếm hữu ruộng đất, giai cấp tư sản công nghiệp và giai cấp vô sản. Ph. Ăng- ghen tham gia viết bài cho tờ tạp chí Niên giám Pháp - Đức (tháng 21844). Các bài báo này đề cập đến việc áp dụng phương pháp biện chứng vào việc phân tích các quan hệ kinh tế của xã hội tư sản. Tác phẩm Những phác thảo phê phán môn kinh tế chính trị học của Ph. Ăngghen đã chỉ rõ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là cơ sở của toàn bộ sinh hoạt vật chất và tinh thần của xã hội tư sản. Tháng 2-1845, cuốn sách Gia đình và Thần thánh của C. Mác và Ph. Ăng-ghen ra đời đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm và phương pháp của nó, nêu luận điểm về vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Hai ông cùng hợp sức viết công trình nổi tiếng Hệ tư tưởng Đức (1845-1846), phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa duy tâm của Hê- ghen và phái Hê- ghen trẻ đồng thời phê phán chủ nghĩa duy vật không nhất quán của Ludvich Phoiơbach nêu ra những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tiếp đó năm 1848, Đại hội II Liên đoàn những người cộng sản đã uỷ nhiệm C. Mác và Ph. Ăng- ghen cùng viết Tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Trong thời gian sống ở Pa-ri, Ph. Ăng-ghen quan tâm nhiều đến hoạt động của BCH Trung ương Liên đoàn những người cộng sản và trở thành Uỷ viên của Ban lãnh đạo và là một trong những lãnh đạo Câu lạc bộ công nhân Đức 5 (Tháng3-1848) do BCH Trung ương LĐNNCS lập ra. Tháng 3- 1848, cùng với C. Mác , Ph. Ăng-ghen thảo ra Những yêu sách của Đảng cộng sản Đức được BCH Trung ương LĐNNCS thông qua như là văn kiện có tính chất cương lĩnh cho hành động của giai cấp vô sản Đức. Tháng 4-1848 ông cùng với C. Mác trở về Đức tham gia cuộc cách mạng Đức. Ngày 20 tháng 5/1848 Ph. Ăng-ghen đến cùng với C. Mác chuẩn bị xuất bản tờ Neue Rheinische Zeitung. Ph. Ăng-ghen tham gia viết các bài xã luận, bài điểm tình hình chính trị. Tháng 10/1848 ông đi Bỉ để tránh lệnh truy nã của chính quyền Phổ nhưng ông không được phép cư trú chính trị. Ph. Ăng- ghen lại đến Paris sau đó sang Thuỵ Sĩ tham gia Đại hội các liên đoàn công nhân Đức, ông được bầu vào Uỷ ban trung ương của tổ chức này. Tháng giêng năm 1849 ông trở về Đức tiếp tục hoạt động cách mạng. Khi cuộc đấu tranh bùng nổ ở Tây và Nam nước Đức (tháng 5/1849) Ph. Ăng-ghen đã vạch ra một kế hoạch hoạt động quân sự, thành lập quân đội cách mạng tiến hành cuộc khởi nghĩa. Ngày 10/5/1849, Ph. Ăng- ghen đến Elberfeld và được sung vào Ban quân sự. Ăng-ghen đưa ra một kế hoạch để triển khai cuộc đấu tranh cách mạng dấy lên thành phong trào toàn nước Đức. Trong thời kỳ này, ông tham gia trực tiếp bốn trận đánh lớn, trong đó có trận Rastatt. Sau này Ph. Ăngghen đã viết trước tác Luận văn quân sự nổi tiếng. Tháng 11/1849, Ph. Ăng- ghen đến Luân đôn và được bổ sung vào BCH Trung ương Liên đoàn Những người cộng sản mà C. Mác đã cải tổ sau khi đến đây. Ph. Ăng-ghen sống ở Luân- đôn một năm, trong thời gian đó ông đã viết các tác phẩm Cách mạng và phản cách mạng ở Đức, Cuộc chiến tranh nông dân ở Đức. Tháng 11-1850, Ph. Ăng-ghen buộc phải chuyển dến Manchester vàn lại bắt đầu làm việc ở Văn phòng thương mại. Điều này tạo điều kiện cho Ăng-ghen có thể giúp đỡ về vật chất cho C. Mác hoạt động cách mạng. Ph. Ăng-ghen đặc biệt chú ý nghiên cứu các môn khoa học tự nhiên, môn quân sự, chính sách quốc tế. Cùng với C. Mác, Ph. Ăng-ghen tham gia lãnh đạo Quốc tế cộng sản I. Tháng 91870, Ph. Ăng-ghen đến Luân Đôn và được đưa vào tổng hội đồng của quốc tế cộng sản I. Ph. Ăng- ghen kiên trì đấu tranh chống lại quan điểm cơ hội của phái Bakunin, Proudhon, Lassalle. Năm 1871, Ph. Ăng- ghen tham gia vào việc tổ chức chiến dịch bảo vệ công xã Pari. Trong thời gian này, Ph. Ăng-ghen đã viết một số tác phẩm có giá trị lý luận, đặc biệt là cuốn Chống Đuy-rinh (1818) góp phần to lớn cho việc hoàn thiện lý luận cho chủ nghĩa C. Mác. Sau khi C. Mác qua đời (1883), Ph. Ăng-ghen là người lãnh đạo tổ chức những người theo chủ nghĩa xã hội ở châu Âu, chuẩn bị cho in tập 2 và 3 của bộ Tư bản mà C. Mác 6 chưa kịp hoàn thành. Ph. Ăng-ghen viết nhiều tác phẩm nổi tiếng vào những năm cuối đời: Nguồn gốc gia đình, Chế độ tư hữu và Nhà nước (1884), Lút-vích Phơbách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức (1866), Biện chứng tự nhiên, Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức (1894). 1.2. Khái quát về tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” 1.2.1. Hoàn cảnh ra đời Giữa thế kỷ thứ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã đạt tới trình độ phát triển: đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa đã phát triển ở một số nước châu Âu. Cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp vô sản hiện đại ra đời và sớm bước lên vũ đài đấu tranh chống lại giai cấp tư sản. Trong những năm 30 và 40 của thế kỷ XIX, ở một số nước tư bản phát triển, giai cấp vô sản đã vùng lên đấu tranh chống lại giai cấp tư sản đòi thực hiện những yêu sách của mình cả về kinh tế lẫn chính trị. Tiêu biểu cho sự phát triển của phong trào vô sản là những cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt ở thành phố Lyông (Pháp) năm 1837; cuộc nổi dậy của công nhân dệt vùng Xilêdi (Đức) năm 1844; phong trào hiến chương ở Anh kéo dài 10 năm (1838 - 1848). Sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản đòi hỏi một cách bức thiết phải có một hệ thống lý luận soi đường và một cương lĩnh chính trị làm kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1847, Đại hội lần thứ hai Liên đoàn những người cộng sản đã thảo luận và thông qua những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản do Mác và Ăng ghen trình bày. Trên cơ sở sự nhất trí ấy, C.Mác và Ph.Ăngghen được Đại hội ủy nhiệm thảo ra bản tuyên ngôn chính thức. Trong Lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888, Ăngghen khẳng định lại Tuyên ngôn là Cương lĩnh của Liên đoàn những người cộng sản. “Tại Đại hội của Liên đoàn họp ở Luân Đôn tháng 11-1847, Mác và Ăngghen được giao nhiệm vụ khởi thảo một cương lĩnh lý luận và thực tiễn của Đảng, có đầy đủ chi tiết, để đưa ra công bố. Công việc đó đã được hoàn thành vào tháng giêng 1848; bản thảo viết bằng tiếng Đức đã được gửi tới Luân Đôn để in, vài tuần trước khi Cách mạng 24-2 nổ ra tại Pháp.” (3,551) Tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng sản do C.Mác và Ph.Ăngghen soạn thảo vào cuối năm 1847 và được xuất bản vào ngày 21 tháng 2 năm 1848. Mục đích của tác phẩm như C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Hiện nay, đã đến lúc những người cộng sản phải công khai trình bày trước toàn thế giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình; và phải có một Tuyên ngôn của Đảng của mình để đập lại câu chuyện hoang đường về bóng ma cộng sản.” (3, 539) 7 Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là tác phẩm vừa mang tính lý luận khao học, vừa là cương lĩnh cách mạng đầu tiên của những người Cộng sản, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Tác phẩm này ra đời đã đáp ứng được yêu cầu về mặt lý luận khoa học, soi sáng con đường đấu tranh của cách mạng vô sản trước đó. Nó ra đời nhằm đập tan những chuyện hư truyền của giai cấp tư sản về “bóng ma cộng sản” . Nó công khai trình bầy trước toàn thế giới những đặc điểm, mục đích, ý đồ của những người cộng sản. Nói cách khác nó là lời tuyên chiến với giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản. Việc công bố Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cũng là thông báo về sự ra đời của một học thuyết cách mạng, một thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người thực hiện được cuộc cách mạng tư tưởng với đỉnh cao của trí tuệ khám phá và hệ thống hóa những quy luật vận động của giới tự nhiên, xã hội và tư duy của con người. Toàn bộ thành tựu trí tuệ của loài người đã được tổng kết, khái quát. 1.2.2. Kết cấu và nội dung cơ bản của tác phẩm Ngoài 7 lời tựa được viết bằng nhiều thứ tiếng khác nhau như: tiếng Nga, Ba Lan, Đức, Anh, Ý, nội dung Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được C.Mác và Ph. Ănghen trình bày thành 4 chương. - Chương I. Tư sản và vô sản: Mác – Ăngghen luận giải làm rõ sứ mệnh lịch sử và vai trò của giai cấp vô sản. - Chương II. Những người vô sản và những người Cộng sản: Thể hiện mối quan hệ giữa Đảng cộng sản với giai cấp công nhân, qua đó để xác định nhiệm vụ của Đảng cộng sản và những biện pháp để thực hiện nhiệm vụ ấy, đồng thời chống lại sự vụ khống của giai cấp tư sản đối với Đảng cộng sản. - Chương III.Văn học xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa: Mác – Ăngghen phân biệt chủ nghĩa xã hội khoa học với các trào lưu chủ nghĩa xã hội khác. - Chương IV. Thái độ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập: Mác đã trình bày, làm rõ những tư tưởng cách mạng không ngừng; tinh thần cách mạng triệt để, liên minh giai cấp, sự đoàn kết, đấu tranh của những người cộng sản đối với các đảng phái dân chủ trong cuộc đấu tranh chống các thế lực phản động đương thời. C.Mác và Ănghen đã trình bày rõ: “Lịch sử tất cả các xã hội cho đến ngày nay, chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp.” (3,551). Đến xã hội Tư bản hiện đại xã hội cũng phân chia thành nhiều giai cấp trong đó có 2 giai cấp cơ bản đối kháng đó là 8 giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Nội dung cơ bản của lịch sử xã hội hiện đại là cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Cuộc đấu tranh đó đưa tới sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa Tư bản và sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản. Trong sự vận động của quy luật ấy C.Mác và Ph.Ănghen đã đánh giá rất cao vai trò của giai cấp tư sản khi nó còn giữ vị trí là giai cấp tiến bộ lật đổ chế độ phong kiến đã lỗi thời : “Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại.”(3, 547). Đồng thời Tuyên ngôn cũng chỉ rõ quy luật vận động tất yếu của xã hội loài người là cái cách mạng, cái tiến bộ nhất định sẽ thay thế cái lạc hậu không ai có thể cưỡng lại cũng như sự thắng lợi của chế độ Tư bản chủ nghĩa đối với chế độ phong kiến đó là: “Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những bức vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục”. Vốn có bản chất là giai cấp tư hữu và bóc lột nên vai trò cách mạng của giai cấp tư sản bị hạn chế ngay từ đầu, giai cấp tư sản chỉ làm đơn giản hóa giai cấp và đối kháng giai cấp mà thôi. “Những vũ khí mà giai cấp tư sản dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản”. “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí giết mình, nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy - những công nhân hiện đại, những người vô sản”. Tuyên ngôn cộng sản đã chỉ cho giai cấp vô sản thấy rõ sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình là người đào huyệt chôn chủ nghĩa Tư bản và sáng tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn. Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp vô sản do vị trí kinh tế - xã hội của giai cấp vô sản trong lịch sử quy định. 1.2.3.Ý nghĩa của tác phẩm Trong các tác phẩm kinh điển của Mác-Ăngghen, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là một trong những văn kiện đến Việt Nam sớm nhất. Hồ Chí Minh viết: Lý luận và lịch sử cách mệnh có nhiều sách lắm. Pháp nó sợ nên cấm chúng ta học, cấm chúng ta xem. Cuốn sách đáng sợ nhất đối với bọn thống trị thực dân chính là Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Tuyên ngôn là chân lý cách mạng sáng ngời định hướng đúng đắn cho sự nghiệp giải phóng của nhân dân ta. Tuyên ngôn là độc lập tự do, Tuyên ngôn là Chủ nghĩa xã hội. Con đường Tuyên ngôn là con đường đấu tranh cách mạng chứ không phải là con đường cải lương, ảo tưởng. 9 Cách mạng Việt Nam càng phát triển đi lên càng khẳng định những nguyên lý cơ bản của Tuyên ngôn. Tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa Mác-Ăngghen nói chung, của Tuyên ngôn nói riêng luôn là ánh sáng soi đường cho cách mạng Việt Nam. Trong Lời tựa viết cho bản tiếng Anh xuất bản năm 1888, Ph. Ăngghen có viết: “Hiện nay, hiển nhiên đó là tác phẩm phổ biến hơn cả, có tính chất quốc tế hơn cả trong tất cả các văn phẩm xã hội chủ nghĩa, đó là cương lĩnh được thừa nhận bởi hàng triệu công nhân từ Xi-bia đến California.”(3, 514). Lần đầu tiên tác phẩm của hai ông đã hệ thống hóa những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác dưới dạng cô đọng nhất, thể hiện đầy đủ thế giới quan duy vật biện chứng và các luận thuyết cơ bản về chủ nghĩa tư bản, về chủ nghĩa xã hội khoa học, kinh tế - chính trị học, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, lý luận về Đảng,… Bao trùm lên toàn bộ tác phẩm, Mác-Ăngghen đã nêu rõ sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản,vạch ra những tất yếu của cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản, vai trò Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản. Tuyên ngôn còn đề cập đến nhiều khía cạnh khác trong lĩnh vực xã hội, nhất là các vấn đề giáo dục, gia đình, quan hệ giữa thành thị - nông thôn… Tuyên ngôn ra đời đánh dấu sự thắng lợi của việc kết hợp chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân và phong trào cách mạng của giai cấp vô sản. Với vị trí quan trọng và nội dung phong phú như vậy, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản có sức thuyết phục, cổ vũ hàng triệu, triệu người người bị áp bức, bóc lột trên trái đất này đứng lên tự giải phóng; xứng đáng là áng “thiên cổ hùng văn” đối với giai cấp vô sản. Từ khi Tuyên ngôn ra đời đến nay, đã 164 năm với nhiều biến cố trong lịch sử song nó vẫn khẳng định được những giá trị bền vững của các nguyên lý đã được nêu ra trong tác phẩm. Nó vẫn được các Đảng Cộng sản vận dụng sáng tạo trong thực tiễn cách mạng. 10 Chương 2 TƯ TƯỞNG CỦA MÁC – ĂNGGHEN VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN TRONG TÁC PHẨM “TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN” 2.1. Khái niệm về Đảng Cộng sản Tuyên ngôn trình bày mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản và giai câp vô sản, những người Cộng sản và giai cấp vô sản: “họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản”(3,557) Khái niệm về Đảng trong Tuyên ngôn được hiểu như sau: Đảng là đội tiền phong, là bộ phận giác ngộ nhất của giai câp vô sản. Mác-Ăngghen nêu rõ: “Về mặt thực tiễn, những người Cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các Đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn thúc đẩy phong trào tiến lên, về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình là kết quả chung của phong trão vô sản.”(3, 558) Sự hình thành của Đảng bắt nguồn từ sự liên hợp của những người vô sản thành các đoàn thể, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh. Tuyên ngôn cho rằng sự ra đời của chính Đảng vô sản là một tất yếu khách quan phù hợp với quy luật đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. “ Sự tổ chức như vậy của những người vô sản thành giai cấp và do đó thành chính Đảng, luôn luôn bị sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau phá vỡ. Nhưng nó luôn luôn được tái lập và luôn luôn mạnh mẽ hơn, vững chắc hơn, hùng mạnh hơn.”(4, 609) 2.2. Mối liên hệ giữa Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân  Mác và Ăngghen chỉ ra Đảng cộng sản là một bộ phận không thể tách rời giai cấp vô sản, vì vậy, mục đích và lợi ích của Đảng cộng sản và giai cấp vô sản là thống nhất cả về mặt lý luận và thực tiễn . 11 Mác-Ăngghen khẳng định: “Những người Cộng sản không phải là một Đảng riêng biệt đối lập với các Đảng công nhân khác. Họ tuyệt nhiên không có một lợi ích nào tách khỏi lợi ích của toàn thể giai cấp vô sản.”(3, 557). Quan niệm của Mác – Ăngghen về những người vô sản và Đảng cộng sản là thống nhất với nhau.  Đảng cộng sản là lực lượng đại biểu cho quyền lợi của giai cấp vô sản cũng như của nhân dân lao động, nó cũng đại diện cho lợi ích chung của toàn bộ phong trào cộng sản, của toàn giai cấp công nhân trên thế giới không phân biệt ngành nghề, địa phương và dân tộc .Vì thế, Đảng cộng sản không những mang tính chất của giai cấp vô sản mà còn mang bản chất quốc tế. Đảng Cộng sản là Đảng của giai cấp công nhân. Đảng là người đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Đảng luôn công khai mục tiêu đấu tranh của mình là: lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giành chính quyền về tay giai cấp công nhân. Vì vậy Đảng cộng sản mang bản chất của giai cấp công nhân.  Tuyên ngôn của Đảng cộng sản khẳng định sự thống nhất về mục đích và lợi ích của Đảng cộng sản và giai cấp công nhân không có nghĩa Đảng cộng sản và giai cấp công nhân là một. Đảng cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân nhưng không có nghĩa là Đảng phải là toàn bộ giai cấp công nhân. Đảng cộng sản là một bộ phận của giai cấp công nhân. Tính độc lập của Đảng là đặc trưng, dấu hiệu và là điều kiện cơ bản khẳng định giai cấp công nhân là một lực lượng chính trị độc lập, tồn tại với tư cách một giai cấp. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản không phải là một tổ chức biệt lập mà là bộ phận tiên phong của giai cấp công nhân, gắn bó mật thiết với giai câp công nhân, mang hệ tư tưởng của giai cấp vô sản. Đảng Cộng sản là tổ chức có mục đích, nhiệm vụ rõ ràng. Mác và Ăngghen cho rằng việc tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và giành lấy chính quyền, đó là mục đích trước mắt của những người Cộng sản và của tất cả các Đảng với nhau. Mục đích cuối cùng của họ là xây dựng chủ nghĩa cộng sản mà trong đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Đảng có cương lĩnh chính trị, có chiến lược, sách lược cách mạng. Tuyên ngôn tuyên bố rằng đã đến lúc những người Cộng sản phải công khai trình bày trước toàn thế giới những quan điểm, mục đích, ý đồ của mình và phải có một 12 Tuyên ngôn của Đảng của mình. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản là cương lĩnh chính trị của Đảng vô sản, trong đó trình bày quan điểm, mục đích, nhiệm vụ, chiến lược, và sách lược của Đảng. Đảng Cộng sản là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân. Tuyên ngôn khẳng định Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản, là lãnh tụ chính trị, là bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp vô sản. Tính tiên phong , độc lập ấy được thể hiện toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức.  Về mặt chính trị, Đảng phải kiên định với mục tiêu, lý tưởng, đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, xác định đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, kịp thời, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, trong từng điều kiện lịch sử cụ thể, để lãnh đạo cách mạng vô sản đi tới thắng lợi.  Về tư tưởng: Đảng được vũ trang bằng hệ tư tưởng Cộng sản chủ nghĩa. Đảng có lý luận soi đường cho hoạt động của mình. Lý luận đó không phải là giáo điều mà là những nguyên lý được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn. Tuyên ngôn nêu rõ: “ Những người Cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu.”(3, 559) trên lĩnh vực tư tưởng, Đảng có nhiệm vụ truyền bá chủ nghĩa xã hội khoa học, nâng cao trình độ giác ngộ của giai cấp công nhân, phấn đấu chống sự ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng phi vô sản, bảo vệ hệ tư tưởng vô sản về tổ chức, Đảng là một chính thể có tổ chức, là một khối thống nhất ý chí và hành động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, kỷ luật tự giác nghiêm minh. Tuyên ngôn thể hiện rõ nguyên tắc tổ chức Đảng là Đảng Cộng sản được xây dựng từ đội ngũ đảng viên, là những người vô sản cách mạng nhất cả trong hành động và trong nhận thức. Tuân thủ nguyên tắc này mới đảm bảo cho Đảng trở thành đội tiên phong của giai cấp công nhân. Trong sinh hoạt Đảng, Đảng tuân thủ các nguyên tắc phê bình và tự phê bình, nguyên tắc công khai. Đảng có cơ cấu tổ chức phù hợp với điều kiện và nhiệm vụ của từng thời kỳ hoạt động. Lý luận về tính tiên phong của Đảng Cộng sản là cơ sở khoa học quan trọng để những người Cộng sản vận dụng vào công tác xây dựng Đảng trên cả hai phương diện: tiên phong về lý luận và tiên phong về thực tiễn. Về lý luận, Đảng và các đảng viên của Đảng phải được trang bị lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học, nắm vững thế giới quan duy vật biện chứng, nhận thức đúng vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Về thực tiễn, Đảng phải biết vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo lý luận khoa học để phân tích, đánh giá đúng tình hình, đề ra 13 chủ trương, biện pháp phù hợp, lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi. Đồng thời Đảng phải là người tổ chức, tập hợp lực lượng, phát huy sức mạnh của nhân dân, sức mạnh của dân tộc và thời đại để thực hiện chủ trương đường lối của Đảng. Là đội tiên phong của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản tập hợp trong mình những phấn tử ưu tú nhất, cách mạng nhất trong giai cấp công nhân và các tấng lớp nhân dân lao động. Tính tiên phong của Đảng thể hiện trên hai mặt: Tiên phong về lý luận và tiên phong trong hoạt động thực tiễn. - Về mặt lý luận Đảng có ưu thế hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ họ có nhận thức sáng suốt về điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản. - Về mặt thực tiễn, Đảng là bộ phận kiên quyết nhất, tiên phong nhất trong phong trào công nhân. Điều này đã được C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Vậy là về mặt thực tiễn, những người công sản là vộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận cổ vũ các bộ phận khác; về mặt lý luận họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản” (3, 558) 2.3. Mục đích, nhiệm vụ của Đảng Cộng sản Tuyên ngôn đã chỉ rõ mục đích của những người Cộng sản bao gồm mục đích trước mắt và mục đích cuối cùng, trong đó mục đích cuối cùng của những người Cộng sản là phải thực hiện chủ nghĩa Cộng sản trên toàn thế giới: “Theo ý nghĩa đó, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành công thức duy nhất này là : xóa bỏ chế độ tư hữu”(3, 559) Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, nhiệm vụ trước hết của Đảng là: tổ chức những người cộng sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền. Mục tiêu trước mắt của Đảng cũng giống như mục tiêu trước mắt của các đảng công nhân khác là lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản giành lấy chính quyền cho giai cấp vô sản: “Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác; tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền”.(3,558) 14 Nhưng mục tiêu đấu tranh của Đảng không chỉ là làm thay đổi chế độ tư hữu, mà mục tiêu cuối cùng của Đảng là thủ tiêu chế độ đó, không phải là xoá nhoà các mâu thuẫn giai cấp, mà là thủ tiêu các giai cấp, không phải hoàn thiện xã hội hiện tồn, mà là xây dựng một xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa: “Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phái là xoá bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xoá bỏ chế độ sở hữu tư sản… (3,558) và “Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dủng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác.” (3, 562) Trong khi hợp tác với các đảng đối lập vì mục tiêu trước mắt, những người cộng sản không bao giờ được quên mục đích cuối cùng của mình là lật đổ giai cấp tư sản, giành lấy chính quyền về tay giai cấp vô sản: “Nhưng không giờ phút nào, Đảng cộng sản lại quên gây cho công nhân một ý thức sáng suốt và rõ rệt về sự đối kháng kịch liệt giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, để khi có thời cơ thì có bao nhiêu điều kiện chính trị và xã hội do chế độ tư sản tạo ra, công nhân Đức biết đổi thành bấy nhiêu vũ khí chống lại giai cấp tư sản, để nguy sau khi diệt xong những giai cấp phản động ở Đức, là có thể tiến hành đấu tranh chống lại chính ngay giai cấp tư sản” (3,585) Như vậy, theo C.Mác và Ăngghen trong cuộc đấu tranh của mình, để giành được thắng lợi, giai cấp vô sản phải liên minh với các giai cấp khác và thậm chí có thể phải hợp tác cả với những đảng khối lập vì những quyền lợi trước mắt của giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giai cấp tư sản các nước đã liên kết lại với nhau để chống lại giai cấp vô sản. Vì vậy giai cấp vô sản phải đoàn kết lại: “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại !” (3, 586). Chương 3 Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG CỦA MÁC – ĂNGGHEN VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1. Đảng cộng sản Việt Nam 3.1.1. Khái quát sự ra đời 15 Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu dài, gian khổ, dân tộc ta sớm hình thành truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần đấu tranh anh dung, bất khuất. Vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống lại chúng. Từ năm 1958 đến trước năm 1930, hàng trăm phong trào, cuộc khởi nghĩa oanh liệt chống thực dân Pháp đã nổ ra theo nhiều hướng khác nhau, dưới ngọn cờ của các sĩ phu và các nhà yêu nước đương thời,như khởi nghĩa của Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, phong trào Cần Vương, phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa thục, Duy Tân, các cuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học…lãnh đạo. Các cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh đó vô cùng anh dung, nhưng đều thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp tàn bạo. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến thất bại của các phong trào đấu tranh là do những người đứng đầu các cuộc khởi nghĩa, các phong trào chưa tìm được con đường cứu nước phản ánh đúng nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam. Cách mạng nước ta đứng trước sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước. Việc tìm một con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc và thời đại là nhu cầu bức thiết nhất của dân tộc ta lúc bấy giờ. Giữa lúc cách mạng Việt Nam đang chìm trong cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước. Bước ngoặt lớn trong tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc diễn ra khi Người đọc toàn văn: Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Người hiểu sâu sắc những vấn đề cơ bản của đường lối giải phóng dân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc, gắn cách mạng giải phóng dân tộc từng nước với phong trào cách mạng vô sản thế giới. Từ đây Người dứt khoát đi theo con đường cách mạng của Lênin. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường đúng đắn giải phóng dân tộc Việt Nam. Trở thành chiến sĩ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia hoạt động trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tích cực vận động phong trào cách 16 mạng thuộc địa, nghiên cứu và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam. Tháng 12-1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu Trung Quốc trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ nghĩa Mác-Lênin và những tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam đón nhận như "người đi đường đang khát mà có nước uống, đang đói mà có cơm ăn". Nó lôi cuốn những người yêu nước Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhiều tầng lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo. Chỉ trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được tuyên bố thành lập: Ở Bắc Kỳ có Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929).Ở Nam Kỳ có An Nam Cộng sản Đảng (7-1929). Ở Trung Kỳ có Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (9-1929). Điều đó phản ánh xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam. Song, sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức thiết của cách mạng là cần có một đảng thống nhất lãnh đạo. Nguyễn Ái Quốc, người chién sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, người duy nhất có đủ năng lực và uy tín đáp ứng nhu cầu đó của lịch sử: thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam. Từ ngày 3 đến 7-2-1930, Hội nghi hợp nhất ba tổ chức cộng sản họp tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị nhất trí thành lập đảng thống nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng, Điều lệ tóm tắt của các hội quần chúng. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử như là một Đại hội thành lập Đảng. Đảng được thành lập là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và là kết quả của quá trình chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ cách mạng, đứng đầu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Đó là một mốc lớn đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn chứng tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng. 17 Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn liền với tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta. Ngày 3/2/1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đó là kết quả của sự chuẩn bị đầy đủ về tư tưởng, chính trị và tổ chức; của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta; là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự ra đời của Đảng đáp ứng nhu cầu lịch sử của đất nước ta, phù hợp với xã thế phát triển của thời đại. 3.1.2. Vai trò, vị trí, mục đích, nhiệm vụ của Đảng Cộng sản Việt Nam Điều 4 của Hiến pháp Việt Nam (1992, sửa đổi) khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng lên Nhà nước và xã hội: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.”(7, 14) Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được những thắng lợi rất vẻ vang , mở ra kỷ nguyên mới trong sự nghiệp phát triển của dân tộc ta: kỷ nguyên độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội.Thắng lợi của cách mạng Việt Nam do nhiều nhân tố tạo nên, song nhân tố chủ yếu nhất là sự lãnh đạo của Đảng. Ngay từ khi vận động thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc- người sáng lập Đảng ta - đã thấy phải có đảng cách mạng và đảng có vững thì cách mạng mới thành công. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (nǎm 1930) ghi rõ: "Điều cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng là cần phải có một Đảng cộng sản có một đường lối chính trị đúng, có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng và từng trải trong đấu tranh mà trưởng thành". Trải qua hơn nửa thế kỷ hoạt động, Đảng ta ngày càng nhận thức sâu sắc tính đúng đắn của luận điểm nói trên. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tổng kết quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng, đã nêu lên một bài học cơ bản: Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam. 18 Nghiên cứu kinh nghiệm về sự lãnh đạo và xây dựng đảng của Đảng ta là việc làm thiết thực, trọng yếu, bảo đảm cho cách mạng phát triển vững chắc, nhằm thực hiện mục tiêu: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam - người duy nhất giữ vai trò lãnh đạo cách mạng từ nǎm 1930 Ngày 3-2-1930, lịch sử Việt Nam diễn ra một sự kiện trọng đại: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đảng ta ra đời là kết quả của sự chuẩn bị đầy đủ về chính trị, tư tưởng và tổ chức của đồng chí Nguyễn ái Quốc và các đồng chí tiền bối của Đảng. Đồng chí Nguyễn ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền bá vào Việt Nam. Người đã kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước để tổ chức ra Đảng ta. Người đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin, đề ra đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, vạch ra cương lĩnh cách mạng của Đảng một cách đúng đắn ngay từ đầu. Nhờ đó mà Đảng sớm trở thành một lực lượng chính trị vững mạnh và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Hơn 80 nǎm qua, lịch sử Việt Nam ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Vai trò đó không ngừng được mở rộng và nâng cao, vượt qua mọi sự chống phá của kẻ thù và sự tranh chấp của những thế lực đối lập. Việc Đảng ra đời và xác lập vai trò lãnh đạo cách mạng là điều tất yếu, khách quan, phù hợp với quy luật của thời đại và điều kiện hiện thực của Việt Nam. Sự phù hợp với quy luật của thời đại được chứng minh bởi vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà đội tiên phong của nó là Đảng MácLênin. Còn điều kiện hiện thực của Việt Nam được nhận thức qua phân tích tính chất, đặc điểm xã hội Việt Nam; tình hình và thái độ các giai cấp, tầng lớp xã hội; từ đó thấy những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội và đòi hỏi khách quan của lịch sử đối với giai cấp công nhân Việt Nam và Đảng - đội tiên phong của giai cấp. Sự lãnh đạo của Đảng - nguồn gốc thành công của công cuộc giải phóng dân tộc Lịch sử Việt Nam ghi nhận: từ khi thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta đã liên tiếp diễn ra nhiều cuộc đấu tranh yêu nước, song tất cả đều thất bại. Khi Đảng ta ra đời, dân tộc ta vẫn đứng trước một nhiệm vụ lịch sử to lớn: 19 tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành lại nền độc lập của đất nước. Cách mạng tháng Tám nǎm 1945 là thành quả đầu tiên của cuộc đấu tranh đó, đã lật đổ ách thống trị đế quốc, phátxít cấu kết với giai cấp địa chủ phong kiến, thiết lập chế độ cộng hoà dân chủ. Tiếp đó là thắng lợi của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Bắc sau đó giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập dân tộc và dân chủ. Công cuộc giải phóng dân tộc được hoàn thành triệt để từ sau thắng lợi mùa Xuân nǎm 1975 được bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta. Trước thực tế lịch sử hiển nhiên đó, mà vẫn có người cố tình phủ nhận hoặc hạ thấp ý nghĩa, vai trò của Đảng đối với những thắng lợi của dân tộc Việt Nam thì là điều phi lý. Và thực tế lịch sử đó cũng đã bác bỏ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch. - Cách mạng Tháng Tám thắng lợi do có những điều kiện khách quan thuận lợi, song nếu thiếu những điều kiện chủ quan, nhất là thiếu sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, thì cách mạng không thể thành công. Đảng đã lãnh đạo việc chuẩn bị khởi nghĩa một cách chu đáo, đồng thời nắm vững thời cơ lịch sử để phát động Tổng khởi nghĩa trong những ngày tháng tám. Đó là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám nǎm 1945. - Kháng chiến chống thực dân Pháp thành công, trước hết do Đảng đề ra và nắm vững đường lối chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài. Đảng lại giải quyết đúng hàng loạt vấn đề trọng yếu: xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, thực hiện từng bước vấn đề ruộng đất cho nông dân, chǎm lo phát triển sản xuất trong kháng chiến, xây dựng hậu phương, phục vụ kháng chiến, công tác vùng địch tạm chiếm, v.v.. - Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là cuộc đụng đầu lịch sử, một thử thách lớn đối với Đảng và dân tộc Việt Nam. Đảng đã khéo kết hợp sức mạnh của hai miền Nam - Bắc, sức mạnh của dân tộc ta với sức mạnh của thời đại. Đường lối chính trị, quân sự đúng đắn và phương pháp cách mạng sáng tạo do Đảng đề ra, không những đã tránh cho dân tộc bị mất nước, làm nô lệ, mà còn giành thắng lợi vẻ vang, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Vai trò của Đảng trong điều kiện lãnh đạo chính quyền, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa Tiếp tục sự nghiệp và truyền thống của Đảng đã giữ vai trò lãnh đạo cách 20
- Xem thêm -